Tạp chí tiêu điểm

Tạp chí tiêu điểm

By RFI Tiếng Việt
Download on the App Store

Tạp chí tiêu điểm episodes

  • Vì sao Mỹ và Iran khẩn cấp mở đàm phán về hạt nhân?

    Ngày 12/04/2025 vừa qua, tức hơn hai tháng kể từ khi Donald Trump trở lại nắm quyền, Iran và Mỹ quyết định nối lại đàm phán để tìm cách đạt được thỏa thuận về một loạt các vấn đề đang khiến căng thẳng song phương có thể biến thành chiến tranh, trong đó căn bản nhất là chương trình hạt nhân quân sự của Iran. Vì sao Mỹ và Iran nhanh chóng nối lại đàm phán ?

    Đây là lần đầu tiên Mỹ và Iran khởi sự đàm phán kể từ năm 2018, tức là từ khi nước Mỹ - trong nhiệm kỳ Donald Trump đầu tiên - đơn phương rút hỏi Hiệp định về hạt nhân Iran, gọi tắt là JCPOA, ký kết năm 2015 giữa Iran và sáu cường quốc (Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc và Nga), với nội dung chủ yếu là dỡ bỏ các trừng phạt quốc tế đổi lấy việc Iran ngừng chương trình phát triển hạt nhân quân sự.

    Đàm phán vừa được mở lại thông qua trung gian của quốc gia vùng Trung Cận Đông Oman, do Mỹ và Iran đã cắt đứt quan hệ ngoại giao từ 45 năm nay sau cuộc cách mạng Hồi Giáo. Quan điểm của lãnh tụ tối cao Iran là bác bỏ việc đàm phán trực tiếp với Mỹ.

    Chương trình tên lửa đạn đạo, hay chính sách của Iran đối với các lực lượng vũ trang thân Teheran trong khu vực, mà Mỹ và Israel lo ngại được Iran sử dụng để chống lại các lợi ích của mình tại khu vực, có thể là nội dung của các thương thuyết mà Mỹ muốn gây sức ép để buộc Iran phải có các nhân nhượng. Tuy nhiên, chương trình vũ khí hạt nhân của Iran được coi là điểm then chốt. Trong một phát biểu trên The Wall Street Journal, tổng thống Donald Trump nhấn mạnh « lằn ranh đỏ » của Washington là Iran không được « quân sự hóa năng lực hạt nhân ». Về phần mình, Ali Shamkhani, một cố vấn của thủ lĩnh tối cao Iran, giáo chủ Ali Khamenei, khẳng định : Iran tham gia đàm phán không nhằm mục tiêu « xây dựng hình ảnh », mà hy vọng đạt được « một thỏa thuận nghiêm túc và công bằng ».

    Trump có thể đã rút được bài học thất bại của nhiệm kỳ đầu

    Trong một cuộc trả lời phỏng vấn RFI vào thời điểm Iran và Mỹ mở lại đàm phán, ông Thierry Coville, nhà nghiên cứu tại Viện Quan hệ quốc tế và Chiến lược IRIS (Institut des Relations internationales et stratégiques), tác giả cuốn « Iran, une puissance en mouvement » (Nxb Eyrolles), nhận định có thể chính bài học được rút ra từ thất bại trong nhiệm kỳ đầu tiên, khi đơn phương rút khỏi thỏa thuận đã khiến tổng thống Trump nhanh chóng nối lại đàm phán với Iran :

    « Có thể giả định rằng, mặc dù Trump không thể nói ra nhưng ông đã nhận ra mình đã phạm một sai lầm lớn khi rút khỏi thỏa thuận vào tháng 5/2018. Có lẽ ông đã quá tin tưởng vào các cố vấn như John Bolton hay cựu ngoại trưởng Mike Pompeo, người có lập trường chống Iran rất cực đoan. Chúng ta có thể thấy rõ rằng kể từ khi tái đắc cử, một mặt đe dọa sẽ có hành động quân sự chống Iran, hoặc ban hành các lệnh trừng phạt mới, Trump vẫn liên tục nhắc lại ý muốn đàm phán một thỏa thuận mới với Iran. Vì vậy, tôi nghĩ rằng Trump có thể hiểu về thất bại này, vì Iran đã rút khỏi thỏa thuận và chưa bao giờ tiến gần đến năng lực sản xuất vũ khí nguyên tử như vậy. Rõ ràng là ông đã rút ra bài học từ nhiệm kỳ đầu tiên. »

    Tình hình khẩn cấp: Lượng Uranium gấp « 41 lần » được phép

    Theo nhà nghiên cứu Thierry Coville, tình hình căng thẳng hiện tại liên quan đến việc Iran đang tiến gần ngưỡng có uranium được làm giàu đủ mức và đủ lượng để chế tạo vũ khí hạt nhân, trong lúc báo chí Mỹ nói đến việc Teheran có thể sản xuất được vũ khí hạt nhân trong ít tuần lễ, là một lý do chính khiến Mỹ phải ráo riết thúc đẩy đàm phán :  

    « Iran được cho là có đủ lượng uranium làm giàu để có khả năng chế tạo ít nhất bốn quả bom nguyên tử. Vậy nên, thực sự là mọi người đều lo lắng. Hơn nữa, thỏa thuận trước sẽ hết hạn vào tháng 10/2025. Vì vậy, Hoa Kỳ đã đặt ra hai tháng để đạt được một thỏa thuận mới, đảm bảo rằng Iran không tiến tới chế tạo bom nguyên tử. »

    Trên làn sóng RFI, ông David Rigoulet-Roze, chuyên gia về Trung Đông và Bán đảo Ả Rập, tổng biên tập tạp chí Orients Stratégiques, giải thích : Hiện tại không có gì ngăn cản Iran về mặt kỹ thuật trong mục tiêu chế tạo được vũ khí hạt nhân. Iran đang bước vào giai đoạn có thể tăng mức làm giàu uranium từ 60% đến 90%, tức từ mức có chuyển sang chế tạo bom nguyên tử là rất nhanh chóng.

    Iran chưa rút hẳn khỏi Thỏa thuận hạt nhân 2015, cho dù Mỹ đơn phương rút. Nhưng hành động của Washington đã ảnh hưởng lớn đến việc Thỏa thuận được Iran tuân thủ theo các điều khoản ban đầu. Theo một báo cáo mật của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (AIEA), được France 24 trích dẫn hồi cuối tháng 2/2025, lượng dự trữ Uranium được làm giàu ở mức 60% trong hiện tại gấp đến « 41 lần » mức Hiệp định 2015 cho phép.

    Tính đến ngày 8/2, Iran sở hữu tổng cộng 274,8 kg, so với 182,3 kg ba tháng trước đó. Tốc độ sản xuất uranium làm giàu cao ở mức 60%, tức gần với mức 90% cần thiết để chế tạo vũ khí hạt nhân, đã gia tăng ở Iran. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (AIEA) xem đây là tình hình « rất đáng lo ngại ». Thậm chí, theo Ali Vaez, chuyên gia về Iran tại nhóm International Crisis Group, « nếu lượng uranium mà Iran đang có đã được làm giàu đến mức 90%, thì quốc gia này có đủ khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân với tốc độ một vũ khí trong một tháng ».

    Đầu tháng 12/2024 vừa qua, Teheran cảnh báo sẽ đưa vào sử dụng các máy ly tâm tiên tiến mới. Quyết định này ngay lập tức vấp đã phải sự phản đối mạnh mẽ của Hội đồng thống đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Tuy nhiên, vào thời điểm loan truyền báo cáo mật của Cơ quan năng lượng Nguyên tử quốc tế, Teheran vẫn khăng khăng bác bỏ khả năng đàm phán với Mỹ.  

    Đe dọa từ Mỹ tăng vọt, dân chúng mệt mỏi : Nguy cơ sụp đổ

    Vì sao chính quyền Iran đã nhanh chóng đảo ngược quan điểm khăng khăng không chấp nhận đàm phán với Mỹ ? Nhà nghiên cứu Viện IRIS nhìn thấy ở đây những lo sợ của chế độ Hồi Giáo Iran trước các áp lực ngày càng lớn từ bên ngoài cùng tình trạng phẫn nộ của dân chúng trong nước :

    « Đúng là chỉ một vài tuần trước, lãnh đạo tối cao Iran còn nói : không được, không được ! Sẽ không khôn ngoan và không hợp lý khi đàm phán với Mỹ. Tuy nhiên, ông ta đã thay đổi quyết định. Và nếu ông thay đổi quyết định thì đó là vì thực sự có một cuộc khủng hoảng chính trị ở Iran, kể từ năm 2022. Có một vấn đề về tính hợp pháp của chính quyền Iran. Có những khó khăn về kinh tế, mà chúng ta không nên phóng đại, nhưng rõ ràng có lạm phát, hiện vẫn ở mức 30%, và trên hết là dân chúng đã mệt mỏi. Vì vậy, chế độ Iran lo sợ nếu có lệnh trừng phạt mới của Mỹ, thì chắc chắn sẽ có các phong trào phản đối trong dân chúng, và sau đó, thực sự là có đe dọa về một cuộc tấn công của Mỹ hoặc Israel. Những điều này thực sự ảnh hưởng đến việc Iran quyết định đàm phán. »

    Chế được vũ khí hạt nhân phải mất từ một đến ba năm

    Trên thực tế, khả năng Iran sản xuất được vũ khí hạt nhân không còn nằm trong lĩnh vực kỹ thuật, mà ở quyết định chính trị, theo nhiều chuyên gia. Trong một chương trình tọa đàm của RFI về chủ đề này, nhà nghiên cứu Clément Therme, giảng viên tại Đại học Paul Valéry ở Montpellier và Học viện Sciences Po Paris, chuyên gia về thế giới Iran, nhấn mạnh rõ đến sự khác biệt này :

    « Nếu lãnh tụ tối cao, giáo chủ Ali Khamenei, ra quyết định thì Cộng hòa Hồi giáo Iran sẽ phải mất từ ​​một đến ba năm để có được vũ khí hạt nhân có thể sử dụng được. Vì vậy, đây chưa phải là vấn đề cấp bách. Chúng ta cần phân biệt giữa năng lực thực sự sản xuất vũ khí để có thể sử dụng và khả năng có đủ số lượng uranium để về mặt lý thuyết có thể sản xuất được vũ khí. Về điểm thứ hai này, thời hạn là ngắn hơn nhiều. Tôi nghĩ là các phương tiện truyền thông nhầm lẫn giữa việc có được vũ khí hạt nhân với việc có đủ lượng uranium để chế tạo vũ khí hạt nhân. Hai chuyện không phải là một. Chính vì vậy vẫn còn có khả năng đàm phán và trong hiện tại, công cụ được ưu tiên để kiểm soát tham vọng hạt nhân của Iran là con đường ngoại giao. »

    Đường cùng mới phải chế vũ khí hạt nhân: Nội bộ chế độ cân nhắc lợi hại

    Iran có thể đạt được một thỏa hiệp về chương trình hạt nhân quân sự với Mỹ trong thời gian tới hay không ? Đối với nhiều chuyên gia, mấu chốt của vấn đề nằm ở chỗ các phe nhóm chủ chốt trong chế độ Hồi giáo Iran nhìn nhận ra sao về vấn đề này. Trả lời RFI, chuyên gia về thế giới Iran Clément Therme giải thích :

    « Câu hỏi đặt ra là phát triển chương trình hạt nhân quân sự có phục vụ cho lợi ích của nước Cộng hòa Hồi Giáo Iran hay không và quyết định này có thể đe dọa đến sự tồn vong của chế độ Cộng hòa Hồi Giáo Iran hay không? Tổng thống Pháp Jacques Chirac, trong một cuộc trả lời phỏng vấn nổi tiếng với tờ New York Times hồi 2006, từng nói rằng nếu Teheran tìm cách sở hữu vũ khí hạt nhân, Iran sẽ bị nguyền rủa.

    Như vậy, nhìn chung có thể thấy nếu Iran phát triển chương trình hạt nhân quân sự, chế độ Hồi Giáo sẽ sụp đổ. Có một cuộc tranh luận trong nội bộ chế độ Iran về việc có nên phát triển chương trình hạt nhân quân sự hay không. Cuộc tranh luận này dựa trên ý tưởng chính: nếu Israel và Mỹ tấn công vào các cơ sở hạt nhân dân sự của Iran, thì chế độ Hồi giáo có thể sẽ quyết định nhanh chóng phát triển vũ khí hạt nhân.

    Tôi nghĩ là hiện tại có một nhận thức chung: Cái giá mà Iran phải trả, nếu quyết định thúc đẩy chương trình hạt nhân quân sự, sẽ lớn hơn các lợi ích mà chế độ Hồi giáo Iran có thể thu được từ việc phát triển vũ khí hạt nhân, mà rõ ràng là một mối đe dọa tồn vong đối với chế độ. »

    10 min
  • Đài Loan trong thế bị Mỹ - Trung kềm kẹp

    Thách thức kép, giữa một bên là sự bất định của chính quyền mới ở Mỹ và bên kia là một Trung Quốc ngày một xác quyết, đang đặt Đài Loan trước một thực tế đáng sợ : Rủi ro chính quyền Mỹ hiện tại hoặc tương lai có thể coi những thách thức của Đài Loan là một mối quan tâm xa vời.

    Chưa có lúc nào Đài Loan phải đương đầu với một thế tiến thoái lưỡng nan về mặt chiến lược nghiêm trọng như lúc này. Một mặt, Trung Quốc gia tăng sức ép trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, ngoại giao và nhất là quân sự. Bắc Kinh luôn xem hòn đảo này như là một phần lãnh thổ không thể tách rời và một ngày nào đó phải được thống nhất bằng mọi giá, kể cả bằng vũ lực.

    Đài Loan trước sức ép quân sự từ Trung Quốc

    Giới quan sát dự đoán từ đây đến năm 2027, Trung Quốc có thể đánh chiếm Đài Loan. Tuy nhiên, việc chiếm đảo không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, do địa hình phức tạp và nhất là Bắc Kinh vẫn còn e ngại phản ứng từ Washington : Liệu Hoa Kỳ có bảo vệ Đài Loan nếu Trung Quốc mở chiến dịch tấn công?

    Nhưng từ đây đến ngày « giấc mơ Trung Hoa » được thành hiện thực, Trung Quốc không ngừng thao dượt quân sự phối hợp hải lục không quân với quy mô mỗi lúc một lớn hơn. Cuộc tập trận mới nhất trong hai ngày 01 và 02/04/2025 là một ví dụ điển hình : Bắc Kinh huy động không chỉ hải quân, không quân, mà cả đơn vị tên lửa và bộ binh.

    Theo quan sát từ nhà nghiên cứu Marc Julienne, giám đốc Trung tâm châu Á, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp IFRI, mục tiêu là nhằm củng cố các năng lực liên tác chiến giữa các lực lượng quân đội Trung Quốc, nhưng cũng nhằm mô phỏng phong tỏa các cảng biển chính, ngắt đường cung cấp năng lượng và nhất là chặn đường chính phủ cũng như người dân Đài Loan đào thoát.

    Trên đài truyền hình ARTE, nhà nghiên cứu về Trung Quốc nhận định tiếp :

    « Đây thực sự là một đợt huấn luyện. Nếu Trung Quốc muốn mở một chiến dịch xâm chiếm hay phong tỏa trong ngắn, trung, hay dài hạn, họ phải được chuẩn bị cho chiến dịch này. Tôi nghĩ rằng chúng ta không nên đánh giá thấp công tác chuẩn bị cho chiến đấu. Và điều này được nói rõ trong các phát biểu chính trị hay quân sự chính thức. Việc chuẩn bị cho chiến đấu là một trong những ưu tiên của Quân đội Giải phóng Nhân dân.

    Vào thời điểm nào chiến sự sẽ diễn ra, thật khó mà nói. Nhưng người ta thường nói đến năm 2027, bởi vì đó sẽ là năm kỷ niệm 100 năm ngày thành lập quân đội và bởi vì ông Tập Cận Bình đã ra lệnh cho quân đội phải sẵn sàng chiến đấu vào thời điểm đó. Chúng ta cũng nên biết là Trung Quốc hiện đang có chút cơ may bởi vì càng chờ đợi, Trung Quốc sẽ càng hùng mạnh, nhưng ở phía bên kia, các đối thủ cũng sẽ củng cố mạnh hơn và sự phối hợp của họ cũng sẽ được chặt chẽ hơn ».

    Sức ép này từ Trung Quốc đặt hòn đảo này trước một thách thức to lớn : Đài Loan phải ứng phó với các rủi ro cấp bách như thế nào ? Chẳng hạn như sự phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu, tính dễ bị tổn thương của các tuyến cáp ngầm viễn thông nối Đài Loan với thế giới, nguồn dự trữ lương thực và tài nguyên, cũng như khả năng phòng thủ mạng trước các cuộc tấn công từ tin tặc Trung Quốc v.v…

    « Thách thức Donald Trump »

    Mặt khác, cùng lúc này, chính quyền tổng thống Lại Thanh Đức phải đối mặt với điều mà hai nhà nghiên cứu về Trung Quốc, Jude Blanchette và Gerard DiPippo, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, thuộc tổ chức tư vấn RAND Corporation, gọi là « Thách thức Donald Trump ». Chính sách thương mại và quốc phòng của Đài Loan đã chuyển sang một hướng mới kể từ khi tổng thống Mỹ Donald Trump nhậm chức vào tháng 01/2025.

    Đài Loan có nguy cơ  bị áp thuế đến 32% theo như thông báo đầu tiên của ông Donald Trump ngày 02/04, nếu đàm phán thất bại. Giống như nhiều nước khác trong khu vực, Đài Loan có thặng dư mậu dịch đến 76 tỷ đô la trong năm 2024, đứng thứ năm trong số các đối tác thương mại của Hoa Kỳ. Kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan sang Mỹ đạt mức 119 tỷ đô la, chủ yếu là chất bán dẫn và đồ điện tử, nhưng chỉ nhập khẩu 42 tỷ đô la hàng Mỹ.

    Điều này có nghĩa là Đài Bắc phải tăng gấp đôi lượng hàng nhập khẩu để thu hẹp khoảng cách, đây thực sự là một nhiệm vụ khó khăn. Chính phủ tổng thống Lại Thanh Đức hiện đang xem xét những thỏa thuận nào có thể đề nghị với chính quyền Trump. Tuy nhiên, theo hai nhà nghiên cứu người Mỹ trên trang RAND, rủi ro đối với Đài Loan cao hơn so với các nước khác do tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác an ninh giữa Đài Loan và Hoa Kỳ.

    Do vậy, ngoài việc Đài Loan có thể mua thêm một số mặt hàng chính như dầu hỏa, khí hóa lỏng, than đá, máy phát điện hay nông sản, Đài Bắc cũng có thể tăng mua vũ khí. Hiện tại, ngân sách quốc phòng của Đài Loan chỉ chiếm khoảng 2,45% GDP. Tổng thống Lại Thanh Đức gần đây cam kết tăng chi tiêu quốc phòng lên mức 3%.

    Đây là một mức chi mà nhiều quan chức chính quyền Trump đánh giá là chưa đủ nếu xét đến quy mô của mối đe dọa mà hòn đảo này phải đối mặt. Ông Elbridge Colby, trong phiên điều trần trước Nghị Viện để được bổ nhiệm là thứ trưởng Quốc Phòng, phụ trách Chính sách, đã tuyên bố « Đài Loan nên chi đến khoảng 10% hoặc ít nhất một con số nào đó trong phạm vi này. »

    Chất bán dẫn : « Lá chắn silicon » của Đài Loan

    Tuy nhiên, theo hai nhà nghiên cứu người Mỹ, cốt lõi vấn đề ở đây có thể là chất bán dẫn. Những con chip chiến lược này, cùng với linh kiện máy tính có chứa các con chip tiên tiến, chiếm gần 60% thâm hụt thương mại hàng hóa của Mỹ với Đài Loan trong năm 2024. Tổng thống Mỹ Donald Trump trong chiến dịch tranh cử cáo buộc Đài Loan đánh cắp hoạt động kinh doanh chip của Hoa Kỳ và đe dọa áp thuế đến 100% đối với linh kiện bán dẫn.

    Những phát biểu này của nguyên thủ Mỹ đã làm dấy lên nỗi hoài nghi tại Đài Loan và các nước đồng minh trong khu vực : Cuối cùng, đối với Mỹ, Đài Loan là đồng minh hay là kẻ thù của Mỹ ? Ông Frédéric Encel, nhà địa chính trị học, giáo sư trường Paris School of Business, đánh giá việc bỏ rơi Đài Loan có thể gây tổn hại cho uy tín của Mỹ trong khu vực, khiến Donald Trump phải trả giá đắt.

    Cũng theo ông Frédéric Encel, « kim chỉ nam » của Donald Trump là « chủ nghĩa trọng thương tuyệt đối », nghĩa là « trả một đồng phải thu lại hai đồng ». Trên đài truyền hình ARTE, ông giải thích tiếp :

    « Tôi tin rằng Đài Loan không phải là một đồng minh, mà cũng không là một kẻ thù. Đây là một khách hàng tuyệt vời. Xin lưu ý, đó là một khách hàng mà Mỹ muốn tiếp tục bảo vệ bằng mọi giá. Quý vị hãy ước tính chi phí quốc phòng của chúng tôi để bảo đảm an ninh cho quý vị tốn kém bao nhiêu ? Về cơ bản, đây chính xác là lý do tại sao tôi nói đến « kim chỉ nam », mục tiêu của Trump. Đó chính là những gì Trump đề nghị với rất nhiều nước, hiện cảm thấy bị tổn thương vì chính sách mới của ông. Dù đúng hay sai, Trump tin rằng các nước châu Âu gây tốn kém cho Mỹ, đã quan tâm không đầy đủ, hay không đủ khả năng thanh khoản trong những thập niên sắp tới. Tôi nghĩ rằng điều này sẽ rất khác biệt tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. »

    Đầu tháng 3/2025, chính quyền Lại Thanh Đức, trong một cử chỉ được nhiều nhà quan sát đánh giá là khôn khéo, đã thông báo TSMC sẽ đầu tư 100 tỷ đô la, xây dựng nhà máy sản xuất chip tại Mỹ, cùng với một trung tâm nghiên cứu và phát triển, nâng tổng số cam kết đầu tư vào Mỹ là 165 tỷ đô la. Dù vậy, Trump vẫn muốn sản xuất nhiều chip tiên tiến hơn tại Mỹ.

    Một đòi hỏi khiến công luận Đài Loan lo lắng. Liệu rằng điều này có làm suy yếu « lá chắn silicon », hình tượng mà người dân hòn đảo gán cho TSMC, tập đoàn sản xuất đến gần 90% chip bán dẫn tiên tiến nhất trên thế giới tại Đài Loan ?

    Theo nhà nghiên cứu Marc Julienne, « đúng là nhu cầu về linh kiện bán dẫn đang tăng lên và tăng rất mạnh trên toàn cầu. Trên thực tế, việc mở nhà xưởng tại Mỹ không có nghĩa là đóng cửa nhà máy tại Đài Loan mà hoàn toàn ngược lại. Hơn nữa, nghiên cứu và phát triển vẫn được thực hiện ở Đài Loan. Điều quan trọng nhất là chất bán dẫn có hiệu năng cao nhất vẫn được sản xuất tại Đài Loan. Và do vậy, Đài Loan vẫn giữ được giá trị, tầm quan trọng của mình ».

    « Vận mệnh trong tay chúng ta ! »

    Dù vậy, hai nhà nghiên cứu người Mỹ Jude Blanchette và Gerard DiPippo, trên trang RAND, lưu ý rằng, để cho những bước đi chiến thuật trên được thành công, Đài Bắc phải vượt qua ba trở ngại lớn : Thứ nhất, Đài Loan không có quan hệ ngoại giao chính thức với Hoa Kỳ. Điều này hạn chế nghiêm trọng phạm vi hành động của chính phủ Đài Loan trong việc tương tác trực tiếp với chính quyền Trump và bản thân tổng thống Trump.

    Thứ hai, Đài Loan biết rằng bất kỳ thỏa thuận thương mại nào giữa Mỹ và Đài Loan đều có thể bị Trung Quốc trả đũa. Và cuối cùng, Đài Bắc tin rằng bất kỳ cuộc đàm phán kinh tế nào với chính quyền Trump có nguy cơ bị lệ thuộc và có thể phụ thuộc vào các cuộc đàm phán của Washington với Bắc Kinh.

    Những tính toán của Đài Loan còn thêm phần phức tạp với những thay đổi nhanh chóng trong quan hệ của Mỹ với Nga và Ukraina. Mối quan hệ có thể được sưởi ấm trở lại của chính quyền Trump với điện Kremlin, quyết định thay Kiev đàm phán với Matxcơva về số phận của Ukraina và các đòn tấn công của Trump nhắm vào Zelensky khiến công luận Đài Loan lo lắng khi nhìn thấy có sự tương đồng với tình hình bấp bênh của chính họ.

    Việc ngày 13/02/2025, bộ Ngoại Giao Mỹ rút lại câu « chúng tôi không hậu thuẫn độc lập Đài Loan » trong bản tin thông lệ chưa hẳn đồng nghĩa với việc Washington ủng hộ Đài Bắc độc lập. Theo quan điểm của nhà nghiên cứu về chính sách đối ngoại Trung Quốc, Chee Meng Tan, trường đại học Nottingham Malaysia, sự thay đổi kín đáo của chính quyền Trump liên quan đến lập trường của Mỹ đối với Đài Loan hoàn toàn nhằm dụng ý kinh tế, có thể giúp Donald Trump có thêm trọng lượng trong đàm phán thương mại với Bắc Kinh.

    Thế nên, trong bối cảnh bất ổn địa chính trị gia tăng như hiện nay, Đài Loan không thể giữ nguyên chiến thuật mà họ đã dùng trong thập kỷ qua. Quân đội Trung Quốc đã phát triển quá mạnh trong khi Hoa Kỳ đang trong quá trình xem xét lại lịch sử các cam kết an ninh ở bên ngoài. Tất cả những điều này dẫn đến một kết luận không thể tránh khỏi : Đài Loan phải làm nhiều hơn nữa cho khả năng phòng thủ và phục hồi của chính mình.

    Tổng thư ký Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Đài Loan gần đây đã tuyên bố : « Số phận của chúng ta giờ nằm trong tay chúng ta » !

    12 min
  • Thuế quan toàn cầu : Trump có làm tái hiện thảm họa kinh tế tương tự năm 1930 ?

    Ngày 02/04/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo áp hàng loạt mức thuế cao nhắm vào hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ. Giới chuyên gia lo lắng biện pháp bảo hộ mậu dịch này của ông Trump có nguy cơ dẫn đến suy thoái kinh tế, giá cả tăng vọt, cũng như leo thang trả đũa lẫn nhau. Trong viễn cảnh này, liệu tổng thống Trump có đang lặp lại sai lầm của năm 1930 : Kinh tế Mỹ và thế giới suy sụp do đạo luật Smoot – Hawley gây ra ?

    Donald Trump ngày 15/10/2024 phát biểu : « Đối với tôi, từ ngữ hay nhất trong từ điển là thuế hải quan. Đó là những từ ngữ tôi thích nhất. Thuế hải quan càng cao, chúng ta càng có nhiều cơ may các doanh nghiệp đến lập cơ sở tại Mỹ để không phải bị trả thuế hải quan. Còn có một lý thuyết khác cho rằng thuế hải quan càng cao, càng khủng khiếp, càng tệ chừng nào, các doanh nghiệp càng đến lập cơ sở nhanh chừng ấy. Khi tôi thông báo mức thuế hải quan là 10%, chỉ có 10% thôi, con số này chiếm đến nhiều trăm triệu đô la. Tất cả những điều này là nhằm giảm mức thâm hụt cán cân thương mại của Mỹ ! »

    McKinley : Thần tượng của Donald Trump !

    Tổng thống Trump luôn tin rằng áp thuế hải quan có thể làm cho « Nước Mỹ giàu có » trở lại. Niềm tin này được thể hiện rõ qua việc ông hay viện dẫn William McKinley như một điển hình. Năm 1890, khi vẫn còn là dân biểu Hạ Viện, William McKinley (trở thành tổng thống năm 1897) đã cho thông qua đạo luật « McKinley Tariff Act » khắc nghiệt, áp thuế đến 50% giá trị hàng hóa nhập khẩu.

    Jean-Baptiste Velut, giáo sư trường đại học Sorbonne Nouvelle, chuyên gia về lịch sử kinh tế - chính trị Mỹ, trên đài phát thanh France Culture (28/01/2025), đưa ra hai luận điểm giải thích vì sao tổng thống Trump xem McKinley như một « thần tượng ».

    « Thứ nhất, điều thú vị ở đây là xem cách thức chính quyền Trump, kể cả bản thân ông Trump cũng như cựu cố vấn thương mại Robert Lighthizer lấy cảm hứng và sử dụng lịch sử bảo hộ mậu dịch Mỹ như thế nào để chứng tỏ rằng cuối cùng những điều cấm kỵ về chủ nghĩa bảo hộ trong nhiều năm trước đã làm cho người ta không biết đến toàn bộ truyền thống bảo hộ của Mỹ đã tạo nên sức mạnh kinh tế của Mỹ.

    Điểm thứ hai, đó là khía cạnh hoài niệm của Donald Trump, vốn thích so sánh mình với nhiều tổng thống khác. Tôi tin rằng việc chọn tổng thống McKinley không phải là vô tình. Không những đây là một vị tổng thống theo chủ nghĩa bảo hộ mà còn là một người có tham vọng đế quốc. Và do vậy, điều đó giúp Donald Trump, ở một hình thức nào đó, biện minh cho những tham vọng bành trướng lãnh thổ của mình, đối với kênh đào Panama, hay quần đảo Groenland ngày nay. »

    Smoot – Hawley Act và cuộc Đại Khủng Hoảng

    Nhưng có lẽ ông Trump cũng quên rằng, thuế hải quan đã từng nhấn chìm nước Mỹ vào một trong những thảm họa kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử đất nước : Khủng hoảng kinh tế 1930 do « Smoot-Hawley Tariff Act » gây ra, đưa nước Mỹ vào thời kỳ Đại Suy Thoái.

    Ngược dòng thời gian, Hoa Kỳ trong những năm 1920 có nền kinh tế khá thịnh vượng. Đó là « những năm 20 sôi động », tỷ lệ thất nghiệp thấp, tăng trưởng cao và ngành công nghiệp phát triển mạnh. Duy chỉ có một lĩnh vực có nhiều dấu hiệu suy yếu : Nông nghiệp.

    Theo giải thích của ông Sebastien Jean, giáo sư kinh tế tại CNAM, cộng tác viên cho Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), với trang HuffingtonPost, « ngành nông nghiệp Mỹ trong suốt những năm 1920 cho thấy có dấu hiệu trì trệ do giá cả sụt giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ cấu ngành bởi sự biến động của những năm tháng chiến tranh. Trước đó là quãng thời gian mà ngành nông nghiệp Mỹ phát triển đáng kể, chủ yếu là vì phải nuôi sống châu Âu, đang trong cảnh chiến tranh (Đệ nhất thế chiến). Nhưng khi chiến tranh kết thúc, châu Âu đã lấy lại sản xuất và ngành nông nghiệp của họ rơi vào tình trạng dư thừa sản xuất kéo dài. »

    Giới nông gia Mỹ rơi vào khủng hoảng kinh tế. Để ứng phó, Quốc Hội Mỹ năm 1922 thông qua luật Fordney – McCumber, lần đầu tiên tăng thuế hải quan, nhưng chỉ giới hạn ở hàng công nghiệp. Ông Herbert Hoover, thuộc đảng Cộng Hòa, khi vận động tranh cử đã dùng lại ý tưởng được hậu thuẫn bởi những người vận động hành lang cho các nhà sản xuất nông nghiệp, cho rằng nông dân đang chịu thiệt thòi do cạnh tranh quốc tế. Ông đề nghị áp thuế hải quan đối với nông sản nhập khẩu ngay khi đắc cử năm 1929.

    Dưới sự thôi thúc từ hai nghị sĩ đảng Cộng Hòa là Willis Hawley và Reed Smoot, Quốc Hội Lưỡng Viện đã đồng thuận về mức thuế trung bình là 40% nhắm vào khoảng 20 nghìn loại hàng hóa nhập khẩu, nhưng không chỉ đối với nông sản mà mở rộng sang cả sản phẩm công nghiệp. Quyết định này của chính quyền Hoover đã bị chỉ trích mạnh mẽ trong và ngoài nước.

    Bất chấp thư ngỏ tập thể của hơn 1.000 kinh tế gia, cảnh báo rằng « việc thông qua các biện pháp bảo hộ này sẽ là một sai lầm », có thể dẫn đến tình trạng giá cả tăng cao cho người tiêu thụ, và mức sống của người dân bị sụt giảm, cũng như là sự phản đối từ khoảng 20 chính phủ các nước, dự luật Smoot – Hawley vẫn được thông qua vào đầu năm 1930.

    Đại chiến thương mại thế giới và làn sóng bảo hộ mậu dịch

    Đáng chú ý là văn bản luật này ra đời vào một thời điểm khá nhạy cảm : Vụ sụp đổ thị trường chứng khoán Mỹ, « ngày thứ Năm đen tối » 24/10/1929, đã bắt đầu cho thấy có những tác động đầu tiên đối với nền kinh tế Mỹ : Nhà xưởng lần lượt đóng cửa khiến hàng triệu người dân Mỹ rơi vào cảnh thất nghiệp.

    Không những ngành nông nghiệp Mỹ chẳng hưởng được lợi gì từ thuế hải quan, mà chính sách bảo hộ của Mỹ đã châm ngòi cho cơn sốt bảo hộ mậu dịch. Các đối tác thương mại của Washington tăng cường trả đũa với nhiều chiến lược khác nhau, từ tăng thuế hải quan, tẩy chay, hay áp đặt hạn ngạch (quota) nhập khẩu hàng Mỹ.

    Cuộc chiến thương mại này đã làm chao đảo nền kinh tế thế giới, các hoạt động trao đổi thương mại sụt giảm đến hơn 40%. Tuy nhiên, ông Eric Monnet, kinh tế gia, giáo sư sử học tại EHESS, và trường Kinh tế Paris, trên trang Economie Alternative, trích dẫn một nghiên cứu xa xưa do BarryEichengreen và Douglas A. Irwin thực hiện, nêu lên một chi tiết thú vị là cuộc chiến bảo hộ này không chỉ đáp trả Mỹ mà còn thúc đẩy các nước đi theo con đường bảo hộ giống như Mỹ.

    Chỉ có điều, như ghi nhận từ Bertrand Blancheton, chuyên gia về lịch sử kinh tế thế giới, đại học Bordeaux, khi trả lời kênh truyền hình France 24, trong cuộc đọ sức này, và với việc bùng phát cơn sốt bảo hộ, tất cả các bên đều bị thiệt do tăng trưởng thế giới bị chững lại : « Chính quyền Hoover nghĩ rằng các nước khác sẽ không phản ứng, nhưng họ đã có những hành động trả đũa thương mại. Cuộc chiến thương mại thực sự này đã dẫn đến tình trạng gần như tự cung tự cấp cho đến khi Đệ Nhị Thế Chiến nổ ra. »

    Đạo luật Smoot-Hawley, một « đạo luật kinh tế ngu xuẩn », theo như chỉ trích từ Henry Ford, nhà sáng lập thương hiệu ô tô nổi tiếng tại Mỹ, đã làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ 1929 thêm trầm trọng. Chính sách bảo hộ này của Mỹ được cho là một trong những tác nhân chính gây ra cuộc Đại Suy Thoái, góp phần thúc đẩy một cuộc suy thoái mới le lói xuất hiện thành một cuộc khủng hoảng toàn cầu, kéo dài hàng thập kỷ.

    Trump Act và sự tương đồng với các chính sách cuối thế kỷ XIX

    Theo giải thích của nhà sử học Jean-Baptiste Velut, trường đại học Sorbonne Nouvelle ,với trang HuffingtonPost, « đạo luật này đã có những tác động tàn phá. Bởi vì, thông qua các tác động gián tiếp, nhiều cường quốc khác, đến phiên họ, đã khép cửa thị trường của mình. Và dần dần từng chút một, kinh tế và thương mại thế giới đã bị mất đến 2/3 giá trị của mình ».

    Một số sử gia thậm chí còn tin rằng, « Smoot – Hawley Tariff Act » đã góp sức cho sự trỗi dậy của chủ nghĩa Đức Quốc xã, dẫn đến Đệ Nhị Thế Chiến. Tuy nhiên, nhà sử học Jean-Baptiste Velut, trên đài France Culture, cho rằng đây vẫn còn là điều gây nhiều tranh cãi:

    « Một số nghiên cứu cho thấy rằng về cơ bản, khủng hoảng tài chính là gốc rễ của cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới. Nhiều nghiên cứu khác quả thực chỉ ra rằng thuế quan rất cao đã làm trầm trọng thêm các vấn đề về khủng hoảng. Điều thú vị là đạo luật Smoot – Hawley đã trở thành một dạng tội đồ trong lịch sử kinh tế nước Mỹ và dưới góc độ biểu tượng, đạo luật này đã ám ảnh các cuộc tranh luận về tự do mậu dịch và nền ngoại giao Mỹ. »

    Dù vậy, sử gia về kinh tế Mỹ, Bertrand Blancheton, trả lời France 24, cũng tỏ ra cẩn trọng khi so sánh những gì diễn ra năm 1930 với tình hình hiện nay.

    « Tốt hơn là nên so sánh những gì chúng ta đang trải qua hiện nay với cuối thế kỷ XIX, từ năm 1880 đến năm 1914. Vào thời kỳ đó, Mỹ có những chính sách thương mại rất tinh vi và phân biệt đối xử. Ý tưởng là nhắm vào một quốc gia, sản phẩm cụ thể và đàm phán. Trong lịch sử kinh tế đương đại, kể từ cuộc cách mạng công nghiệp, có những thời điểm mà người ta tự do hóa và lúc khác họ siết chặt chính sách thương mại bằng cách tái lập thuế hải quan. Nhìn chung, đó là những kỳ kéo dài trong khoảng từ 30 đến 40 năm mỗi lần như thế. »

    Trump có sẽ cùng cảnh ngộ như Hoover ?

    Các mức thuế quan mới mà Donald Trump đưa ra, được cho là sẽ mở ra một « thời kỳ hoàng kim » cho nước Mỹ, nhưng lại có nguy cơ khiến các hộ gia đình Mỹ sẽ phải trả giá đắt. Một thăm dò do hãng tin Anh Reuters/Ipsos thực hiện cho thấy, 70% số người Mỹ được hỏi nghĩ rằng tăng thuế hải quan sẽ dẫn đến tăng giá thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng hiện nay.

    Trong những năm 1930, tổng thống Hoover đã phải trả giá cho chính sách thuế quan. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1932, vì không thể hóa giải được những tác động của cuộc khủng hoảng, tổng thống Cộng Hòa đã bị ứng viên Dân chủ Franklin D. Roosevelt đánh bại nặng nề.

    Chỉ còn 18 tháng nữa là đến kỳ bầu cử giữa kỳ, đảng Cộng Hòa cũng phần nào lo lắng vì đảng này chiếm đa số sít sao ở Thượng Viện và Hạ Viện. Vào lúc thị trường chứng khoán Mỹ và thế giới hoảng loạn, tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn kiên định lập trường, không thay đổi chính sách thuế quan nặng nề.

    Thứ Tư 02/04, khi thông báo áp mức thuế mới chống lại nhiều nước, Donald Trump đã tuyên bố rằng Đại Khủng Hoảng những năm 1930 có lẽ sẽ không xảy ra nếu như việc áp thuế quan vẫn được tiếp tục. « Vào năm 1929, mọi việc đã kết thúc đột ngột cùng với cuộc Đại suy Thoái, và điều đó có lẽ sẽ không bao giờ diễn ra nếu như họ vẫn trung thành với chính sách thuế quan, lịch sử đã có thể rất khác ! »

    Hơn 90 năm sau ngày ban hành luật Smoot – Hawley, liệu rằng lịch sử có sẽ tái diễn ?

    12 min
  • Hai tháng cầm quyền đầu tiên của Trump: « Cờ vua » Mỹ đọ « cờ vây » Trung Quốc ?

    Sự trở lại cầm quyền của Donald Trump tại Mỹ đặt thế giới trước tình trạng bất định cao độ. Nhiệm kỳ tổng thống thứ nhất của ông Trump (2017-2021) in dấu ấn với nhiều chính sách táo bạo bất ngờ, được quảng bá có nhiều triển vọng, nhưng rút cuộc bất thành, như vụ đàm phán vũ khí hạt nhân với Bắc Triều Tiên, chính sách đơn phương áp thuế với Trung Quốc để giảm thâm hụt thương mại...

    Cũng trong nhiệm kỳ đầu của ông Trump, giấc mơ « một quốc gia hai chế độ » với Hồng Kông chấm dứt, đặc khu trở lại dưới sự kiểm soát của Bắc Kinh.

    Nhiệm kỳ 2.0 của Donald Trump mở đầu với các chính sách còn quyết liệt hơn gấp bội nhiệm kỳ thứ nhất, với các tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh Ukraina « trong 24 giờ », hay tuyên bố đánh thuế « đối ứng » với toàn thế giới (tức sắc thuế mang tính trả đũa, ăn miếng trả miếng), hủy diệt nền móng của hệ thống thương mại thế giới dựa trên đàm phán thỏa hiệp, được định hình từ Thế chiến Hai.

    • Đọc thêm : Mỹ và thuế đối ứng : « Big Bang » trong thương mại toàn cầu

    Cho dù có nhiều khác biệt rất lớn trong chính sách, nếu không nói là gần như đối nghịch trong nhiều lĩnh vực, đối thủ số một của tổng thống Trump - tương tự như các chính quyền tiền nhiệm - vẫn là Trung Quốc, được coi là có thể vươn lên soán ngôi siêu cường số một của Mỹ. Hai tháng cầm quyền đầu tiên của Trump cho thấy gì về chiến lược của Washington và Bắc Kinh ?

    Những màn nắn gân

    Ông Donald Trump mở đầu nhiệm kỳ 2 với phong cách mang tính « giao dịch » của thương nhân như lần trước, để ngỏ cơ hội siết chặt quan hệ cá nhân với lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình. Phá lệ, tổng thống đắc cử Donald Trump mời lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đến dự lễ nhậm chức ngày 20/01. Chủ tịch Trung Quốc rút cục đã cử « đại diện đặc biệt » là phó chủ tịch Hàn Chính (Han Zheng) thay mặt.

    Tỏ ra hồ hởi với Tập Cận Bình, nhưng Trump cũng ngay lập tức đe dọa sẽ cứng rắn về thương mại để buộc Bắc Kinh phải có các nhân nhượng. Trung Quốc, cùng Mêhicô và Canada, là những nước đầu tiên mà chính quyền Trump đe dọa tăng mạnh thuế hải quan. Không có tín hiệu nhân nhượng từ Bắc Kinh, Trump áp thuế bổ sung 20%.

    Cứng rắn với Bắc Kinh, nhưng cùng lúc Donald Trump hy vọng sớm dàn xếp để có được một cuộc hội kiến với lãnh đạo Trung Quốc. Cuộc điện đàm đầu tiên dự kiến giữa lãnh đạo hai nước kể từ khi Trump nhậm chức đầu tháng 2/2025 bị hủy, sau khi Trung Quốc áp đòn thuế trả đũa. Theo nhà ngoại giao Wendy Cutler, nguyên phó Đại diện Thương mại Mỹ thời Obama, phó chủ tịch tư vấn viện tư vấn Asia Society, « không có gì ngạc nhiên nếu ta thấy Trump gặp Tập Cận Bình trong những tháng tới ». Nhưng theo bà, « Trung Quốc sẽ muốn có rất nhiều đảm bảo trước bất kỳ cuộc họp nào như vậy, bởi họ sẽ không muốn lãnh đạo của họ bị đặt tình thế phải xấu hổ, bị làm nhục, hoặc phải chịu những đòi hỏi mới », « chủ tịch Tập Cận Bình là một lãnh đạo độc đoán của một quốc gia mà việc ông ấy được Đảng, quân đội và dân chúng nhìn nhận như thế nào là rất quan trọng. Tôi nghĩ ông ấy không thể để mất mặt » (bài « Why Isn’t China Playing Trump’s Game ? Beijing has opted for defiance instead of flattery. Will the strategy backfire? » (Tại sao Trung Quốc không chơi trò của Trump? Bắc Kinh đã chọn thách thức thay vì nịnh hót. Liệu chiến lược này có phản tác dụng ?) Foreign Policy, 7/3/2025 )

    Trump cờ vua, Tập cờ vây: « Lửa » chọi với « Nước » ?

    Nhận định về chính sách của tổng thống Mỹ là điều không dễ dàng, do các phát biểu đầy mâu thuẫn và mang tính cá nhân cao độ của Donald Trump, theo ghi nhận của nhiều nhà quan sát. Tuy nhiên, so sánh hành xử của Trump và lãnh đạo Bắc Kinh có thể cho phép rút ra một số sắc thái đáng chú ý. Chuyên gia về Trung Quốc André Chieng, trong cuộc trao đổi với nhà chính trị học Pascal Boniface, giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (IRIS), nhận định tổng thống Mỹ chọn chiến lược « cờ vua » với « những nước đi thần tốc » trong lúc Tập Cận Bình chơi « cờ vây », trò chơi lâu đời của người Hoa khuyến khích lối hành xử thiên về kiên nhẫn.  Ông André Chieng giải thích:

    « Điều mà tôi nhận thấy là Trump chơi cờ vua. Cờ vua là trò chơi mà các quân cờ chuyển động rất nhiều, và trong nhiều ván cờ, các nước cờ diễn ra một cách mau lẹ nhất có thể. Luôn luôn có sự chuyển động mạnh. Điều được ngưỡng mộ trong trò chơi này là những nước cờ tấn công. Người Trung Quốc không chơi cờ vua, họ chơi cờ vây. Cờ vây lấy kiên nhẫn làm thế mạnh. Trong trò chơi này không có nhiều chuyển động. Đây là trò chơi với các quân cờ có giá trị ngang nhau và cái đích của cuộc chơi là chiếm lĩnh được nhiều không gian.

    Như vậy chúng ta có ấn tượng là trong cuộc cờ đang diễn ra trên thế giới hiện nay, hai đối thủ, Mỹ và Trung Quốc, không chơi cùng một trò. Trump chơi cờ vua, người Trung Quốc chơi cờ vây. Người Trung Quốc đi theo chiến lược, mà người ta thường gọi là chiến lược của NƯỚC. Đây là một nhận định mà ta có thể thấy trong Đạo Đức Kinh, cuốn sách kinh điển của Đạo Lão, tương truyền của Lão Tử. Trong cuốn sách này, có một câu nói lạ thường. Lão Tử nói : ‘‘Thiên hạ mạc nhu nhược vu thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng’’ (nghĩa là : Không có gì yếu hơn nước và không có hình thù hơn nước, nhưng cũng không có gì kháng cự lại được nước’’). Diễn đạt này đã được Lý Tiểu Long (Bruce Lee) sử dụng để mô tả về võ thuật Trung Hoa.

    Đây chính là hành xử của Trung Quốc : Mỗi khi Mỹ rút khỏi một vị trí nào đó thì Trung Quốc trám chỗ. Điều này đúng với trường hợp Mỹ cắt giảm các hoạt động của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID, hay Mỹ rút khỏi Tổ chức Y tế Thế giới. Chúng ta có thể nêu ra hàng loạt ví dụ về việc Trung Quốc chiếm lĩnh một cách lặng lẽ và bình thản các vị trí mà Hoa Kỳ bỏ trống. »

    Trung Quốc : Chờ đợi, giảm thiệt hại trong « bối cảnh hỗn loạn » và ra đòn có trọng điểm

    Chuyên gia André Chieng là công dân Pháp, sinh tại Marseille. Cha mẹ ông là người Hoa. Ông là người sáng lập và chủ tịch hiệp hội thương mại Âu – Á (AEC - Asiatique Européenne de commerce) từ năm 1988 và là phó chủ tịch Comité France-Chine, hiệp hội các doanh nghiệp Pháp chuyên thúc đẩy các quan hệ làm ăn với Trung Quốc. Từ năm 2001, André Chieng định cư tại Trung Quốc. Giải thích cụ thể hơn về chiến lược hành xử của Bắc Kinh trong giai đoạn hai tháng cầm quyền đầu tiên của Donald Trump, ông André Chieng nhận định:

    « Phản ứng của phía Trung Quốc thiên về chừng mực. Trong cuộc đọ sức Mỹ - Trung, lợi thế tất nhiên thuộc về phía Mỹ. Đơn giản bởi vì Mỹ nhập khẩu đến 400 tỉ đô la hàng hóa Trung Quốc, trong lúc Trung Quốc chỉ nhập của Mỹ khoảng 100 tỉ đô la. Trung Quốc có nhiều cái để mất hơn là Mỹ. Tuy nhiên, nếu chúng ta quan sát các biện pháp trả đũa của Trung Quốc, ngay hôm sau ngày Mỹ áp thuế mới, ta thấy điều thú vị là các biện pháp trả đũa rất đa dạng.

    Bắc Kinh không chỉ có một loại vũ khí, khác với Trump chỉ có một vũ khí là tăng thuế hải quan. Trung Quốc có hàng loạt biện pháp. Một mặt, họ tăng thuế với một số mặt hàng, chủ yếu là các mặt hàng nông nghiệp, tức đánh vào một nhóm cử tri bỏ phiếu cho Trump. Bên cạnh đó là các biện pháp khác, như cấm vận một số mặt hàng, cụ thể là đất hiếm, như gallium, germanium… Lợi thế của Trung Quốc là nắm độc quyền về nhiều loại đất hiếm.

    Để thấy được tác động của các biện pháp chọn lọc của Trung Quốc, tôi lấy ví dụ về Skydio, công ty lớn này vốn rất ít được công chúng biết đến. Đây là công ty sản xuất drone quan trọng nhất của nước Mỹ, chuyên cung cấp cho quân đội Mỹ và quân đội Israel. Từ khoảng 6 tháng nay, hoạt động của Skydio bị đình trệ, do thiếu đi một loại bình điện được sản xuất tại Trung Quốc.

    Một loại biện pháp trả đũa thứ ba là Bắc Kinh khởi động vụ kiện chống độc quyền nhắm vào Google. Biện pháp này bị coi là khó hiểu, bởi Google bị cấm hoạt động tại Trung Quốc. Tuy nhiên, vụ kiện này là một tín hiệu cho thấy Bắc Kinh có thể khởi kiện chống độc quyền, không phải nhắm vào Google, nhưng là vào hai tập đoàn Tesla và Apple, mà Trung Quốc là thị trường lớn thứ hai. Nếu hai tập đoàn lớn nhất trong số 7 tập đoàn của Mỹ mất thị trường Trung Quốc, thì đây quả là tai hại đối với thị trường tài chính Wall Street. Những đòn trả đũa của Trung Quốc có vẻ nhỏ nhẹ, nhưng là những tín hiệu cho thấy, nếu Trump ra đòn quá mạnh thì Mỹ có thể gánh chịu những hậu quả nặng nề hơn Trung Quốc ».

    Theo chuyên gia về chính sách đối ngoại Mỹ Jude Blanchette, giám đốc trung tâm nghiên cứu châu Á của RAND (Research And Development – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển), chuyên tư vấn cho Quân đội Mỹ, tuy quan hệ Mỹ - Trung có thể được nhiều người kỳ vọng sẽ bước vào giai đoạn giảm căng thẳng về thương mại và quân sự nhờ một « thỏa hiệp lớn » giữa Trump và Tập, nhưng sự ngờ vực cao độ giữa hai bên có thể chuyển thành thế đối đầu ngày càng gia tăng. Jude Blanchette nhấn mạnh đến việc Trung Quốc chọn hành xử thận trọng nhằm giảm thiểu thiệt hại trong « tình trạng hỗn loạn » hiện nay (bài « China Sees Opportunity in Trump’s Upheaval » (Trung Quốc nhìn thấy cơ hội trong cuộc đảo lộn  của Trump), Foreign Affairs, ngày 27/03/2025).

    Sách lược « bất nhất » và hung bạo của Trump đẩy nhiều đồng minh về phía Trung Quốc

    Đối đầu giữa khối « phương Tây » và Trung Quốc hiện rõ tại Diễn đàn Kinh tế Bác Ngao, (Boao), Hải Nam, năm nay (25-28/03/025). Tham gia « Davos châu Á » lần này chỉ có một đại diện có tầm cỡ thuộc khối « phương Tây », là cựu tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon. Tuy nhiên, trong bối cảnh nguy cơ chiến tranh thương mại và công nghệ với Mỹ lơ lửng trên đầu Bắc Kinh, Trung Quốc nắm giữ lợi thế là nằm ở trung tâm khu vực tăng trưởng cao nhất hành tinh.

    Sự rút lui của Mỹ khỏi nhiều định chế quốc tế, khỏi các quyền lực mềm (soft power) nói chung, cùng các đe dọa đi kèm hành động phá vỡ hệ thống thương mại quốc tế, rõ ràng đã biến Washington trở thành thủ phạm trực tiếp của tình trạng hỗn loạn, đầy bất trắc hiện nay trước mắt thế giới. Tình hình này đang mang lại lợi thế cho Trung Quốc. Trong bài diễn văn thường niên đầu tháng 3, ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (Wang Yi) tuyên bố : « Thế giới đang trong giai đoạn đảo lộn, chỗ dựa vững vàng đáng tin cậy ngày càng trở nên hiếm hoi… Chúng tôi sẽ dùng chỗ dựa vững vàng đáng tin cậy của Trung Quốc để bình ổn thế giới đầy bất trắc hiện nay ».

    • Đọc thêm - Chiến tranh thuế của Trump : Bẻ gãy dòng xuất khẩu Trung Quốc, « đánh gục » các chuẩn mực châu Âu

    Trung Quốc không chỉ hành xử với sách lược uyển chuyển như nước, mà có cao vọng trở thành núi Thái Sơn của thế giới. Trong lúc Trump dựng hàng rào thuế quan chống tất cả thế giới, không loại trừ đồng minh, Bắc Kinh mở vòng tay với hai đồng minh chủ chốt của Mỹ tại khu vực. Trung Quốc cùng với Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm đến một phần tư khối lượng kinh tế toàn cầu và 20% trao đổi thương mại thế giới.

    Tại Diễn đàn Kinh tế Bác Ngao, phía Trung Quốc cổ vũ cho việc Bắc Kinh xích lại gần Seoul và Tokyo. Ngày 30/03, bộ trưởng công nghiệp và thương mại ba nước Đông Bắc Á, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc lần đầu tiên gặp nhau kể từ năm 2020. Sau cuộc họp khẩn này, ba bên đã đồng thuận tái thúc đẩy một thỏa thuận tự do mậu dịch.

    « Hướng dẫn Chiến lược Quốc phòng Quốc gia Tạm thời » của Mỹ : Đài Loan và Nhật Bản ở tuyến đầu

    Tổng thống Donald Trump, trên thực tế, cho dù có những hành xử thô bạo, tiền hậu bất nhất trong nhiều chuyện, nhưng xét về chiến lược toàn cầu, Trump vẫn đang thực thi chính sách xoay trục sang châu Á, trung tâm kinh tế thế giới, chính sách vốn được khởi động từ thời Obama. Có điều chính quyền Trump dường như quyết định dồn toàn lực sang châu Á, bỏ hẳn an ninh châu Âu cho người châu Âu tự lo, kể từ giờ, chiến tranh Ukraina và đe dọa Nga là việc của châu Âu.

    • Đọc thêm : Mỹ « bình thường hóa » quan hệ với Nga: Ác mộng với châu Âu và Ukraina?

    Hơn hai tháng sau khi Trump trở lại nắm quyền, lần đầu tiên bộ trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth được cử đi châu Á. Đúng vào thời điểm chuyến công du này, báo Mỹ đăng tải bản « Hướng dẫn Chiến lược Quốc phòng Quốc gia Tạm thời » (Interim National Defense Strategic Guidance) của bộ trưởng Quốc Phòng. Văn bản chiến lược quốc phòng lưu hành nội bộ này nhấn mạnh đến ưu tiên số một là « ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc xâm chiếm Đài Loan và củng cố quốc phòng nội địa ».

    Văn bản này được một số chuyên gia cho rằng đã là một nguyên nhân khiến Trung Quốc giận dữ bất ngờ tổ chức cuộc tập trận đạn thật oanh kích « các cơ sở hàng hải và năng lượng chiến lược » của Đài Loan. Trung Quốc đã cực lực lên án văn bản của bộ Quốc Phòng Mỹ. Tờ Hoàn cầu Thời báo của đảng Cộng Sản Trung Quốc chỉ trích Washington thổi bùng điểm nóng Đài Loan, đồng thời vạch ra những khác biệt lớn giữa quan điểm của tổng thống Trump, né tránh vấn đề Đài Loan, và quan điểm của bộ Quốc Phòng, coi Đài Loan là vấn đề trọng tâm.

    • Đọc thêm : Trung Quốc bất ngờ tập trận mô phỏng tấn công các cơ sở hạ tầng chiến lược của Đài Loan

    Tình trạng nhiều liên minh với Mỹ tại châu Á, được lập ra dưới thời Biden để ngăn chặn Trung Quốc, bị chính sách của Trump hủy hoại gây khó khăn cho mặt trận đoàn kết ngăn chặn các tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Chuyên gia André Chieng bày tỏ: « Nếu so sánh chính sách của Trump với người tiền nhiệm, ta thấy chính sách của Biden hiệu quả hơn. Chúng ta nhớ rằng Biden đã thiết lập được một loạt cơ chế liên minh để chống lại Trung Quốc : liên minh AUKUS với Anh và Úc, liên minh QUAD với Nhật Bản, Ấn Độ và Úc… Nhờ vậy rút cục đã bao vây được Trung Quốc, thông qua sự phối hợp với các quốc gia đồng minh. Biden đã đặc biệt thành công trong việc hòa giải Nhật Bản với Hàn Quốc, hai nước vốn có bất hòa sâu sắc từ thời Thế chiến Hai với hồ sơ ‘‘phụ nữ giải sầu’’ (phụ nữ bị buộc phải phục vụ trong các nhà thổ của quân đội Nhật), thúc đẩy Nhật – Hàn tham gia vào liên minh với Mỹ. Trong khi đó, Trump trong vòng một hai tháng đã phá hủy tất cả các thành quả như vậy. »

    Đài Loan ở tuyến đầu : Trump có đáng tin ?

    Sau hai tháng cầm quyền đầu tiên của ông Trump, Đài Loan dường như đang dần được xác định sẽ là tâm điểm của cuộc đối đầu Mỹ - Trung về an ninh. Trong chuyến công du châu Âu lần đầu tiên của bộ trưởng Quốc Phòng dưới thời Trump, một điểm đáng chú ý là lãnh đạo quốc phòng hai nước dự lễ tưởng niệm các binh sĩ Mỹ - Nhật tử trận trong một trận chiến khốc liệt thời Đệ Nhị Thế Chiến, dấu hiệu cho thấy quan hệ siết chặt.

    Ngày 30/03, Mỹ - Nhật thỏa thuận tiếp tục dự án, từ thời Biden, nâng cấp trụ sở Lực lượng Mỹ tại Nhật thành sở chỉ huy song phương (joint force headquarters), để tăng cường thế trận răn đe Mỹ - Nhật, đặc biệt tại khu vực tây nam Nhật Bản, với trọng tâm là Đài Loan. Hợp tác quân sự Mỹ - Nhật được tái khởi động dưới thời Trump có đủ giúp Washington khắc chế được các tham vọng quân sự của Bắc Kinh tại khu vực ?

    • Đọc thêm : Tổng thống Trump tráo bàn cờ thế giới, lập mô hình địa-chính trị mới

    Chính sách bất nhất của chính quyền Trump nói chung, về Đài Loan nói riêng, đang gây nhiều lo ngại. Chính quyền Trump có thực sự nỗ lực vì an ninh của Đài Loan ? Trump có chủ trương thổi bùng căng thẳng như Bắc Kinh cáo buộc ? Liệu một chính quyền sẵn sàng chà đạp các giá trị, làm nền tảng cho các liên minh vững chắc, có đáng tin cậy ?Liệu hòn đảo có nguy cơ chịu cùng cảnh ngộ như Ukraina hay không ? Đây là những câu hỏi mà không ít người đặt ra.

    10 min
  • Tự chủ phòng thủ : Đức khó từ bỏ « ô an ninh » Mỹ

    Ngày 22/03/2025, Nghị Viện Đức cuối cùng đã thông qua kế hoạch đầu tư khổng lồ của thủ tướng tương lai Friedrich Merz. Cuộc cải cách này sẽ cho phép Đức thúc đẩy nhanh tiến trình tái vũ trang đất nước.

    Không còn là điều cấm kỵ, kể từ giờ Friedrich Merz nói đến một sự tự chủ chiến lược châu Âu, phát triển hệ thống phòng thủ chung châu Âu và thậm chí đề nghị thảo luận về việc mở rộng ô hạt nhân Pháp. Liệu nước Đức, dưới thời thủ tướng Friedich Merz có sẽ xoay lưng lại với Mỹ, đồng minh lâu năm của mình?

    Anh ninh : Nền tảng cơ bản cho quan hệ Đức – Mỹ

    Trong một bài diễn đàn đăng trên nhật báo Công giáo La Croix, ngày 24/02/2025, nhà nghiên cứu Marie Krpata, chuyên gia về quan hệ Pháp – Đức, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), đã nhắc lại rằng, chính sách của thủ tướng Đức mãn nhiệm Olaf Scholz được đánh dấu bởi bài diễn văn nổi tiếng « Zeitenwende », « Thay đổi thời đại », ngày 27/02/2022, vài ngày sau khi nổ ra chiến tranh Ukraina, buộc nước Đức phải xem lại các nền tảng cơ bản của mình : Chi tiêu nhiều hơn cho quân sự, chấm dứt nhiều thập kỷ quan hệ chặt chẽ với Nga và thoát khỏi tình trạng phụ thuộc.

    Tuy nhiên, nhìn từ Pháp, chính sách này của ông Olaf Scholz thiên về phía Mỹ nhiều hơn là châu Âu, nghĩa là mua nhiều vũ khí của Mỹ hơn, một sự liên kết chặt chẽ giữa thủ tướng Đức Olaf Scholz và tổng thống Mỹ Joe Biden trước Nga, về việc mở rộng NATO và cung cấp vũ khí cho Ukraina.

    Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà nghiên cứu Marie Krpata, trước hết nhắc lại đôi nét về quan hệ Đức – Hoa Kỳ :

    Marie Krpata : « Tôi nghĩ rằng điều quan trọng cần hiểu là Cộng hòa Liên bang Đức vào cuối Thế chiến thứ hai đã được xây dựng trên một mối liên kết xuyên Đại Tây Dương rất mạnh mẽ, có nghĩa là sự neo giữ của Đức trong phe phương Tây, cũng như là tư cách thành viên trong các định chế châu Âu – Đại Tây Dương. Đương nhiên, NATO đóng vai trò rất quan trọng, nhưng trên thực tế, Hoa Kỳ là bên bảo đảm chính cho an ninh của Đức thông qua 37.000 binh lính Mỹ đang đồn trú trên lãnh thổ Đức, đồng thời Hoa Kỳ đóng vai trò quan trọng trong việc răn đe hạt nhân. »

    Trump, J. D. Vance và bước rẽ ngoặt của Đức

    Tuy nhiên, việc ông Donald Trump trở lại Nhà Trắng một cách ngoạn mục đang đặt nhiều nghi vấn về mối quan hệ giữa Đức và Hoa Kỳ, cũng như là sự bảo đảm an ninh mà Mỹ dành cho Đức, vốn đã phần nào xuống cấp ngay từ nhiệm kỳ đầu tiên của ông Donald Trump.

    Thái độ nghi ngờ đó đã được thể hiện rõ trong bài phát biểu của ông Friedrich Merz ngay sau khi có kết quả thắng cử trong cuộc bỏ phiếu liên bang. Trái với lập trường trung lập cho đến hiện tại, khi chỉ nói đến « năng lực hành động », thủ tướng tương lai của Đức không những đề xuất tăng ngân sách quốc phòng từ 2% GDP lên mức 3%, mà còn kêu gọi, « độc lập chiến lược cho châu Âu », những từ ngữ cho đến nay bị xem là cấm kỵ.

    Trả lời RFI Tiếng Việt, bà Marie Krpata giải thích sự thay đổi giọng điệu này của Đức phần nào đến từ những động thái từ các quan chức tân chính quyền Trump những tháng gần đây, từ những lời đả kích của phó tổng thống Mỹ J.D. Vance ở Hội nghị An ninh Munich, màn hạ nhục tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky ở Nhà Trắng ,cho đến những lời dọa dẫm của nguyên thủ Mỹ Donald Trump đối với Đức và các đồng minh châu Âu khác.

    Marie Krpata : « Thật vậy, điều chúng ta có thể nói là ngay từ nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của Donald Trump, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Đức đã xấu đi, vì ngay cả khi đó Donald Trump vẫn coi Đức như là « kẻ lữ hành bất chính » trong Liên minh Bắc Đại Tây Dương và rằng Đức đang lợi dụng Hoa Kỳ. Ông đề cập đến thực tế là Đức có thặng dư thương mại với Hoa Kỳ. Chúng ta có thể nhớ lại rằng vào năm 2024, thặng dư thương mại này là 63 tỷ euro .

    Rồi ông còn dọa sẽ rút quân đội Mỹ khỏi nước Đức. Ông áp thuế hải quan đối với thép và nhôm của châu Âu. Ông đe dọa sẽ áp thuế đối với ngành công nghiệp ô tô châu Âu, điều này rõ ràng sẽ tác động lớn đến ngành công nghiệp ô tô của Đức. Chúng ta đã trải nghiệm về nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của Donald Trump, và cuối cùng là 4 năm của Joe Biden, về cơ bản chỉ là quãng lặng vì Joe Biden là người có tư tưởng chủ nghĩa Đại Tây Dương, và do vậy Đức vẫn luôn hướng về Mỹ. »

    « Zeitenwende 2.0 » : Thiên Mỹ hay châu Âu ?

    Trước sự « trở mặt » của Mỹ, như nhiều đánh giá từ giới chuyên gia tại Pháp, phiên bản « Zeitenwende 2.0 » của ông Friedrich Merz kêu gọi tự chủ chiến lược và cải cách ngân sách có đồng nghĩa với việc Đức sẽ đầu tư ồ ạt cho công nghiệp vũ khí châu Âu hay không ? Liệu Berlin có sẽ bỏ qua được các chiếc F-35 của Mỹ để thay thế bằng Rafale của Pháp, hay Gripen của Thụy Điển?

    Nếu như bà Marie Krpata nhìn nhận Đức có nhu cầu to lớn để cải thiện năng lực quân đội, thì khả năng Berlin từ bỏ đồng minh Washington hiện là điều khó thể, và không hợp lý. Trên làn sóng RFI Tiếng Việt, bà giải thích tiếp :

    Marie Krpata : « Chúng ta biết rằng trong quá khứ, Pháp đã thúc đẩy mạnh mẽ việc tăng cường cơ sở công nghiệp quốc phòng châu Âu và ưu tiên vũ khí châu Âu, và trong quá khứ, Đức đã mua rất nhiều vũ khí của Mỹ, và quý đài đã đề cập đến F-35, máy bay chiến đấu của Mỹ, nhưng khi chiến tranh nổ ra ở Ukraina, Đức đã mua 35 tiêm kích F-35. Nhìn từ Pháp, điều đó đã gây ra một số thất vọng, vì Đức, Pháp và Tây Ban Nha đang nghiên cứu SCAF, Hệ thống Không quân Chiến đấu Tương lai mà một số khía cạnh  cũng tương đương với F-35.

    Nhưng lập luận của Đức hoàn toàn hợp lý : Nước này đang mua những chiếc F-35 đã có sẵn, trong khi hệ thống chiến đấu trên không trong tương lai thì sớm nhất là đến năm 2040 mới có. Và rõ ràng, xét về khả năng răn đe hạt nhân, F-35 đặc biệt quan trọng. Chừng nào chưa có thỏa thuận về chia sẻ hạt nhân giữa Pháp và Đức, giống như các thỏa thuận chia sẻ hạt nhân giữa Đức và Hoa Kỳ, SCAF và Rafale sẽ không thực sự là những lựa chọn thay thế tương đương với F-35.

    Vì vậy, Đức không thể tách khỏi Hoa Kỳ một cách dễ dàng như vậy, khả năng Đức rời xa Hoa Kỳ ở mức độ này là điều không mong muốn và không hợp lý. »

    Ba sự phụ thuộc

    Trong một bài ghi chú đăng trên mạng của Viện IFRI, nhà nghiên cứu Marie Krpata lưu ý rằng Đức phụ thuộc rất nhiều vào Mỹ trong ba lĩnh vực : An ninh – Quốc phòng, Năng lượng và Thương mại. Liệu một trong ba yếu tố này có thể cản trở Friedrich Merz xích lại gần hơn với các đối tác châu Âu hay không, nhất là với láng giềng Pháp. Về điểm này, bà Marie Krpata giải thích:

    Marie Krpata : « Thực tế, phạm vi hành động của Đức đang bị thu hẹp vì nước này ngày càng phụ thuộc vào Mỹ về an ninh và quốc phòng kể từ khi chiến tranh ở Ukraina nổ ra, do Đức đã mua rất nhiều thiết bị quân sự của Mỹ. Mặt khác, về mặt năng lượng, kể từ khi tách khỏi Nga, Hoa Kỳ đã trở thành quốc gia thiết yếu trong việc cung cấp khí đốt tự nhiên hóa lỏng. Và sau đó, vào năm 2024, Hoa Kỳ đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức, soán ngôi Trung Quốc.

    Vì vậy, đây là ba đòn bẩy mà Hoa Kỳ có thể sử dụng để tăng áp lực lên Đức và chắc chắn Hoa Kỳ sẽ cố gắng bán thêm vũ khí cho Đức, bán thêm khí đốt tự nhiên hóa lỏng. Họ cũng có thể cố gắng ép Đức đồng tình với chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, cũng như là việc nới lỏng các quy định của châu Âu về bảo vệ khí hậu, về các vấn đề kỹ thuật số để tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty Mỹ tiếp cận thị trường châu Âu. »

    Cuối cùng, theo nữ chuyên gia về quan hệ Pháp – Đức, câu hỏi lớn đặt ra ở đây là: « Liệu trong bối cảnh này, nước Đức có bị cám dỗ hành động đơn độc và do đó cuối cùng sẽ để lợi ích của riêng nước Đức thắng thế, sẽ co cụm lại, hay nước sẽ thực sự chấp nhận một tầm nhìn chung của châu Âu về mọi thứ ? »

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà nghiên cứu Marie Krpata, chuyên gia về quan hệ Pháp – Đức, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp.

    10 min
  • Mỹ « bình thường hóa » quan hệ với Nga: Ác mộng với châu Âu và Ukraina?

    Đầu năm 2025, lịch sử thế giới như đang tăng tốc. Cuộc xâm lăng của Nga vào Ukraina, khởi đầu từ tháng 2/2022, bước sang giai đoạn đầy bất định với việc tổng thống Mỹ Donald Trump đảo ngược hoàn toàn chính sách của người tiền nhiệm : Nga từ đối thủ chuyển thành đối tác, Ukraina từ chỗ là đồng minh có nguy cơ bị gạt hẳn ra rìa.

    Chủ trương của chính quyền tổng thống Trump bình thường hóa nhanh chóng quan hệ với Matxcơva, thách thức các giá trị chung về dân chủ, nhân quyền, nhà nước pháp quyền, đang đặt Liên Hiệp Châu Âu nói riêng và Châu Âu nói chung trước thách thức chưa từng có kể từ Thế Chiến Hai.

    Cuộc điện đàm lần thứ hai : Trump ngả hẳn về phía Putin

    Ông Donald Trump trước khi làm tổng thống đã tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh tại Ukraina trong « vòng 24 giờ », thời hạn sau đó được chuyển thành 100 ngày. Trên truyền thông, tổng thống Mỹ liên tục thể hiện mình là nhà lãnh đạo mong muốn hòa bình, thương xót cho sinh mạng của hàng nghìn người vô tội trong cuộc chiến tranh, mà theo ông sẽ không thể nổ ra, nếu Donald Trump làm tổng thống nước Mỹ vào thời điểm đó. Giải Nobel Hòa bình cũng thường được nhiều người cho là ước mơ của nhà lãnh đạo bị coi là ái kỷ.

    Ba tuần sau khi nhậm chức, ngày 12/02/2025, Donald Trump đã điện đàm với tổng thống Nga Vladimir Putin. Các cuộc đàm phán Mỹ - Nga tìm giải pháp cho chiến tranh Ukraina và nối lại quan hệ ngay lập tức bắt đầu tại Ả Rập Xê Út. Ngày 18/03, đã diễn ra cuộc điện đàm thứ hai rất được trông đợi của tổng thống Mỹ với lãnh đạo Nga. Một trong các mục tiêu của cuộc điện đàm là để phía Nga đưa ra quan điểm chính thức về đề xuất « ngừng bắn toàn diện 30 ngày » không kèm theo các điều kiện tiên quyết, để mở đường cho các đàm phán Nga – Ukraina tìm giải pháp hòa bình bền vững. Về mặt chính thức, đề xuất của Mỹ, mà Ukraina chấp thuận, cũng được các nước châu Âu ủng hộ.

    Rút cuộc trong cuộc điện đàm ngày 18/03, tổng thống Nga chỉ chấp nhận ngừng bắn 30 ngày đối với các cơ sở hạ tầng năng lượng, và một lần nữa nhấn mạnh đến các đòi hỏi triệt để, như yêu cầu phương Tây ngừng viện trợ quân sự, Kiev phải ngừng tuyển quân, những dấu hiệu ban đầu cho thấy Matxcơva không để ngỏ khả năng đàm phán về một nền hòa bình bền vững.

    Đọc thêmTriển vọng đàm phán Nga - Mỹ về Ukraina: Chiến lược đòi hỏi tối đa của Putin

    Theo nhiều nhà quan sát, tổng thống Donald Trump, người thường tự quảng bá là làm chủ nghệ thuật đàm phán, cho phép đạt được những kết quả khó tin, trong cuộc điện đàm với Putin đã gần như không thu được kết quả đáng kể nào. Trả lời RFI sau cuộc điện đàm Trump – Putin lần thứ hai, chuyên gia về địa chiến lược Nicolas Tenzer, giảng viên Học viện Sciences – Po, Paris, nghiêng về quan điểm, trên thực tế tổng thống Mỹ đã ngả hẳn về phía điện Kremlin:

    « Tôi không chắc là Trump đã thực sự muốn áp đặt với Putin một điều gì đó, nếu không phải chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn mang tính hình thức này. Mà ngay ở thỏa thuận ngừng bắn nói trên, Trump cũng không thành công. Về thực chất, Putin hiểu rõ rằng Trump không coi Ukraina là gì cả. Giữa hai người, tổng thống Nga và tổng thống Mỹ, có một sự đồng cảm về ý thức hệ. Cả hai đều có chung quan điểm không coi Ukraina ra gì. Thậm chí, hơn thế nữa hai tổng thống Mỹ, Nga cũng không đếm xỉa gì đến vấn đề ‘‘tội ác chiến tranh’’, ‘‘tội ác chống nhân loại’’ của quân đội Nga ở Ukraina. Họ cũng bất chấp số phận của các trẻ em Ukraina bị bắt sang Nga. Họ bất chấp luật pháp quốc tế, luật pháp quốc tế về biên giới. Trump chỉ muốn qua việc này củng cố hình ảnh của bản thân. Nhưng điều nghịch lý là, ngay cả với mục tiêu này, Trump cũng không thành công, bởi vì tổng thống Mỹ xuất phát từ thế yếu. Chúng ta nhớ là trong cuộc điện đàm đầu tiên (ngày 12/02/2025), Trump đã nhượng bộ tất cả với Putin. Điều đó cho thấy là Trump không còn khả năng nào để áp đặt với Putin bất cứ điều gì ! »

    Đảo ngược chính sách: Nga từ đối thủ chuyển thành « nước bạn » tương lai

    Chuyên gia về địa chiến lược Nicolas Tenzer cũng như nhiều nhà quan sát khác nghiêng về khả năng Donald Trump và Vladimir Putin đã sớm có một thỏa thuận ngầm về chiến tranh tại Ukraina và trong hồ sơ này, sự tồn vong của một quốc gia Ukraina không có ý nghĩa đáng kể gì. Sau đây là nhận định của nhà nghiên cứu Nicolas Tenzer với Đài Europe 1, sau cuộc điện đàm Trump – Putin đầu tiên hôm 12/02:

    « Chúng ta thấy có vẻ như Trump đã đạt được một thỏa thuận ngầm với Putin. Trump đã quên hẳn việc nêu ra vấn đề tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại mà Nga đã phạm phải tại Ukraina. Trump sẵn sàng, ta có thể nói, ‘‘đẩy Ukraina khỏi chuyến xe’’. Không có lời nào khác hơn để mô tả thực tế này. Bây giờ điều rất quan trọng là châu Âu phải có một tiếng nói thống nhất : Phải cho thấy điều này là không thể chấp nhận được ! Trump không thể một mình thỏa thuận riêng với Putin (về chiến tranh Ukraina). Chúng ta cần nhớ rằng, cho đến nay, các nước châu Âu gồm Liên Âu cùng Anh Quốc, Na Uy, đã hỗ trợ Ukraina nhiều hơn nước Mỹ. Như vậy, chúng ta cần phải có mặt tại bàn đàm phán, cho dù Trump không muốn như vậy. »

    Sự trở lại của Trump và 3 kịch bản với Liên Âu : Củng cố, suy yếu – chia rẽ, hay tan rã 

    Cuộc xâm lăng của Nga vào Ukraina bùng lên đầu năm 2022, khối 27 nước ngay lập tức đứng về phía Ukraina. Một mặt trận hậu thuẫn rộng lớn đối với Ukraina được thiết lập. Về mặt ngoại giao, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ra nhiều nghị quyết lên án Nga xâm lược với khoảng 140 phiếu thuận trên tổng số hơn 190 thành viên. Hàng loạt biện pháp trừng phạt Nga được Mỹ, Liên Âu và các đồng minh khác. Cùng với Mỹ, Liên Âu là một bên hỗ trợ chủ yếu về quân sự cho Kiev.

    Tuy nhiên, cuộc xâm lăng của Nga chống Ukraina không chỉ là do tham vọng của Nga, muốn khôi phục lại đế chế hùng mạnh xưa kia, như đúc kết của nhiều chuyên gia. Cuộc chiến này diễn ra trong bối cảnh « kiến trúc an ninh châu Âu », được xác lập từ nửa thế kỷ nay, đặc biệt với Hiệp định Helsinki 1975, được ký kết thời Chiến tranh Lạnh với thế đối đầu giữa hai khối cộng sản và phương Tây, đã hoàn toàn rệu rã. Thời thế đã hoàn toàn thay đổi, nhưng các quốc gia trong khu vực, và đặc biệt là khối Liên Hiệp Châu Âu, đã không có được một tầm nhìn và nỗ lực tương xứng để xác lập một « kiến trúc an ninh » mới, cho phép duy trì một nền hòa bình bền vững.

    Đọc thêmNửa thế kỷ ''Hiệp định Helsinki'': Chiến tranh Ukraina xóa sổ "Kiến trúc an ninh châu Âu"

    Kể từ khi chiến tranh bùng nổ, chính quyền Mỹ thuộc phe Dân chủ được coi là đứng cùng một chiến hào với châu Âu. Thế cân bằng mong manh của « kiến trúc an ninh » cũ còn tạm được duy trì với việc Mỹ tiếp tục vai trò bảo trợ về an ninh cho châu Âu, như từ hơn 70 năm nay.

    Ngược lại, việc ông Trump trở lại nắm quyền đang dẫn đến những đảo lộn khó lường. Mùa hè năm ngoái, trong một bài phân tích trên Foreign Policy, nhà nghiên cứu về chính trị quốc tế Hal Brands, trường Johns Hopkins School of Advanced International Studies (Mỹ), nêu ra ba kịch bản với châu Âu, nếu Donald Trump trở lại. Theo kịch bản lạc quan, Liên Âu vẫn tiếp tục tồn tại và được củng cố. Kịch bản thứ hai là Liên Âu « suy yếu và chia rẽ ». Tuy nhiên đây chưa phải kịch bản tệ nhất. Kịch bản kinh hoàng nhất với Liên Âu, theo Hal Brands, là Hoa Kỳ « rút » các bảo đảm an ninh với châu Âu, các thế lực dân tộc chủ nghĩa trỗi dậy khắp các nước châu Âu, can thiệp Nga vào nội bộ châu Âu trở nên dễ dàng hơn gấp bội. Nhà nghiên cứu Mỹ Hal Brands cảnh báo đây hoàn toàn không phải là một tương lai xa vời, bởi lịch sử đã cho thấy lục địa châu Âu vốn dẫn đầu thế giới, về kinh tế và nhiều mặt khác trong hàng thế kỷ, cũng là nơi đã diễn ra không ít lần xung đột huynh đệ tương tàn, và là đầu mối của hai cuộc Đại chiến thế giới.

    Nhà nghiên cứu Giuseppe Spatafora, Viện Nghiên cứu An ninh Liên Hiệp Châu Âu (The European Union Institute for Security Studies - EUISS), trụ sở tại Paris, trong bài « The Trump card: What could US abandonment of Europe look like? » (tạm dịch là ‘‘Lá bài của Trump: Nước Mỹ có thể từ bỏ châu Âu như thế nào ?’’) (đăng tải ngày 17/02/2025) cũng kêu gọi chú ý đến kịch bản tồi tệ nhất là chính quyền Trump sử dụng lá bài bảo trợ an ninh để bắt chẹt châu Âu và chia rẽ châu Âu. Chuyên gia Viện Nghiên cứu An ninh Liên Hiệp Châu Âu nhấn mạnh, việc chính quyền Trump bỏ rơi châu Âu « là thách thức sống còn đối với an ninh châu Âu ».

    Mỹ - Nga hữu hảo, Washington rút hỗ trợ quân sự: Châu Âu phải đối mặt với kịch bản đen tối nhất

    Cuộc điện đàm Trump – Putin lần thứ hai kể từ khi Trump trở lại Nhà Trắng tiếp tục gây thêm nhiều lo ngại với châu Âu. Trang mạng song ngữ Pháp – Hà Lan Trends-Tendances, tuần báo kinh tế chủ chốt ở Bỉ, có bài « Ukraina và Liên Âu lo ngại việc Trump – Putin ‘‘bình thường hóa’’, ngừng bắn chỉ liên quan đến năng lượng và cơ sở hạ tầng ». Trends-Tendances nói rõ : « châu Âu phải chuẩn bị đối phó với đe dọa gia tăng từ Nga, với sự đồng thuận của Trump ».

    Tuần báo kinh tế Bỉ chú ý đến việc trong lúc tổng thư ký khối NATO Mark Rutte và thủ tướng Ý Giorgia Meloni, được coi là lãnh đạo châu Âu thân Trump nhất, bày tỏ niềm tin vào quyết tâm của chính quyền Trump tìm giải pháp hòa bình cho Ukraina, chủ tịch Ủy Ban Châu Âu Ursula von der Leyen khẳng định châu Âu cần nỗ lực vượt bậc để đến năm 2030 có được một lực lượng quốc phòng « có đủ khả năng răn đe ». Phát biểu của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu được đưa ra tại Học viện Quân sự Hoàng gia của Đan Mạch, một trong những quốc gia châu Âu hỗ trợ quân sự sớm nhất và mạnh nhất cho Ukraina, tính theo GDP.

    Chuyên gia Nicolas Tenzer lưu ý đến áp lực buộc châu Âu phải nỗ lực gấp bội về quốc phòng và không được để Mỹ, Nga đàm phán trên lưng Ukraina:

    « Châu Âu có các phương tiện, và chúng ta phải làm nhiều hơn, hơn rất nhiều. Chúng ta bắt buộc phải chuyển sang nền kinh tế thời chiến. Chúng ta phải đầu tư nhiều hơn cho quốc phòng. Mục tiêu chi cho quốc phòng từ 3% đến 4% GDP cần phải đạt được trong thời gian sớm nhất. Đây là một nỗ lực đáng kể. Nhưng chúng ta cần hiểu rằng Ukraina sẽ tiếp tục bị tấn công, cho dù có chấp nhận việc Nga kiểm soát các vùng lãnh thổ hiện tại. Thời gian hưu chiến sẽ cho phép quân đội Nga tái vũ trang.

    Tiếp theo đó, theo các tin tức tình báo từ nhiều nước phương Tây, châu Âu sẽ nằm trong mục tiêu tấn công tương lai của Nga. Trump tuyên bố muốn sớm chấm dứt chiến tranh tại Ukraina, nhưng trên thực tế ông đã chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh mới. Nếu có một thỏa thuận gọi là ‘‘hòa bình’’ trong hiện tại, thì trên thực tế đây sẽ chỉ là một khoảng lặng trước khi chiến tranh bùng nổ trở lại trong hai, ba năm tới. Đây là điều rất nguy hiểm, châu Âu rất lo ngại. Nước Nga có thể tận dụng khoảng thời gian này để hồi sức, sau một thời gian kinh tế Nga, quân đội Nga gánh chịu các hậu quả nặng nề do chiến tranh.

    Chính vì vậy, thách thức đối với châu Âu là phải nỗ lực gấp bội về quốc phòng, và đặc biệt là không thể chấp nhận một thỏa thuận gọi là hòa bình cho Ukraina mà không mang lại một nền hòa bình thực sự. Người dân Ukraina hiển nhiên là mong muốn chiến tranh kết thúc, kết thúc các hành động gây hấn của Nga từ 11 năm nay, và cuộc xâm lăng toàn diện từ 3 năm nay. Vấn đề là, như một cựu dân biểu Ukraina nói, nếu chúng tôi tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ mất thêm hàng nghìn người. Nhưng nếu chúng tôi ngừng chiến đấu, sẽ có hàng triệu người chết. Tôi cho rằng tình hình có thể tóm tắt như vậy. Người dân Ukraina muốn hòa bình, nhưng họ không muốn hòa bình đi kèm với việc đất nước tiêu vong. Tổng thống Ukraina Zelensky nói : Ukraina có thể biến mất. Đây là một viễn cảnh hiện thực, nếu Ukraina ngừng chiến đấu. »

    Sự lựa chọn của châu Âu

    Theo nhiều nhà quan sát, nỗ lực nối lại quan hệ với Nga mới là ưu tiên của chính quyền Trump, còn việc tìm ra một giải pháp hòa bình bền vững cho Ukraina và châu Âu dường như là điều thứ yếu. Viễn cảnh Mỹ - từng là đồng minh số một và thế lực bảo trợ cho an ninh châu Âu - một mặt tái lập quan hệ với Matxcơva, mặt khác từ chối đóng góp vào việc bảo đảm an ninh cho Ukraina, và thậm chí để lửng vấn đề bảo đảm an ninh cho toàn khối, đang đặt Liên Âu và Ukraina trước đe dọa tồn vong.

    Đọc thêmChiến tranh Ukraina: Tổng tham mưu trưởng 30 nước họp tại Anh Quốc

    Việc nước Mỹ của Donald Trump và nước Nga Putin hợp tác trên lưng Ukraina, và thậm chí trên lưng châu Âu là điều mà nhiều nước châu Âu liên tục cảnh báo. Thách thức trước mắt là châu Âu sẽ có chính sách chung như thế nào về cuộc chiến Ukraina ? Hậu thuẫn đến cùng để Ukraina có thể trụ vững trước Nga, và như vậy tăng cường khả năng bảo vệ an ninh của toàn khối hay tiếp tục vừa làm, vừa chờ đợi, nghe ngóng những tín hiệu tiền hậu bất nhất từ phía Washington ? Châu Âu sẽ chọn nền hòa bình nào : Hòa bình bền vững và chủ động có thể đạt được với việc tăng cường nội lực, và khả năng răn đe, hay một nền « hòa bình » đầy bất trắc, dựa trên các thỏa thuận song phương Mỹ - Nga ? Nhiều tín hiệu cho thấy, trong bối cảnh khó khăn chồng chất, các nước châu Âu dường như đã chọn hướng đi đầu tiên.

    10 min
  • Triển vọng đàm phán Nga - Mỹ về Ukraina: Chiến lược đòi hỏi tối đa của Putin

    Ngày 11/03/2025, tại Ả Rập Xê Út, sau tám giờ đàm phán, Kiev đã chấp nhận đề xuất của Washington về một lệnh ngừng bắn 30 ngày. Thỏa thuận này sẽ được phía Mỹ chuyển cho Nga. Tuy nhiên, theo một số nhà quan sát, nếu như tổng thống Donald Trump có vẻ nóng lòng muốn chấm dứt chiến tranh Ukraina, thì đồng nhiệm Nga Vladimir Putin tỏ ra không mấy vội vã đàm phán với Mỹ.

    Hiện tại Matxcơva vẫn chưa có phản ứng gì về thỏa thuận giữa Washington và Kiev. Động thái mới nhất của Nga là một ngày sau khi có kết quả về đàm phán Mỹ - Ukraina, truyền thông Nga đưa tin tổng thống Vladimir Putin lần đầu tiên bất ngờ đến thăm vùng Kursk, bị Ukraina chiếm giữ từ hồi tháng 8/2024. Tại đây, ông được thông báo là hơn 430 binh sĩ Ukraina đã bị bắt làm tù binh.

    Cảm giác bất an

    Dự thảo hưu chiến 30 ngày sẽ phải được phía Mỹ chuyển đến Nga trong nay mai. Truyền thông phương Tây nói rằng áp lực giờ ở phía Nga. Bà Vera Grantseva, giảng viên trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po tại Paris, trên tờ 20 Minutes, tự hỏi : « Ông Trump có những đòn bẩy nào để có thể buộc Putin chấp nhận hòa bình » trong một cuộc chiến diện rộng ? Một cuộc chiến mà theo quan điểm của nhà phân tích Peter Schroeder, nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm An ninh Mới của Hoa Kỳ, là do chính ông Putin « chọn lựa », nhằm đối phó với một « mối đe dọa an ninh cấp bách ».

    Trái với nhiều nhận định cho rằng Vladimir Putin là một « kẻ cơ hội », rằng ông phát động chiến tranh là vì có « lòng tham lãnh thổ và quyền lực », nhà phân tích Peter Schroeder, trên trang Foreign Affairs ngày 03/09/2024, nhắc lại rằng cuộc chiến xâm lược Ukraina xuất phát từ nỗi bất an cho an ninh nước Nga trong tương lai của ông Putin. Đây là một cuộc chiến để phòng ngừa « Ukraina trở thành một quốc gia chống Nga, nếu không ngăn chặn, có thể bị phương Tây lợi dụng để phá hoại sự gắn kết tại nước Nga và việc đón nhận các lực lượng NATO có thể đe dọa chính nước Nga ».

    Do vậy, theo quan điểm của Neil Melvin, giám đốc nghiên cứu về An ninh Quốc tế tại RUSI, hòa bình chưa hẳn là mục tiêu đầu tiên của Nga. Trả lời kênh truyền hình tư nhân Euronews, ông phân tích :

    « Tôi nghĩ rằng tổng thống Putin bước vào cuộc chiến này vì hai lý do cụ thể. Thứ nhất, bởi vì ông ấy có một tầm nhìn lịch sử đặc biệt về nước Nga : Một nước Nga Vĩ đại, nước Nga của thời kỳ tiền cách mạng, thời kỳ tiền Xô Viết, một dạng đế chế - đế quốc Nga, mà ở đó, nhiều vùng lãnh thổ của Ukraina đương đại, trong tầm nhìn này, bị xem như những vùng đất chủ chốt của Nga, bởi vì chúng đã bị nhiều đời Nga hoàng khác nhau chiếm giữ. Lý do thứ hai là nhằm bẻ gãy sự gắn kết giữa  châu Âu và Mỹ, và nhất là đẩy lui sự hiện diện an ninh của Mỹ tại châu Âu ». Nói một cách khác là « bắt Ukraina phục tùng về mặt chính trị ».

    Các mục tiêu tối đa của Nga và lập trường bất nhất của Trump

    Trong tầm nhìn này, mục tiêu trước mắt của tổng thống Nga là đạt được tối đa các yêu sách của mình : Nhượng thổ, thay đổi chế độ, trung lập và giải giáp Ukraina – những đòi hỏi khắc nghiệt mà Kiev khó thể chấp nhận.

    Trong khi những mục tiêu trên của Nga vẫn là bất di bất dịch, thì tổng thống Trump lại có những lập trường bất nhất. Để có thể mở được đàm phán với Nga, cuối tháng 12/2024, chính quyền Trump đưa ra đề xuất: chấp nhận thực tế các vùng lãnh thổ bị sáp nhập, hình thành vùng đệm phi quân sự do các lực lượng gìn giữ hòa bình châu Âu đảm nhiệm, hoãn việc kết nạp Ukraina vào NATO trong khoảng thời gian 15-20 năm.

    Tuy nhiên, sau khi đã được phía Nga đồng ý mở đàm phán, Mỹ không còn nói hoãn kết nạp Ukraina vào NATO và thay vào đó là hồ sơ này đã khép lại hoàn toàn. Nguyên thủ quốc gia Mỹ còn có những phát biểu mà nhiều nhà quan sát đánh giá là có lợi cho Nga, đi theo tuyên truyền của Nga: « Ukraina rất có thể sẽ là Nga một ngày nào đó »… Tệ hơn nữa là ông đã có màn hạ nhục tổng thống Zelensky ngoạn mục tại phòng Bầu Dục trước ống kính thế giới.

    Tất cả những điều đó phải chăng đó là vì ông Trump ham muốn đúc kết nhanh chóng một hiệp ước hòa bình, để có thể được trao giải Nobel Hòa Bình như người tiền nhiệm Barack Obama, theo như một số nhà quan sát ? Hay đó còn là một chiến lược « có tính toán » của ông Trump hòng làm suy yếu mối quan hệ « không gì lay chuyển » Nga – Trung, theo như phân tích của ông Edward Luttwak, nhà sử học, kinh tế gia và chuyên gia về chiến lược, trên trang mạng Unherd ?

    Học thuyết Gromyko

    Thật khó mà đoán được. Tuy nhiên, theo quan sát từ nhà nghiên cứu về Nga Dimitri Minic, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), chủ nhân điện Kremlin « đang thực hiện điều mà ông ấy đã biết cách làm tại Minsk, trong hai năm 2014-2015 : Thúc đẩy phương Tây "làm một công việc bẩn thỉu" là ép buộc Ukraina phải chấp nhận điều không thể chấp nhận ».

    Chiến thuật này của Nga có ba lợi thế lớn : Làm suy yếu Kiev, bôi nhọ hình ảnh của phương Tây và làm gia tăng hơn nữa nỗi oán giận của người dân Ukraina đối với phương Tây. Và do vậy, Nga chẳng cần phải vội vã đến mức như phương Tây nghĩ để tự trấn an mình : Hoặc ông Trump giúp điện Kremlin đạt được tối đa các mục tiêu đề ra, hoặc các cuộc đàm phán thất bại. Nước Nga, tin rằng có thể giành được thắng lợi trên chiến trường, sẽ tiếp tục cuộc chiến.

    Cách nhìn này của ông Putin được thể hiện rõ qua cuộc trả lời phỏng vấn gần đây nhất dành cho truyền thông trong nước liên quan đến cuộc đàm phán đầu tiên giữa Mỹ và Nga tại Ả Rập Xê Út và đã được trang Le Grand Continent dịch lại toàn bộ. Khi được hỏi « Ngài có ý định gặp ông Trump khi nào ? », tổng thống Nga đáp rằng cần phải có thời gian để chuẩn bị, xem xét kỹ các lợi ích sống còn của Mỹ hay Nga – « mà Ukraina là một phần ». Theo ông, việc tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh sắp tới đòi hỏi « một sự chuẩn bị chu đáo » nếu « người ta muốn rằng cuộc gặp này sẽ cho ra những kết quả ».

    Về điểm này, nhà cựu ngoại giao Pháp Michel Foucher, được trang Le Grand Continent trích dẫn, lưu ý rằng phương pháp đàm phán của điện Kremlin được tiến hành theo một học thuyết của Gromyko, từng là ngoại trưởng Liên Xô (1957-1985) :

    « Học thuyết này gồm ba điểm : Hãy đòi hỏi tối đa, kể cả những thứ mà quý vị chưa bao giờ có ; đưa ra các tối hậu thư bởi vì quý vị sẽ luôn có được một phương Tây sẵn sàng đàm phán ; cuối cùng, không nhượng bộ điều gì cả, bởi vì quý vị luôn có được một đề xuất tương tự với những gì quý vị tìm kiếm – và nếu có thể hãy đòi hỏi nữa nhằm có được một phần ba hay một nửa những gì quý vị không có lúc ban đầu ».

    Chiến thuật « tâng bốc » Trump và đả kích EU

    Trong khi chờ đợi, Vladimir Putin có những phương pháp « mềm mỏng » với đồng nhiệm Mỹ. Nguyên thủ Nga hiểu rằng Donald Trump rất « thờ ơ » với số phận của Ukraina khi thường xuyên dọa cắt mọi khoản viện trợ (như đã làm những ngày gần đây), đòi bồi hoàn chi viện Mỹ bằng nguồn tài nguyên của Ukraina. Ông Putin cũng biết rõ là Trump xem thường châu Âu, đang rất sợ hãi khi nghĩ đến viễn cảnh nguồn bảo đảm an ninh của Mỹ tan biến.

    Thế nên, trong cuộc trả lời phỏng vấn trên, tổng thống Nga tiếp theo lời J.D Vance tại Munich, đã mạnh mẽ đả kích châu Âu, cáo buộc các nhà lãnh đạo khối này « cuồng loạn » tập thể. Khi phủ nhận những chỉ trích cho rằng Nga gây xáo trộn mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, tổng thống Nga cáo buộc giới lãnh đạo châu Âu phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng đang diễn ra, rằng châu Âu đã can dự « trực tiếp » vào cuộc bầu cử Mỹ…

    Theo ông Dimitri Minic, tổng thống Nga đã biết cách « thao túng » Donald Trump. Một mặt, trong hậu trường, ông từ chối thẳng thừng các đề xuất của Mỹ, tăng cường mối các mối liên minh và đối tác giữa Nga với Trung Quốc, Iran và Bắc Triều Tiên. Nhưng trước công chúng, ông Putin tâng bốc đồng nhiệm Mỹ và « lẽ thường » của ông Trump, ủng hộ những phát biểu của đồng cấp Mỹ về cuộc chiến tranh Ukraina, « lẽ ra đã không xảy ra » nếu như ông Trump ở vị trí Joe Biden.

    Đương nhiên, việc tâng bốc Trump chưa phải là yếu tố mang tính quyết định. Điều cốt lõi là sự lãnh đạm của ông Trump đối với số phận của Ukraina và châu Âu. Hành động tâng bốc này chỉ là một cách để điện Kremlin có thể hành động.

    Không vội vã tạo ra hòa bình

    Nếu như các vòng đàm phán với Nga vẫn chưa được bắt đầu, thì một số mục tiêu tối đa của Matxcơva về mặt cơ bản đã đạt được : Chấp nhận việc sáp nhập một số vùng của Ukraina bị Nga chiếm đóng và « Phần Lan hóa » Ukraina, tức là không trở thành thành viên NATO, bao gồm cả lệnh cấm cung cấp vũ khí và lắp đặt cơ sở hạ tầng quân sự Mỹ tại Ukraina.

    Những ngày sắp tới có lẽ sẽ cho thấy rõ hơn hiệu quả của chiến lược trên của Nga qua việc liệu Mỹ có chấp nhận các điều kiện mà Nga đưa ra trong các cuộc đàm phán chính thức : Loại Zelensky khỏi các cuộc đàm phán và thay đổi chế độ ; Giảm quy mô quân đội Ukraina ; Dỡ bỏ một phần hoặc toàn bộ lệnh trừng phạt của phương Tây và Tạo ra một cấu trúc an ninh mới ở châu Âu, bao gồm cả việc đẩy lùi sự hiện diện của NATO.

    Điều cuối cùng có thể sẽ là một « nhượng bộ » (tạm thời) vì Matxcơva hiểu rằng NATO và mối liên kết xuyên Đại Tây Dương hiện nay đã suy yếu đáng kể. Điện Kremlin tin rằng họ có thể đạt được mục tiêu này thông qua các biện pháp khác hoặc chờ cho Liên minh tan rã. Theo ông Dimitri Minic, nhờ Trump, điện Kremlin sắp đạt được ba mục tiêu chính của chính sách đối ngoại của Liên Xô và Nga : Giải thể NATO – rào cản chính đối với sự bành trướng của Nga tại châu Âu –, ngắt kết nối Hoa Kỳ với châu Âu và kiểm soát không gian hậu Xô Viết.

    Bây giờ Putin đã cho Trump thấy rằng ông không vội vàng tạo ra hòa bình như Trump vẫn tin, và rằng Matxcơva đã làm ơn cho Washington khi chấp nhận mong muốn cấp bách của họ về hòa bình. Trong viễn cảnh này, tương lai của Ukraina và Châu Âu có lẽ đen tối hơn bao giờ hết !

    12 min
  • Nửa thế kỷ ''Hiệp định Helsinki'': Chiến tranh Ukraina xóa sổ "Kiến trúc an ninh châu Âu"

    Vào thời điểm cuộc xâm lược Nga chống Ukraina kéo dài đã hơn ba năm và các nỗ lực to lớn của phương Tây hỗ trợ Kiev và trừng phạt Nga đã không đủ để giúp chấm dứt chiến tranh, giới chuyên gia, chiến lược gia đặt ra nhiều câu hỏi về tương lai chung của an ninh châu Âu. Làm thế nào để chấm dứt cuộc chiến tranh có nguy cơ châm ngòi cho một xung đột quy mô toàn châu lục, thậm chí toàn cầu ?

    Năm nay 2025 là tròn 50 năm Hiệp định Helsinki. Hiệp định, được ký kết ngày 01/08/1975 tại thủ đô Phần Lan thời Chiến tranh Lạnh, là kết quả của hai năm đàm phán trong khuôn khổ của Hội nghị về An ninh và Hợp tác châu Âu (CSCE) (1973 – 1994) (thường được gọi là « tiến trình Helsinki ») cho phép mở ra thời kỳ tan băng giữa khối phương Tây và khối cộng sản, đứng đầu là Hoa Kỳ và Liên Xô, hai siêu cường hạt nhân. Tuyên bố 10 điểm Helsinki được ký kết bởi tất cả các quốc gia thành viên hai tổ chức quân sự thù địch, Liên minh phòng thủ Bắc Đại Tây Dương – NATO và Hiệp ước Varsava.

    Hiệp định Helsinki: Nền móng của « Kiến trúc an ninh châu Âu »

    Các nguyên tắc của Hiệp định Helsinki, như tôn trọng chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, giải quyết các tranh chấp bằng con đường hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản, tăng cường hợp tác giữa các nước… là thỏa hiệp mà hai khối đạt được. Theo nhiều nhà quan sát, Hiệp định này đã cho phép Liên Xô cải thiện hình ảnh trên trường quốc tế sau các đàn áp tàn bạo nhắm vào phong trào dân chủ Mùa xuân Praha năm 1968. Về phía các nước phương Tây, một thành công căn bản là lần đầu tiên nhân quyền được coi là một vấn đề an ninh trong quan hệ giữa các quốc gia.

    Hiệp định Helsinki tiếp tục có ý nghĩa quan trọng sau khi bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô tan rã. Năm 1990, sau khi bức tường Berlin sụp đổ, Hội nghị về An ninh và Hợp tác châu Âu – CSCE, họp tại Paris, đã ra một « Hiến chương Paris vì một châu Âu mới » ghi nhận sự chấm dứt của thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Với Hiến chương Paris vì một châu Âu mới, CSCE có các cơ quan thường trực, như Ban thư ký, hay Trung tâm ngăn ngừa các xung đột, và các cơ chế can thiệp, để sẵn sàng đối phó với các thách thức của kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh.

    • Đọc thêm : Hiệp định tên lửa Mỹ - Liên Xô 1987 bên bờ tan vỡ ? (INF, ký ngày 08/12/1987, là một đóng góp quan trọng giúp chấm dứt cuộc Chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường)

    Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), kế tục Hội nghị CSCE từ năm 1995, đã mở ra khả năng quản lý các xung đột của thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh tại châu Âu bằng con đường hòa bình. Hiệp định Helsinki và các cơ chế, tổ chức phát sinh, cùng với các hiệp ước cắt giảm và kiểm soát vũ khí chiến lược Mỹ - Liên Xô và sau này là Mỹ - Nga, đã cho phép tạo lập lòng tin giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. Hiệp định Helsinki được coi là nền tảng của « kiến trúc an ninh châu Âu » trong nhiều thập niên.

    Chiến tranh Ukraina và Hiệp định Helsinki, từ suy yếu đến tan vỡ

    Đông đảo chuyên gia, nhà quan sát ghi nhận là cuộc xâm lược Ukraina của Nga đã báo tử « trật tự an ninh của châu Âu », được xác lập từ năm 1975 với Hiệp định Helsinki. Cựu đại sứ Pháp Pierre Vimont, nguyên tổng thư ký điều hành của cơ quan đối ngoại Liên Âu, tức nhân vật số hai của ngành ngoại giao Liên Âu (2010-2015), trong bài viết « Một trật tự an ninh châu Âu mới », nhấn mạnh với « chiến dịch quân sự đặc biệt » tại Ukraina, điện Kremlin đã tấn công vào « chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ », những nguyên tắc căn bản nhất của Hiệp định Helsinki, nền tảng của thế cân bằng tại châu Âu được xác lập một cách gian nan vào năm 1975. « Hợp tác kinh tế được dày công vun đắp từ hơn 40 năm qua bị hủy hoại với các đòn trừng phạt kinh tế và tài chính của phương Tây » nhắm vào Nga, « quan hệ giữa các xã hội dân sự, thành tố chủ chốt thứ ba của Hiệp định Helsinki, cũng đứng trước nguy cơ bị cắt đứt hoàn toàn do cuộc xung đột với các áp lực tẩy chay văn hóa Nga và xã hội Nga ».

    Cựu đại sứ Pháp Pierre Vimont ghi nhận việc kiến trúc an ninh châu Âu, ra đời với Hiệp định Helsinki, trên thực tế, đã suy yếu nghiêm trọng từ lâu trước khi Nga mở màn cuộc xâm lăng Ukraina, đặc biệt với cuộc can thiệp quân sự của Nga tại Gruzia, quốc gia thuộc Liên Xô cũ, vào năm 2008 (sau khi Mỹ để ngỏ khả năng Gruzia gia nhập khối NATO) và việc Nga thôn tính bán đảo Crimée năm 2014 và hậu thuẫn các lực lượng ly khai miền đông Ukraina, sau chính biến Maidan, đầu 2014, lật đổ lãnh đạo thân Nga Viktor Yanukovych.

    Tái xây dựng lòng tin hay đại cường phân chia thế giới: Hướng đến « Helsinki II » hay « Yalta II » ?

    Trước thềm cuộc xâm lăng Ukraina, cuối năm 2021, đầu năm 2022, Matxcơva liên tục phát đi các tín hiệu đòi phương Tây, trước hết là Mỹ, xem xét lại « kiến trúc an ninh châu Âu », đòi khối NATO không tiếp tục mở rộng sang phía đông, không kết nạp Ukraina, đồng thời giảm sự hiện diện quân sự tại các nước thành viên mới của NATO tại khu vực thuộc khối Đông Âu cộng sản trước đây, như Ba Lan, Rumani hay các nước Baltic.

    • Đọc thêm : Châu Âu không muốn một Yalta II mà Nga đang cố áp đặt

     

    Đề nghị lúc đó của Nga đã bị Mỹ và các nước châu Âu bác bỏ. Ngoại trưởng Pháp vào thời điểm đó, Jean-Yves Le Drian, nhận định là đòi hỏi của Nga « rất giống với việc quay trở lại hiện trạng trước năm 1975, tức là một kiểu Yalta II, sẽ dẫn đến việc hình thành trở lại các khối, các vùng ảnh hưởng ». Hội nghị Yalta, rồi hội nghị Potsdam, diễn ra năm 1945, sau Thế Chiến Hai, được coi là các sự kiện có ý nghĩa biểu tượng cho việc các cường quốc thắng trận, Mỹ và Liên Xô, phân chia các khu vực kiểm soát.

    Ngoại trưởng Pháp nhấn mạnh là, để chống lại một « Yalta II », « cần phát triển một chiến lược thúc đẩy một Helsinki II, theo tinh thần những cam kết mà toàn bộ các nước ký kết các hiệp định Helsinki đã đưa ra năm 1975, trong đó có Liên Xô vào thời điểm đó, được tiếp nối với Hiến chương Paris (vì một châu Âu mới) năm 1990 ».

    Liên Âu tê liệt về « tư duy chiến lược » trước thời điểm sống còn

    Vấn đề là để thúc đẩy được tinh thần Helsinki 1975, hướng đến xác lập một « Helsinki II », làm nền tảng cho một « kiến trúc an ninh châu Âu mới », các nước châu Âu phải xác lập được một tư duy chiến lược chung, trong đó quan hệ như thế nào với Nga là vấn đề cốt lõi. Nội bộ châu Âu phân rẽ sâu sắc về vấn đề này, từ nhiều năm nay. Trước chiến tranh Ukraina, các nỗ lực cải thiện quan hệ với Nga của nhiều lãnh đạo ngoại giao Liên Âu, từ Federica Mogherini đến Joseph Borell, đều không thuyết phục được Matxcơva. Kể từ khi chiến tranh bùng nổ, việc thảo luận về chủ đề này coi như kết thúc.

    Theo nhà ngoại giao Pháp Pierre Vimont, có một hố sâu ngăn cách giữa nhóm các nước cho rằng không thể đối thoại với Nga (đa số là các nạn nhân trước đây của đế chế Nga và Liên Xô), coi Nga là một đe dọa sinh tồn, và các nước cổ vũ cho việc mở ra các cơ hội đối thoại để vượt qua tình trạng mất lòng tin song phương.

    • Đọc thêm : Chính sách quan hệ với Nga : Liên Hiệp Châu Âu và sự « chia năm xẻ bảy »

    Trong một cuộc trả lời Viện Nghiên cứu Cao cấp về Quốc phòng (IHEDN - Institut des hautes études de défense nationale) Pháp vào thời điểm hơn hai năm chiến tranh Nga - Ukraina, nhà chính trị học Barbara Kunz, giám đốc chương trình An ninh châu Âu của Viện Nghiên cứu về Hòa bình Quốc tế ở Stockholm (SIPRI) nhận định :

    « Tôi cho rằng tại châu Âu, thảo luận về vấn đề này sẽ rất là phức tạp, bởi có hai trường phái. Thứ nhất là những nước cho rằng cần phải cô lập Nga hoàn toàn, cụ thể như hoàn toàn không chấp nhận sự có mặt của các đại diện của Nga trong các hội nghị của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu OSCE. Và thứ hai là các nước có quan điểm gọi là ‘‘thực tế’’. Những nước này trong lúc luôn cảnh giác về đe dọa từ Nga, nhưng khẳng định cần phải tìm ra các cách thức cho phép ít nhất là sống bên cạnh Nga, cho dù không thể cùng chung sống với Nga. Tìm ra được những cách thức hợp tác tối thiểu, ví dụ như trong việc kiểm soát vũ khí, để tránh leo thang, tìm thấy các cơ chế đối thoại để tránh tình hình trở nên tồi tệ hơn hiện nay. »

    Nước Mỹ của Trump: Bị đẩy vào chân tường, châu Âu buộc phải hướng đến « tự chủ chiến lược »

    Theo chuyên gia về an ninh châu Âu Viện Nghiên cứu về Hòa bình Quốc tế Stockholm, đối thoại để tìm kiếm một kiến trúc an ninh mới cho châu Âu một phần đáng kể bị cản trở do sự bất đồng cao độ và thái độ thụ động của đông đảo các nước châu Âu, lập trường của Mỹ có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh này:

    « Cuộc thảo luận về tương lai của kiến trúc an ninh châu Âu, tôi có cảm giác là chưa thực sự bắt đầu. Hiện tại, chúng ta đang tập trung vào chiến tranh tại Ukraina, điều hoàn toàn có thể thông cảm được. Để nói một cách tóm lược, các nước ở sườn đông châu Âu, như các nước vùng Baltic, Ba Lan, Rumani, và những nước khác vốn có những kinh nghiệm lịch sử với Nga, khiến họ có thái độ hoài nghi cao độ về khả năng cùng tồn tại với Nga. Nước Đức có quan điểm như thế nào ? Về mặt lịch sử, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Đức thiên về phía các nước có quan điểm thực tế, tức tìm kiếm các khả năng chung sống với Nga. Điều này còn để xem. Nước Pháp tôi cho rằng cũng theo quan điểm thực tế. Các nước phía nam châu Âu, tôi nghĩ cũng tương tự, không nghi ngờ gì về đe dọa của Nga, nhưng đối với nhiều nước, đây không phải là chủ đề ưu tiên. Tôi cho rằng, rất nhiều điều trong vấn đề này phụ thuộc vào vai trò dẫn dắt của Mỹ. Bởi các nước châu Âu rất khó đạt đồng thuận về tiếp cận chung cần theo đuổi. »

    • Đọc thêm : Tự chủ chiến lược của Liên Hiệp Châu Âu là một viễn cảnh xa vời (Lãnh đạo đảng bảo thủ Đức năm 2022 phản đối châu Âu "tự chủ chiến lược")

    Việc Donald Trump trở lại Nhà Trắng đầu năm 2025 này, và các chính sách của Washington trong những tuần cầm quyền đầu tiên của Trump cho thấy quan hệ hai bờ Đại Tây Dương bước vào một giai đoạn đầy bất định. Tân tổng thống Mỹ coi việc chấm dứt chiến tranh là ưu tiên cho dù có phải chấp nhận nhiều nhân nhượng với Nga, và việc hậu thuẫn Ukraina được coi gần như là chuyện riêng của châu Âu, khối NATO mà Mỹ là trụ cột sẽ không can dự.

    Bảo vệ Ukraina và tái lập quan hệ với Nga: Thách thức của một « kiến trúc an ninh châu Âu » mới

    Việc đảng Cộng Hòa cầm quyền tại Mỹ là tác nhân trực tiếp kích phát trở lại đòi hỏi « tự chủ chiến lược » của châu Âu, vốn bị nhiều quốc gia chủ chốt của châu Âu như Đức không mặn mà. Hôm nay, 06/03/2025, Liên Hiệp Châu Âu họp thượng đỉnh để bàn về việc tăng cường tiềm lực quốc phòng của khối và hỗ trợ quân sự cho Ukraina. « Tự chủ chiến lược » bao gồm cả hai vế, quân sự và ngoại giao.

    • Đọc thêm : Liên Hiệp Châu Âu phải làm gì để tự chủ về quốc phòng ? (Pháp thúc đẩy Liên Âu xác lập "la bàn chiến lược")

    Theo nhà ngoại giao Pháp Pierre Vimont, nguyên tổng thư ký điều hành của cơ quan đối ngoại Liên Âu, bên cạnh việc dành sự hậu thuẫn quân sự mạnh mẽ để giúp Ukraina tự vệ, Liên Hiệp Châu Âu cần chuẩn bị xác lập quan hệ hợp tác với Nga sau chiến tranh. Nhà ngoại giao, được tổng thống Pháp Emmanuel Macron bổ nhiệm làm đại diện đặc biệt của tổng thống trong các đối thoại vì « một kiến trúc an ninh châu Âu và xây dựng niềm tin với Nga » trước khi chiến tranh bùng nổ, lưu ý đến bài học lịch sử : tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt không phải đợi đến khi Thế chiến Hai kết thúc mới chuẩn bị cho việc xây dựng một hệ thống quốc tế mới, và « những người sáng lập » Liên Âu cũng đã chuẩn bị nền móng cho việc xây dựng khối, nhiều năm trước 1945.

    • Đọc thêm - Cuộc chiến vệ quốc chống Nga: Ukraina và Liên Âu ngày càng ‘‘vận mệnh tương liên'’

    Cũng nhà ngoại giao kỳ cựu này, trong một bài viết với nhan đề « Châu Âu và Ukraina : Lấy lại thế chủ động » (nguyên văn « Europe et Ukraine : reprendre l’initiative », Viện nghiên cứu châu Âu Jacques Delors), ra mắt cuối tháng 1/2025, nhấn mạnh : « Thời kỳ bất ổn sẽ còn kéo dài trên lục địa châu Âu, do các đe dọa Nga, không cho phép trật tự Helsinki trở lại nhanh chóng. Nhưng thời kỳ căng thẳng không tránh khỏi diễn ra trong quá trình xác lập hòa bình tại Ukraina này sẽ là một trắc nghiệm đối với khả năng của châu Âu vươn lên để trở thành một thực thể địa chính trị độc lập, điều mà người châu Âu mong muốn ».

    Thách thức với châu Âu không phải chỉ là tái lập quan hệ với Nga để xây dựng một kiến trúc an ninh mới cho châu Âu, mà còn là « sáng tạo nên một cơ chế đa phương quốc tế mới ». Trong bối cảnh cơ chế đa phương quốc tế được xác lập sau Thế chiến Hai đang « sụp đổ », cộng đồng quốc tế đang cần đến các cơ chế hợp tác mới giữa các nước phương Tây với các nước phương Nam toàn cầu, để hóa giải hàng loạt thách thức sống còn với nhân loại, như đại khủng hoảng khí hậu.

    10 min
  • An ninh cho Ukraina : Thủ tướng Anh hy vọng đóng vai trò « cầu nối » giữa Mỹ và châu Âu

    Ngày 16/02/2025, trong bài diễn đàn đăng trên nhật báo Anh The Telegraph, thủ tướng Anh tuyên bố khẳng định chính phủ Anh sẵn sàng « tham gia bảo đảm an ninh cho Ukraina qua việc gởi quân đến nếu cần thiết ». Quan điểm này đã được lãnh đạo chính phủ Anh nhắc lại trong hội nghị không chính thức giữa các lãnh đạo châu Âu diễn ra tại Paris một ngày sau đó khi đưa ra thông điểm rất rõ ràng : Hòa bình bằng sức mạnh.

    Vì sao Anh Quốc luôn tỏ ra kiên bảo vệ Ukraina ? Luân Đôn tính gì khi khá ủng hộ các lập trường của Paris và không phê phán các đường lối của chính quyền Trump hiện nay ?

    Mời quý vị theo dõi phần giải thích của thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn.

    ---------- ********* ----------

    RFI Tiếng Việt : Anh Quốc và Ukraina có quan hệ như thế nào ?

    TTV Nguyễn Giang : Mối quan hệ giữa Anh và Ukraina đã có từ lâu, nhưng sự kiên quyết của Anh Quốc trong việc hỗ trợ Ukraina trở nên rõ ràng hơn trong bối cảnh gần đây. Vào tháng Giêng năm 2025, thủ tướng Sir Keir Starmer đã ký kết Hiệp ước Đối tác-Đồng minh 100 năm giữa Anh và Ukraina cùng tổng thống Volodymyr Zelensky, thiết lập 9 trụ cột cho quan hệ song phương, bao gồm: Quốc phòng, An ninh, Hàng hải, Kinh tế & Thương mại, Năng lượng & Khí hậu, Tư pháp, Chống lũng đoạn Thông tin, Khoa học & Công nghệ, và Văn hóa-Thể thao.

    Trước đây, dưới thời thủ tướng Boris Johnson, vào tháng 2/2022, Anh ký với Ba Lan và Ukraina một hiệp ước an ninh ba bên (trilateral security pact), vừa để hỗ trợ hai nước kia chống lại Nga, vừa giúp Anh có một vị trí chiến lược Đông Âu. Hiệp ước này được ký sau khi ba nước Pháp-Đức và Ba Lan ký thỏa thuận có tên là « Tam giác Weimar » nhằm tạo xương sống cho chiến lược chống Nga của ba thành viên đông dân của Nato châu Âu và EU.

    Nhưng việc ký kết liên minh sâu nặng như thế 100 năm với Ukraina là điều hiếm xảy ra với Anh. Bởi nước này có truyền thống thực dụng là giữ cho lục địa châu Âu không bị một nước nào thống trị, và trên đại dương thì Anh phải thống trị. Ví dụ năm 1806, Anh đã cấm vận (embargo, blockade) vùng biển ra Đại Tây Dương để nước Pháp của Napoleon không thể vươn ra biển. Anh chỉ bỏ bao vây Pháp trên biển vào đúng ngày 11 tháng 4 năm 1814 khi Napoleon thoái vị. Sau khi Đức mạnh lên thì đã có một Liên minh Trái tim (Entente Cordiale) đã được Anh ký với Pháp năm 1904, thời Vua Edward VII. Bởi vậy, có thể nói liên minh 100 năm với Ukraina là rất đặc biệt, cho phép Anh có mặt ở khu vực Đông Âu.

    Sự ủng hộ cho Ukraina nhận được sự đồng thuận từ cả hai đảng lớn của Anh: Đảng Lao động (đang cầm quyền) và Đảng Bảo thủ (đối lập), cũng như các đảng nhỏ hơn như LibDem và Đảng Xanh. Điều này cho thấy một sự đồng thuận chính trị mạnh mẽ trong việc bảo vệ Ukraina chống lại các mối đe dọa từ Nga. Ngay cả ông Nigel Farage, một nhân vật có tiếng trong phong trào cánh hữu, cũng đã bác bỏ những lời chỉ trích của tổng thống Trump về Tổng thống Zelensky « là nhà độc tài » mới đây.

    Truyền thông Anh và người dân cũng tích cực hỗ trợ, với khoảng 25.000 người Ukraina được tiếp nhận để tị nạn trong suốt ba năm qua.

    Luân Đôn đánh giá mối đe dọa từ Nga cho an ninh nước Anh như thế nào ?

    TTV Nguyễn Giang : Về mặt tâm lý, theo chuyên gia David Landsman, nước Nga vẫn là một quốc gia ít quen thuộc nhưng lại là « kẻ thù quen thuộc » với người Anh (unfamiliar country but a familiar enemy), nhất là sau sự kiện an ninh Nga (GRU) cử người sang gây ra vụ đầu độc tại Salisbury trên đất Anh. Người Anh nhận thấy Nga đã xâm lược Ukraina, và điều này làm sống lại những ký ức về kẻ thù cũ. Cả hai phía trong cuộc tranh luận Brexit đều đồng ý rằng, sau khi ra khỏi EU, Anh cần phải khôi phục vị thế của mình trên trường quốc tế, trong đó việc hỗ trợ Ukraina chống lại Nga được coi là « quyền lực thông qua giá trị đạo đức ».

    Về phương diện kinh tế, Anh đã giảm sự phụ thuộc vào khí đốt Nga từ tháng 2/2022, điều này đã tạo thuận lợi cho chính trị Anh trong việc phát biểu mạnh mẽ về vấn đề Nga, khác với Đức, nước cho tới gần đây vẫn chịu ảnh hưởng lớn tác động của nguồn năng lượng khí đốt của Nga. Trong các nước châu Âu, Anh là quốc gia có nền kinh tế mở, hướng ra thế giới hơn hẳn các nước ở lục địa, gần Nga, gần biển Baltic và Hắc Hải, nên Anh có thể không bị ràng buộc nhiều bởi các lợi ích cục bộ gắn với Nga.

    Là đồng minh lâu đời của Mỹ và luôn đi theo chiến lược của Mỹ, nhưng Luân Đôn không những không chỉ trích Washington về việc bỏ rơi Kiev mà còn tuyên bố sẵn sàng gởi quân sang đảm bảo an ninh cho Ukraina. Thủ tướng Anh còn tỏ lập trường ủng hộ quan điểm của Pháp. Thủ tướng Anh trông đợi điều gì tổng thống Trump nhân chuyến thăm Mỹ ?

    TTV Nguyễn Giang : Cho dù là đồng minh lâu dài của Mỹ, lần này Anh không chỉ trích Mỹ về việc bỏ rơi Kiev mà ngược lại, còn cam kết cử quân sang Ukraina. Thủ tướng Starmer muốn đóng vai trò cầu nối giữa Mỹ và châu Âu. Sự bắt tay giữa Starmer và Macron diễn ra trong bối cảnh mà cả hai bên cần tăng cường quan hệ, nhất là khi vị thế của Macron tại châu Âu đang bị lung lay.

    Luân Đôn nhận ra rằng không thể "tái xác lập" quan hệ với EU mà thiếu sự ủng hộ từ Paris. Đảng Lao động ở Anh phải tăng cường quan hệ với Pháp để gia tăng sức mạnh đối phó với mối đe dọa từ Nga, khi mà chính quyền Trump có xu hướng thiên về cánh hữu.

    Chuyến công du Mỹ của thủ tướng Starmer nhằm mục tiêu thuyết phục Tổng thống Trump đảm bảo an ninh cho Ukraina sau chiến tranh. Ông Starmer đã công bố ngân sách quốc phòng mới, dự kiến tăng từ 2.3% lên 2.5% GDP vào năm 2027, với kế hoạch nâng lên 3% GDP đến năm 2030.

    Bên cạnh đó Anh sẵn sàng đưa quân sang Ukraina để gìn giữ an ninh cho đường phi giới tuyến trong tương lai. Điều này nhằm thể hiện sự cam kết của Anh trong việc cùng đồng minh châu Âu gánh vác trách nhiệm bảo vệ khu vực NATO.

    Cùng lúc, tân đại sứ Anh tại Mỹ, Peter Mandelson nói hai nước muốn một MEGA – Make Economies Great Again – tức là một hiệp định tự do thương mại lớn, đẩy mậu dịch song phương lên hơn mức hiện nay là gần 300 tỷ bảng/năm. Chưa rõ là trong hai hồ sơ : Quốc Phòng và Kinh Tế - Thương Mại thì ông Trump mặn mà hơn với Anh ở hồ sơ nào.

    Pháp có thể giúp được gì cho chiến lược của Anh về hồ sơ Ukraina?

    TTV Nguyễn Giang : Ngay sau khi tổng thống Pháp Emmanuel Macron có cuộc gặp với đồng cấp Mỹ Donald Trump ở Nhà Trắng hôm thứ Hai thì sang ngày thứ Ba, 25/02, ông Macron đã điện đàm với thủ tướng Anh Starmer, hẳn là để trao đổi trước khi ông Starmer tới Mỹ gặp ông Trump thứ Năm 27/02 này. Có lẽ chính giới Anh và Pháp vẫn đang cân nhắc xem họ giúp nhau được gì, để đối phó với Mỹ và để thể hiện uy lực tối đa của hai cường quốc duy nhất trong NATO ở châu Âu đang sở hữu vũ khí nguyên tử, đã cam kết hợp tác về an ninh châu Âu.

    Ví dụ tổng thống Macron nói Pháp sẵn sàng dùng cái ô nguyên tử bảo vệ cho Đức, và kêu gọi Anh cũng làm như thế. Để đảm bảo hỗ trợ hiệu quả cho Kiev, cả Paris và Luân Đôn đều cần có sự tham gia của Berlin, dưới thời tân thủ tướng của đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo (CDU), Friedrich Merz.

    Ông Merz tuyên bố tân chính phủ Đức có nhiệm vụ làm cho Đức tự chủ hơn so với Mỹ về an ninh và quốc phòng, điều này có thể dẫn đến khả năng hợp tác tốt giữa ba nước lớn nhất châu Âu. Hiển nhiên là nếu ba nước này không hợp tác chặt chẽ, sẽ rất khó khăn để đạt được những nỗ lực hỗ trợ Ukraina một cách hiệu quả.

    Anh Quốc có thể có vai trò gì trong trường hợp Mỹ rút lui khỏi Ukraina ? Liệu nước Anh có thay thế được Mỹ bảo đảm an ninh cho Ukraina ?

    TTV Nguyễn Giang : Hiện tại, chính giới Anh chưa có kế hoạch thay thế Mỹ tại Ukraina  và vẫn muốn thuyết phục Mỹ ở lại châu Âu. Vai trò của Anh chủ yếu là đánh giá xem một phương án hợp tác cùng Pháp, Đức, và Ba Lan có khả năng đảm bảo an ninh cho Ukraina trong bối cảnh mối đe dọa từ Nga tiếp tục hiện hữu hay là không, và một khi Hoa Kỳ rút hay giảm vai trò tại châu Âu thì họ sẽ phải làm gì. Tuy thế, cũng có ý kiến như của nhà báo Ian Dunt nói trước sau gì thì Anh và châu Âu cũng cần « độc lập khỏi Mỹ » trong vấn đề an ninh, nên đây là cơ hội để London đi theo chiến lược đó.

    Ngoài đảng Lao động đang cầm quyền thì cả hai đảng đối lập ở Anh (Bảo thủ và Tự do Dân chủ) đều đồng ý về việc tăng chi tiêu quốc phòng « để phòng chống Nga ». Tuy nhiên, có sự lo ngại trước việc cắt giảm viện trợ phát triển toàn cầu của Anh từ 0.5% GDP xuống 0.3% GDP, theo nhà báo Robert Peston. Ông cho rằng điều này có thể làm giảm sức mạnh mềm của Anh, nhất là khi Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng tại nhiều khu vực, bao gồm cả châu Phi.

    Mặc dù vậy, một phần dư luận tại Anh có vẻ đồng ý với chính phủ là cần tăng chi tiêu quốc phòng. Trên trang của BBC, một bài viết về việc tăng chi tiêu quốc phòng và giảm viện trợ hải ngoại (Starmer cuts aid to fund increase in defence spending-26/02)#đã thu hút trên 5 ngàn bình luận chỉ sao một ngày. Trong phần bình luận nhiều người đã ủng hộ việc tăng chi tiêu quân sự mà không ngần ngại cắt giảm viện trợ cho các nước khác để « cứu người nghèo và vô gia cư trong nước Anh ».

    Nhưng thú vị hơn là có một số ý kiến đặc biệt nhấn mạnh rằng những hợp đồng quốc phòng nên được trao cho các công ty vũ khí Anh và châu Âu, mà không giao cho các công ty Mỹ, với lý do các công ty này thường đi kèm với điều kiện khắt khe trong các hợp đồng.

    Ý kiến  cá nhân này còn cho rằng « Hoa Kỳ nay đang ngày một trở nên một quốc gia côn đồ » (British defence firms should be first priority, then European allies’ firms second. US defence firms must now be avoided at all costs – the last thing we need is military kit that has both parts/maintenance and usage rules attached to an increasingly rogue state).

    Tất nhiên, đó chỉ là một ý kiến cá nhân, và theo tôi, đa số người dân Anh vẫn yêu quý nước Mỹ. Thế nhưng giống như đại đa số các tờ báo chính ở đây, người ta thấy những gì ông Trump hơn một tháng qua là rất đáng lo ngại cho tương lai nước Anh vì cấu trúc an ninh 80 năm qua (Anh dựa vào Mỹ) đang tan vỡ.

    16 min
  • Mỹ muốn sớm chấm dứt chiến tranh Ukraina để tập trung đối đầu với Trung Quốc ?

    Trong những ngày giữa tháng 2/2025, thế giới bất ngờ với hàng loạt hành động của tân tổng thống Mỹ Donald Trump. Ngày 12/02, Trump điện đàm với tổng thống Nga Vladimir Putin. Ít ngày sau Mỹ và Nga tổ chức họp cấp cao để tái lập quan hệ, mở ra viễn cảnh chấm dứt giai đoạn đối đầu ba năm giữa Washington với Matxcơva kể từ khi Nga mở màn cuộc xâm lăng Ukraina.

    Cho dù không phải là chấm dứt được chiến tranh Ukraina « trong vòng 24 giờ » sau khi nhậm chức như các tuyên bố rầm rộ trước đó, hành động của Donald Trump rõ ràng cho thấy tổng thống thứ 47 của nước Mỹ muốn khép lại mau lẹ cuộc chiến Nga – Ukraina. Sớm chấm dứt chiến tranh Ukraina bằng mọi giá, để có thể tập trung đối đầu với Trung Quốc, phải chăng là mục tiêu chính của Donald Trump ?

    « Ác mộng Munich » của châu Âu … 

    Trump gây sốc với « các đồng minh » châu Âu và Ukraina khi để ngỏ khả năng đàm phán riêng rẽ với Putin trong việc chấm dứt chiến tranh Nga – Ukraina, và tỏ ra sẵn sàng có nhiều nhân nhượng với Matxcơva « trên lưng » Kiev. Diễn đàn an ninh quốc tế Munich tại Đức, được tổ chức hàng năm từ 1963, vốn thường là dịp để các đồng minh, đối tác phương Tây siết chặt quan hệ, đã trở thành một « cơn ác mộng » với châu Âu - diễn đạt của chủ tịch Hội nghị An ninh Munich, Christoph Heusgen -, phơi bày trước toàn thế giới thái độ thù địch của tân chính quyền Mỹ với Liên Âu.

    Ấn tượng để lại đối với đông đảo chính giới và công luận châu Âu là tân tổng thống Mỹ sẵn sàng thay bạn đổi thù, coi chế độ Putin – thủ phạm của cuộc chiến xâm lăng như « đồng minh ». Trong một phát biểu hôm 19/02, Trump thậm chí còn đổi trắng thay đen, khẳng định Ukraina mới là kẻ châm ngòi cho chiến tranh, và tổng thống Volodymyr Zelensky là « kẻ độc tài », hoàn toàn không được người Ukraina ủng hộ.

    … và nỗ lực của Trump tái lập « thế lưỡng cực đại cường thời Chiến tranh Lạnh » với Nga

    Chuyên gia về quan hệ quốc tế kỳ cựu người Pháp Bertrand Badie, giáo sư danh dự Đại học Sciences Po, Paris, nói đến việc Trump và Putin muốn nối lại với cách hành xử của hai đại cường thời Chiến tranh Lạnh, khi Mỹ và Liên Xô từng chia vùng ảnh hưởng, cùng đưa ra các tiếng nói quyết định trong việc xử lý các xung đột lớn của thế giới. Trả lời đài Arte, Bertrand Badie nhận định :

    « Điều đầu tiên mà chúng ta có thể thấy là hoài niệm về một thế giới lưỡng cực thời Chiến tranh Lạnh, khi tổng thống Mỹ Nixon và lãnh đạo Liên Xô Brejnev điện thoại cho nhau để bàn chuyển giải quyết các vấn đề của thế giới trên đầu các nước, từ thế giới Ả Rập, Israel đến châu Âu, châu Phi… Đấy là một thời tuyệt vời ! Trump nghĩ rằng Putin cũng nghĩ tương tự. Điều này rõ ràng là một kịch bản đen tối với thế giới, khi 191 quốc gia còn lại rút ra khỏi sân khấu chính trị quốc tế ».

    Theo giáo sư Bertrand Badie, mong ước nối lại quan hệ kiểu hai đại cường Chiến tranh Lạnh, đây thực ra chỉ là « hoài niệm » và giờ đây Mỹ không còn là siêu cường duy nhất thống trị thế giới như hai thập niên đầu tiên kể từ khi khối Liên Xô tan rã. Trump và các cộng sự cầm quyền tại Washington ắt hẳn cũng không ngây thơ tin vào điều này.

    Dè chừng Trung Quốc, đối thủ số một

    Giới quan sát ghi nhận, trong những tuần vừa qua, kể từ khi nhậm chức, Trump tung ra hàng loạt đe dọa dữ dội về tăng mạnh thuế nhập khẩu, về chiếm đoạt chủ quyền lãnh thổ, nhắm vào nhiều « đồng minh » của Washington, như Canada hay Đan Mạch, và « đối tác » của Trung Quốc như Panama. Ông Trump cũng tung đòn tấn công hủy diệt nền móng của thương mại quốc tế, với việc báo tử hệ thống thuế quan đã định hình từ sau Thế Chiến Hai khi tuyên bố sẵn sàng áp « thuế đối ứng », ăn miếng trả miếng với bất cứ quốc gia nào. Trong ngày qua, Nhật Bản hay Ấn Độ đã buộc phải có một số nhân nhượng với tân chủ nhân Nhà Trắng.

    Riêng với Trung Quốc, Trump tỏ ra dè dặt. Bắc Kinh đã đáp trả loạt tăng thuế 10% với 450 tỉ đô la hàng Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ với một số biện pháp tăng thuế khác ở quy mô hẹp. Dè dặt với Bắc Kinh, với Washington, Trung Quốc mới thực sự là đối thủ hàng đầu chứ hoàn toàn không phải Nga.

    Tân bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Pete Hegseth, tại hội nghị Munich tuần qua, thừa nhận: « Chúng ta cũng phải đối mặt với một đối thủ ngang hàng là chế độ cộng sản Trung Quốc, với năng lực và ý đồ đủ sức đe dọa chính nước Mỹ, và các lợi ích quốc gia cốt lõi của chúng ta ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương ». Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ nói thẳng là « an ninh châu Âu không phải là ưu tiên » của Mỹ, đồng thời nhấn mạnh : « Mỹ đang dồn lực cho mục tiêu răn đe Trung Quốc gây hấn ở Thái Bình Dương ».

    Chuyên gia về quan hệ quốc tế Philip Golub, Viện Nghiên cứu châu Âu và Đại học Mỹ ở Paris The American University of Paris, trong một cuộc tọa đàm trên TV5 Monde, nhấn mạnh đến nỗ lực của tổng thống Mỹ nhanh chóng khép lại xung đột Ukraina – Nga, nhằm dồn lực đối phó với Bắc Kinh :

    « Cho đến rất gần đây, nước Mỹ vẫn đi theo chiến lược ngăn chặn Nga để bảo đảm an ninh của lục địa châu Âu, theo cách hiểu về an ninh của Washington. Điều vừa diễn ra là hoàn toàn đi theo một hướng khác. Đây là nỗ lực hội nhập Nga, tái hội nhập Nga không chỉ vào nhóm G7, với việc trở lại với G8, mà còn hành động sao cho để Nga và Trung Quốc ít nhiều rời xa nhau. Về quyết sách địa - chiến lược, các nhà hoạch định chính sách Mỹ hiện nay chú trọng đến việc Mỹ rút một cách triệt để khỏi châu Âu về lĩnh vực an ninh, rút khỏi các xung đột lớn ở Trung Đông, để tập trung vào cuộc chơi lớn của thế kỷ 21. Mà theo cách nhìn của họ, đối thủ chính là Trung Quốc ».  

    Dư luận Trung Quốc: Lo Trump ve vãn Putin để « tách Matxcơva khỏi Bắc Kinh »

    Các hoạt động ngoại giao dồn dập của tổng thống Mỹ nhằm nhanh chóng tái lập quan hệ với chế độ Putin và chấm dứt xung đột Ukraina gây lo ngại tại Trung Quốc. Ông Kim Xán Vinh (Jin Canrong), giáo sư về quan hệ quốc tế Đại học Nhân dân (Bắc Kinh), trên WeChat hôm 18/02, nhận định : việc Trump ve vãn Nga « chắc chắn để tập trung vào chúng ta ». Chuyên gia về quan hệ quốc tế Trung Quốc tỏ ra có phần bi quan khi thừa nhận Trump là « tổng thống thân Nga nhất trong lịch sử nước Mỹ » và quan hệ Trung - Nga « trong những năm tới có thể sẽ ít nồng ấm hơn » (tuần san Pháp Courrier International trích dẫn). Cựu tổng biên tập Hoàn Cầu Thời Báo Hồ Tích Tiến (Hu Xijian) cũng nhìn thấy trong các diễn biến này mưu đồ của Mỹ « đưa Nga trở lại với phương Tây ».

    Trong một phân tích khác, đăng tải trên mạng WeChat hôm 16/02, cây bút Vương Minh Nguyên (Wang Mingyuan), thường bình luận cho các tờ báo lớn của Trung Quốc, thậm chí cho rằng « trong thâm sâu của văn hóa Nga, phần chống Trung Quốc Quốc vẫn trội hơn phần thân Trung Quốc », việc Matxcơva « hữu nghị với Trung Quốc chỉ là một lựa chọn mang tính thời điểm và trong hoàn cảnh bó buộc », bởi « đa số dân Nga không chấp nhận Trung Quốc là một cường quốc thế giới ».

    Theo Liên Hợp Tảo Báo (Lianhe Zaobao), nhật báo tiếng Hoa hàng đầu tại Singapore, việc chính quyền Trump trực tiếp thương lượng với điện Kremlin về Ukraina khiến Matxcơva xa rời Bắc Kinh, cô lập Trung Quốc hơn, giảm bớt các lá bài của Bắc Kinh trong các đàm phán với Washington, bởi cho đến nay, Trung Quốc vẫn tỏ ra là « bên trung gian » tìm giải pháp cho xung đột Nga – Ukraina. Việc Mỹ - Nga cải thiện quan hệ sẽ « đảo lộn » tình thế, củng cố vị thế của Mỹ trong cạnh tranh với Trung Quốc và việc chấm dứt chiến tranh Nga – Ukraina giúp Mỹ tập trung năng lực để đối đầu với Bắc Kinh.

    Đòn phép ngoại giao thăm dò

    Dĩ nhiên, Trung Quốc sẽ không cho phép Mỹ dễ dàng làm như vậy. Ông Chu Phong (Zhu Feng), hiệu trưởng Trường Quan hệ Quốc tế, Đại học Nam Kinh, được coi là một chuyên gia hàng đầu về quan hệ Mỹ - Nga ở Trung Quốc, trong cuộc trả lời phỏng vấn báo Pengpai (The Paper), Thượng Hải, một mặt kêu gọi cảnh giác về nguy cơ này nhưng nhấn mạnh việc chính quyền Trump tin là « khi hy sinh các lợi ích của Ukraina và châu Âu » có thể liên kết được với Nga để « cùng chống lại Trung Quốc » đã « đánh giá thấp sức mạnh của ngoại giao Trung Quốc ».

    Bắc Kinh, vốn liên tục bị phương Tây cáo buộc tích cực hỗ trợ Nga trong cuộc xâm lăng Ukraina, giúp Matxcơva lách các trừng phạt phương Tây, dường như không muốn bị gạt ra bên lề trong cơ hội được coi là có thể dẫn đến hòa bình. Theo báo Mỹ The Wall Street Journal, Bắc Kinh dường như đã đề nghị đứng ra đăng cai tổ chức thượng đỉnh Mỹ - Nga. Nhà Trắng từ chối cho biết đã nhận được đề xuất của Trung Quốc hay không, nhưng một quan chức Mỹ, được The Wall Street Journal trích dẫn, khẳng định đề xuất này « hoàn toàn không khả thi ».

    Mỹ và Trung Quốc đều cần Nga để thống trị thế giới

    Chuyên gia về an ninh quốc phòng Jean-Claude Allard, thuộc Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp (IRIS), trong một bài phân tích đăng tải ngày 17/02, tức ít ngày sau cơn « Ác mộng Munich » và cuộc điện thoại Trump – Putin, đảo chiều 180 độ quan hệ Nga – Mỹ, ghi nhận việc Mỹ và Trung Quốc, hai đối thủ chính trên bàn cờ quốc tế hiện nay, « đều cần đến Nga », để khẳng định vị thế thống trị thế giới trong thế kỷ này, và có thể cả cho những thế kỷ sau.

    Chuyên gia Pháp Jean-Claude Allard trước mắt ghi nhận « tham vọng hóa giải các thách thức của Trump và nhóm cầm quyền tại Mỹ » trong việc xác định lại quan hệ với Matxcơva, bởi việc « thay đổi một cách căn bản chính sách với Nga » (un aggiornamento stratégique américain) là cần thiết để thực hiện mục tiêu này.

    Tuy nhiên, nỗ lực sớm khép lại chiến tranh Ukraina nhờ các nhân nhượng đáng kể cho Nga của Trump có thành công hay không nếu không nhận được hậu thuẫn đủ mức từ phía các nước châu Âu, lo ngại bị Nga thôn tính, một khi Matxcơva thành công trong cuộc xâm lược Ukraina ?

    Trump hướng đến « trật tự thế giới mới » nào ?

    Tuy nhiên, vấn đề cũng còn là Bắc Kinh sẽ phản ứng ra sao ? Nỗ lực siết chặt hơn nữa quan hệ với Nga, để « kéo Matxcơva dấn sâu hơn vào vòng ảnh hưởng về kinh tế, tài chính và an ninh » của Trung Quốc để cạnh tranh lại ảnh hưởng của Mỹ, hay thận trọng chờ đợi các diễn biến, bởi « nhiệm kỳ 4 năm cầm quyền » của Donald Trump ắt là « quá ngắn trong cái nhìn của một đế chế có tuổi đời nhiều thiên niên kỷ và của một chế độ cộng sản gần một thế kỷ » ?

    Nhưng cũng cần đặt cuộc đại xoay trục sang khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, mà chính quyền Trump đang trù tính đẩy mạnh, trong sự hình thành một « trật tự thế giới mới ». Trật tự thế giới, do phương Tây lập nền móng, toàn thắng kể từ sau khi khối Liên Xô sụp đổ, đang đứng trước bờ vực tan vỡ.

    Tìm được cách thức chấm dứt xung đột Nga – Ukraina không chỉ giúp cho chính quyền Mỹ xoay sang đối đầu với đối thủ chính là Trung Quốc. Kết cục của cuộc chiến tranh Ukraina cũng cho thấy hướng đi của thế giới đương đại. « Trật tự thế giới mới » sẽ ra sao, nếu những gì hợp lý và được coi là tốt của thế giới hiện hành bị chôn vùi nhân danh lý tưởng về một trật tự thế giới hoàn toàn mới ?

    10 min

About Tạp chí tiêu điểm

From the publisher's feed

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More shows like Tạp chí tiêu điểm

6 Minute English by BBC Radio

6 Minute English

1,807 Listeners

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

222 Listeners

 by RFI Tiếng Việt

15 Listeners

VOV - Tin nhanh 24h by Đài Tiếng nói Việt Nam

VOV - Tin nhanh 24h

3 Listeners

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners