
Sign up to save your podcasts
Or


Loài ong đã sống trên Trái đất từ 100 triệu năm nay. Loài vật này quen thuộc đến mức hầu như ai cũng nghĩ rằng chúng sẽ sống mãi mãi. Thế nhưng, ngày càng có nhiều nhà khoa học lên tiếng báo động về tình trạng suy thoái, thậm chí nguy cơ tuyệt chủng của loài ong và, nếu đúng như thế, đây sẽ là một thảm họa đối với nhân loại. Hành tinh của chúng ta sẽ ra sao nếu không có loài ong ? Hôm nay chúng ra sẽ nghe ý kiến của hai nhà nghiên cứu Pháp Yves Le Conte và Lionel Garnery, trả lời RFI Pháp ngữ vào đầu tháng 4/2018.
Yves Le Conte hiện là giám đốc nghiên cứu của Viện Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp INRA, chi nhánh Avignon và cũng là giám đốc Đơn vị nghiên cứu về ong và môi trường, tác giả một cuốn sách về bảo vệ loài ong, vừa được xuất bản tại Pháp. Còn Lionel Garnery là nhà nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học CNRS, giáo sư Đại học Versailles Saint-Quentin-en-Yvelines, đồng thời là chuyên gia di truyền học của loài ong đen.
Ong là loài côn trùng có tổ chức xã hội cao như kiến, mối. Chúng sống theo đàn, trong thiên nhiên hay trong các tổ ong nhân tạo. Mỗi đàn đều có ong chúa, ong thợ, ong non... và có sự phân công công việc, chặt chẽ, rõ ràng. Ong được con người nuôi để khai thác sản phẩm như mật ong, sáp ong, sữa ong chúa,...
Nhưng loài ong cũng có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái vì chúng tham gia vào việc thụ phấn cho các loài thực vật, như các loại côn trùng khác, nếu không muốn nói là có vai trò quan trọng nhất.
Thế mà, từ vài năm nay, số phận của loài ong gây lo ngại ngày càng nhiều, với tỷ lệ tử vong lên tới từ 30 đến 35%, thậm chí lên tới 50% vào mùa đông. Đến mức mà các nhà khoa học lo ngại cho sự tồn vong của loài côn trùng này.
Vậy những nguyên nhân gì khiến loài ong có nguy cơ bị tận diệt như vậy ? Nhà nghiên cứu Yves Le Conte giải thích :
"Nguyên nhân quan trọng nhất là những thay đổi của môi trường chung quanh những con ong. Nền nông nghiệp ngày càng mang tính thâm canh, khiến cho không gian của loài ong ngày càng bị thu hẹp. Tiếp đến là việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, cho dù giới nuôi ong đã quyết liệt chống. Các nhà khoa học chúng tôi nay đều nhận thấy rằng thế hệ thuốc trừ sâu mới đang gây tác hại vô cùng nặng nề cho sự tồn vong của loài ong, như chất neonicotinoide. Những chất này không giết ngay, mà giết từ từ những con ong. Bây giờ, giới chính trị, các hiệp hội phải nỗ lực vận động để hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp".
Một yếu tố khác đe dọa đến loài ong là những vật ký sinh, như Varroa destructor, theo lời ông Le Conte :
"Varroa destructor là một loại acari, giống như một con cua nhỏ biết hút máu. Trong một đàn ong có thể có hàng ngàn varroa destructor, chúng sinh sôi nảy nở và cuối cùng tiêu diệt cả đàn ong. Hiện nay chúng ta có thể dùng hóa chất để chống varroa, hoặc là hóa chất tổng hợp, hoặc là những hợp chất mang tính hữu cơ (bio) hơn, nhưng nếu không chữa trị đàn ong thì chúng cũng sẽ chết. Có thể là về ngắn hạn thì không được, nhưng về dài hạn thì phải làm sao mà chúng ta có thể chọn lọc được những con ong có thể kháng cự những vật ký sinh như varroa".
Nhưng theo lời nhà nghiên cứu Lionel Garnery, nguy cơ bị tận diệt của loài ong là do tổng hợp nhiều yếu tố :
"Chúng ta đã nói về hai nguyên nhân quan trọng nhất, nhưng nếu tách riêng ra thì hai nguyên nhân này không thể giải thích được sự tiêu hao của loài ong. Đúng hơn đó là do sự phối hợp của nhiều yếu tố. Đầu tiên dĩ nhiên đó là những loài ký sinh như varroa, nhưng thật ra varroa chỉ là vật chủ trung gian mang virus. Tức là có rất nhiều nhân tố lây nhiễm đe dọa loài ong.
Nguyên nhân cũng là do tác động của con người lên cây trồng với quy mô lớn, đất canh tác không còn đa dạng về môi trường, tức là không còn đa dạng về phấn hoa, hậu quả là nguồn protein, nguồn vitamin cho loài ong giảm đi, khiến chúng không còn đủ khả năng để kháng cự lại những nhân tố tác hại khác.
Như vậy, chính sự tổng hợp của toàn bộ nhân tố khiến cho loài ong bị tiêu hao nhiều như vậy. Biến đổi khi hậu cũng là một trong những nhân tố đó. Yếu tố này khiến loài ong bị rối loạn, người nuôi ong cũng vậy, vì họ phải thay đổi cách nuôi. Riêng tôi thì chủ trương một cách nuôi mang tính thiên nhiên nhiều hơn, tức là làm sao cho các đàn ong dần dần tự thích ứng với những nhân tố đó, qua việc để cho tiến trình chọn lọc tự nhiên tác động nhiều hơn".
Để chống những loài ký sinh, ta cũng có thể tuyển chọn những con ong gọi là "ong vệ sinh", theo giải thích của nhà nghiên cứu Le Conte :
"Giống ong "vệ sinh" có thể tự bảo vệ chống varroa, một loại acari sống ký sinh, vẫn là hiểm họa số một của ong. Ong "vệ sinh" là những "nữ công nhân" có khả năng phát hiện những lỗ tổ ong đang bị varroa sống bám vào, rồi móc sạch lỗ tổ ong đó, để ngăn chận varroa gây tổn hại cho ong. Tại Viện Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp, chúng tôi nghiên cứu rất nhiều về đặc tính đó của giống ong "vệ sinh". Chúng tôi muốn đề nghị cho những người nuôi ong một phương pháp đơn giản để giúp họ kiểm tra xem các lỗ tổ ong có "vệ sinh" không và tăng cường khả năng chống varroa của các tổ ong".
Tuy rằng loài ong sống rất thọ, tức là trên nguyên tắc khó bị tận diệt, nhưng theo nhà nghiên cứu Garnery, vấn đề chính là nằm ở tác động con người :
"Vấn đề là sự chuyển biến của xã hội con người, là tác động của con người lên đa dạng sinh thái. Cho dù có biến đổi khí hậu, nếu chúng ta cứ để cho thiên nhiên tự tác động, thì cũng sẽ có những con ong sống sót. Chúng đã từng sống sót qua nhiều thời kỳ băng hà ở châu Âu. Vấn đề ở chỗ loài ong có nhiều lợi ích kinh tế, nên bị con người chi phối. Nếu con người cản trở khả năng kháng cự tự nhiên của loài ong, nguy cơ tận diệt của chúng sẽ lớn hơn".
Về phần nhà nghiên cứu Le Conte, ông cảnh báo về việc một số người dự tính những phương cách để thay thế những vai trò loài ong, như thể họ nghĩ rằng sự diệt vong của loài côn trùng này là điều khó tránh khỏi :
"Tôi có biết được thông tin rằng, nhất là tại Hoa Kỳ, một số nhà nghiên cứu dự định sử dụng các "máy bay không người lái" bằng ong, một loại "ong robot" để sau này có thể thay thế cho những con ong thật. Nghe qua có vẻ thú vị, nhưng về mặt công nghệ, đây là một dự án không tưởng và điều này cũng cho thấy là con người quá tự mãn.
Suy cho cùng, chúng ta đang cần và vẫn sẽ cần đến loài ong. Có những loài cây trái cần đến ong để thụ phấn. Nếu loài ong mất, đi chúng ta sẽ gặp nhiều vấn đề về canh tác, về sản xuất thực phẩm cho chúng ta.
Mặt khác, có một điều chưa ai nói đến, đó là trong thiên nhiên có rất nhiều loài cây cỏ sống hoàn toàn cần đến loài ong trong việc thụ phấn. Nếu chúng ta loại trừ một giống ong nào chuyên giúp thu phấn cho một loại cây nào đó, thì cây đó sẽ chết".
Theo nhà nghiên cứu Le Conte, hậu quả của sự diệt vong của loài ong không chỉ rất nặng nề về mặt thực phẩm, mà sự diệt vong này còn là biểu tượng của sự suy thoái một trường nghiêm trọng:
"Tôi nghĩ là chúng ta sẽ không chết đói vì có rất nhiều loại cây trái không cần đến loài côn trùng để thụ phấn, mà chỉ cần có gió, nhưng chắc chắn là nếu không còn loài ong, chúng ta sẽ mất đi một số loại rau quả và điều này rõ ràng là sẽ gây nhiều khó khăn cho nhân loại.
Đây là một tín hiệu báo động rằng chúng ta phải ngăn chận nguy cơ, vì nếu con người lại có thể phá hủy những thứ đó, thế giới coi như tiêu tùng. Cần phải xem sự tồn tại của loài ong như là một cái ngưỡng không nên vượt qua, mà trái lại phải tìm đủ mọi cách để bảo vệ chúng. Bảo vệ loài ong có nghĩa là bảo vệ môi trường chung quanh chúng ta, bởi vì chúng ta cũng đang ăn những thứ có thuốc trừ sâu, hít thở không khí nhiễm thuốc trừ sâu. Chúng ta phải ngăn chận nguy cơ đó".
Chỉ trong vòng ba tháng đầu năm 2018, hai dự án điện mặt trời đầu tiên của Việt Nam và có quy mô lớn được khởi công tại tỉnh Ninh Thuận. Dự án thứ nhất là nhà máy điện mặt trời BIM 1, khởi công ngày 23/01/2018, sẽ lặp đặt 90.000 tấm pin năng lượng mặt trời trên diện tích 35 ha, hàng năm sẽ sản xuất ra 50 triệu kWh điện. Dự án thứ hai là nhà máy điện mặt trời Hồ Bầu Ngứ, được khởi công ngày 31/03, lặp đặt 162.000 tấm pin mặt trời trên diện tích gần 75 ha, sẽ sản suất gần 100 triệu kWh khi hòa vào lưới điện quốc gia.
Trước đó, chính phủ Việt Nam đã có kế hoạch xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân với Nga và Nhật Bản. Tuy nhiên, kế hoạch đã bị hủy vào tháng 11/2016 do chi phí quá lớn, lên đến vài tỉ đô la cho mỗi lò phản ứng.
So với điện hạt nhân, điện gió và điện mặt trời có những lợi thế gì khi được phát triển ở Việt Nam? Trả lời RFI tiếng Việt, ông Nguyễn Trịnh Hoàng Anh, chuyên gia Kinh tế và Chính sách Năng lượng, giảng viên đại học Khoa Học-Công Nghệ Hà Nội (Université des Sciences et des Technologies de Hanoi, USTH), giải thích :
« Ưu điểm rõ ràng nhất đó là đầu vào miễn phí. Yếu tố thứ hai đó là sự phát thải rất ít. Việt Nam là một nước nhiệt đới, vì vậy, tiềm năng về năng lượng mặt trời tại Việt Nam rất là tốt, kể cả phong điện vì chúng ta có một bờ biển dài hơn 3.000 km. Đặc biệt khu vực miền Trung - Nam Bộ và Nam Bộ có tiềm năng gió và mặt trời rất lớn. Đó là một thuận lợi khi chúng ta muốn phát triển phong điện hay điện mặt trời.
Tuy nhiên, khi quyết định phát triển một dạng năng lượng nào đó thì người ta phải tính toán đến rất nhiều yếu tố, ví dụ chi phí đầu tư, đảm bảo việc cung cấp điện có liên tục, có an toàn hay không. Đó là một bài toán rất tổng thể, vì vậy, ngay cả hiện nay, khi nhà nước đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ điện mặt trời hay điện gió, thì việc triển khai trên thực tế cũng gặp một số trở ngại mà hiện nay, nhà nước cũng như các nhà đầu tư đang cùng nhau giải quyết vấn đề này ».
Theo báo chí trong nước, tỉnh Ninh Thuận đã chấp thuận chủ trương khảo sát cho 48 dự án điện mặt trời, trong đó có 18 dự án được cấp quyết định chủ trương đầu tư. Riêng tập đoàn Thiên Tân, theo báo Nhật Nikkei (05/02/2018), đã có 5 dự án tại tỉnh Ninh Thuận, từ nay cho đến năm 2020, với tổng trị giá gần 2 tỉ đô la. Theo dự kiến, nhà máy đầu tiên, có công suất 50 MW, sẽ đi vào hoạt động trong năm 2018, bốn nhà máy tiếp theo sẽ có công suất từ 200-300 MW. Còn tập đoàn TTC đề ra kế hoạch xây 20 dự án điện mặt trời, cho đến năm 2020, tại tỉnh Tây Ninh (324 MW), Bình Thuận (300 MW), Ninh Thuận (300 MW)…
Điện mặt trời : Từ quy mô nhỏ đến dự án nguồn năng lượng chính
Đúng là các tỉnh Trung-Nam Bộ và Nam Bộ thu hút các dự án điện mặt trời có quy mô lớn, vì có số giờ nắng cả năm trên 2.600 giờ, tổng lượng nhiệt gần 10.000 độ C, nhưng rất nhiều dự án nhỏ hơn đã được triển khai ở các tỉnh thành trên cả nước, như giải thích của chuyên gia Hoàng Anh :
« Theo như quy định hiện nay cho điện mặt trời thì những dự án điện nối với lưới điện ở quy mô gia đình cũng được hỗ trợ về mặt chính sách, cũng như hỗ trợ về mặt giá. Chính vì vậy, ở Hà Nội và một số tỉnh khác ở miền bắc, họ cũng xem xét phát triển những dự án đó ở quy mô từ gia đình, chứ không chỉ ở quy mô công nghiệp.
Thực ra ở quy mô gia đình, phải nói là gần như các tỉnh đều có, ngay cả các tỉnh miền núi phía bắc, nơi mà không ai nghĩ tiềm năng năng lượng mặt trời là nhiều, nhưng mà ở một số xí nghiệp làm nông nghiệp (như trồng cây trà, hoặc các cây nông nghiệp khác), họ cũng đã và đang phát triển những hệ thống năng lượng mặt trời để phục vụ cho chính việc sản xuất của họ.
Lấy một ví dụ ở Hà Nội, tòa nhà của Liên Hiệp Quốc ở Hà Nội cũng có một hệ thống điện mặt trời trên mái nhà có công suất là 119 KW. Họ đã vận hành từ trước đến nay và họ cũng đã đấu nối với lưới điện rồi. Tuy nhiên, trước đây những dự án như vậy chưa nhận được những hỗ trợ về mặt chính sách về giá nhưng giờ đây các dự án tương tự sẽ nhận được những hỗ trợ khuyến khích đó. Đó cũng là một điều cho chúng ta thấy ở các tỉnh thành khác ở miền bắc, hoặc là toàn quốc, cũng có khả năng phát triển dự án điện mặt trời công suất tương đối lớn hơn so với hiện tại ».
Việt Nam đang cố gắng phát triển điện mặt trời thành một nguồn năng lượng chính của đất nước. Theo dự kiến, năng lượng mặt trời sẽ chiếm 3,3% tổng công suất phát điện vào năm 2030, tiếp theo là chiếm 20% vào năm 2050. Tuy nhiên, thị phần năng lượng mặt trời hiện còn rất nhỏ :
« Thực tế là hiện nay, ngay cả phong điện, điện mặt trời, tức là những dạng năng lượng tái tạo mà không tính đến thủy điện, đều đóng góp một tỉ trọng rất nhỏ, dưới 1%, vào trong hệ thống. Chính vì vậy, Nhà nước mới có chính sách muốn phát triển nhiều hơn nữa để đáp ứng được cho nhu cầu phát triển điện trong thời gian tới khi mà nhu cầu ngày càng tăng và các nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng cạn kiệt. Trong tương lai, nó cũng là nguồn thay thế để chúng ta sử dụng, đáp ứng được nhu cầu. Còn hiện tại, chúng ta cũng đang phải giải quyết rất nhiều việc, từ kỹ thuật đến kinh tế, chính sách để làm sao cho những dự án này được phát triển một cách hiệu quả nhất ».
Rút kinh nghiệm từ những nước đi trước
Điện mặt trời nói riêng, và năng lượng tái tạo nói chung, đã và đang được phát triển nhanh chóng trên thế giới. Đây chính là một điểm thuận lợi cho Việt Nam vì có thể học hỏi kinh nghiệm và nhận được hỗ trợ từ những dự án trước đó.
« Có thể nói là không chỉ có điện mặt trời, mà cả phong điện, chúng ta nhận được rất nhiều hỗ trợ từ các nước phát triển. Ví dụ từ Đức, họ đã có những chương trình về năng lượng tái tạo, và đặc biệt là điện gió, từ những năm 2008 ở Việt Nam.
Đối với điện mặt trời, nhiều tổ chức nước ngoài, như Ngân hàng Thế giới, hoặc các tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ), hoặc tổ chức phát triển của Mỹ, hoặc của Pháp AFD. Hiện AFD có những dự án về phát triển lưới điện cho Việt Nam hoặc những dự án tiết kiệm năng lượng, kể cả những dự án về năng lượng tái tạo cho Việt Nam. Vào đầu tháng Năm (2018), AFD cũng tổ chức một số hội thảo hoặc một số buổi làm việc cùng với các nhà làm chính sách của Việt Nam, cũng như các công ty điện ở Việt Nam để tìm ra những hướng phát triển hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực năng lượng.
Hoặc ngay từ những nước láng giềng như Thái Lan, là một nước rất thành công về phát triển năng lượng mặt trời ở khu vực Đông Nam Á. Tất cả để làm sao cho chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ họ, không chỉ là kinh nghiệm thành công, mà còn cả kinh nghiệm thất bại.
Ngay như Pháp, chúng ta có thể thấy là khoảng 5 đến 6 năm trước, cũng như Tây Ban Nha, họ phát triển năng lượng mặt trời rất nhiều, có nhiều chính sách hỗ trợ. Nhưng sau một thời gian, họ phải tạm ngừng những chính sách hỗ trợ đó để đánh giá lại bởi vì nhiều khi ra một chính sách, không thể khẳng định được rằng nó tốt ngay lập tức được mà phải qua quá trình thực hiện, sau đó mới biết được chính sách đó có tốt hay không và cần bổ sung, chỉnh sửa như nào cho phù hợp với thực tế của từng nước.
Đây cũng chính là một thuận lợi của Việt Nam và hiện nay chúng ta vẫn đang trong giai đoạn hợp tác với các nước để xem làm thế nào có được một chiến lược phát triển tốt nhất cho năng lượng tái tạo nói riêng, cũng như năng lượng cho Việt Nam nói chung ».
Chính phủ Việt Nam sẽ khuyến khích được người dân tự sản xuất và sử dụng điện mặt trời, một mặt nhờ giá thành của các tấm pin mặt trời ngày càng giảm, mặt khác nhờ chính sách mua điện mặt trời dư thừa :
« Sử dụng năng lượng mặt trời ở các hộ gia đình đã có từ lâu rồi, khi mà họ chuyển năng lượng mặt trời sang nhiệt để sử dụng trong bình nước nóng. Và đến thời gian gần đây, khi mà điện mặt trời phát triển với sự phát triển về mặt kỹ thuật, có nghĩa là có tiềm năng lớn, rồi công nghệ phát triển, khiến cho là pin năng lượng mặt trời hiệu quả hơn, thì người dân đã bắt đầu sử dụng.
Nhà nước cũng thấy đây là một lĩnh vực tiềm năng và cũng muốn hỗ trợ cho người dân. Chính vì vậy mà có chính sách từ tháng 06/2017, nếu hộ dân có những tấm pin năng lượng mặt trời kết nối với lưới điện thì Nhà nước cũng trợ giá. Chính vì vậy mà năng lượng mặt trời trong các hộ gia đình cũng rất tăng hiện nay ».
Dân gian có câu : « Kiến tha lâu cũng đầy tổ », hàm ý chỉ sự chăm chỉ, cần cù rồi cũng được đền bù xứng đáng. Thế nhưng, với nhà nghiên cứu Erik Frank, loài kiến còn có nhiều đặc tính thú vị khác. Khi quan sát cuộc chiến giữa loài kiến và mối tại Bờ Biển Ngà, Erik Frank phát hiện ra rằng kiến còn là những binh gia tuyệt vời và có một dịch vụ « quân y » rất hiệu quả.
Không phải giống kiến nào cũng có những « thói quen nhà binh » kiểu ấy. Đặc tính « quân nhân » này đặc biệt chỉ có ở giống kiến có tên khoa học là Megaponera analis, giống kiến Hạ Sahara, những giống kiến càng to khỏe, có chiều dài đôi khi lên đến 2cm. Đây là một trong những giống kiến được cho là rất « hiếu chiến ».
Sau 29 tháng bám lấy tổ kiến từ sáng đến tối, Erik Frank đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ sinh học, chuyên ngành nghiên cứu về Kiến tại trường đại học Wurzburg (Đức) vào tháng Giêng năm 2018, và cho đăng liên tiếp 5 bài nghiên cứu trên một tạp chí khoa học rất có uy tín của Anh, Proceeding B.
Nghiên cứu của anh về giống kiến Megaponera analis khiến báo Le Monde (14/03/2018) phải thốt lên đây quả là « những binh gia đáng gờm ». Quá trình đi săn mồi, tấn công mồi, các công tác hậu chiến của Megaponera chẳng khác gì một chiến dịch quân sự bao gồm các bước : Thăm dò đối thủ, bố trí quân lực, dàn trận, khai chiến, thu gom chiến lợi phẩm, thu nhặt "thương phế binh" và chăm sóc bệnh binh.
Trả lời phỏng vấn Le Monde, anh Erick Frank cho biết điều gì đã thôi thúc anh nghiên cứu về loài kiến này :
« Trong khoảng một tháng, tôi đã nhận thấy rằng những con khỏe mạnh tha về tổ những con bị thương. Nhưng tôi không biết là phát hiện này có thật sự là mới hay không và vì lúc ấy tôi cũng không có mạng Wifi để kiểm chứng, cũng như điện thoại để hỏi giáo sư. Thế là tôi cứ tiếp tục quan sát.
Những con kiến bị thương đó rồi sẽ thế nào ? Ai chuyển chúng đi và bằng cách nào ? Trong một hành trình dài ra sao ? Loài kiến này sẽ tổ chức tấn công như thế nào, bao nhiêu chiến binh, tỷ lệ thương vong trong giao chiến là bao nhiêu ? Để rồi ba tháng sau đó, khi giáo sư của tôi trở về, ông ấy tỏ ra có hứng thú. Ông ấy hỏi ngay là tôi có muốn làm tiến sĩ hay không ».
Xác định mồi và bố trí lực lượng
Với giống kiến Megaponera, miếng mồi ngon nhất chính là mối. Thế nhưng, tổ chức tấn công ổ mối lại không dễ chút nào. Những ụ mối, theo như cách ví von của giới khoa học, giống như là những vương cung thu nhỏ, thành trì vững chắc, có hệ thống điều hòa không khí tự nhiên, và lại rất hòa nhập với môi trường.
Nhưng giống kiến vùng Hạ Sahara này lại hiểu rất rõ là, để có thức ăn, loài mối phải bò ra khỏi cứ địa của mình, đi gom nhặt các vật liệu chết (lá cây, cành, vỏ cây) để cung cấp dinh dưỡng cho những luống nấm của mình. Mối buộc phải tìm chọn cho mình một địa điểm, phủ lên đấy một lớp mai bằng đất để tránh nắng và đương nhiên là cả những kẻ săn mồi, đồng thời nối điểm kiếm ăn với ổ mối bằng một con đường hầm.
Do đó, việc truy tìm địa bàn kiếm ăn của mối chính là nhiệm vụ đầu tiên của kiến "trinh sát". Khi phát hiện được mục tiêu, những con kiến này tiếp cận cẩn trọng, một cách từ từ, để thẩm định số lượng mối được triển khai. « Kiến dọ thám phải tỏ ra thật kín đáo, bởi vì nếu như những con mối canh gác phát hiện ra, chúng sẽ phát tín hiệu báo động và tất cả các con mối sẽ quay về nơi trú ẩn ».
Một khi đã thu thập đầy đủ các thông tin, kiến trinh sát trở về tổ để gây dựng một đạo quân mà nó cần. Khoảng từ 100 đến 600 con sẽ được huy động, xếp hàng hành quân. Đi đầu đàn là kiến trinh sát, nối theo sau là hai hàng sĩ quan phụ trách đánh dấu đường đi bằng cách tiết ra chất pheromone. Kế đến là những con kiến « to », còn có nhiệm vụ bảo vệ tiền tuyến của lực lượng chủ đạo. Phần quân còn lại đi ở phía sau theo từng hàng 4 con, được bọc hậu bởi những con « to » khác.
Dàn trận và giao chiến
Khi đã áp sát mục tiêu, kiến bắt đầu dàn trận. Những con kiến to có thân dài 2cm được xếp vào vị trí tiên phong. Ai tung tín hiệu tấn công ? Điều này anh Erik Frank vẫn chưa rõ. Nhưng bất thình lình cả đội kiến « lớn » cùng lao lên đánh. Mục tiêu là gì ? Phá tan lớp đất phủ do mối dựng nên. Nhiệm vụ được hoàn thành một cách chóng vánh. Tiếp đến là đợt tấn công của những con kiến nhỏ hơn, nhưng đôi càng có đến 5mm cơ bắp.
Về phía loài mối, chúng cũng phải tổ chức phản công, chia thành hai giới. Những chú lính mối có đôi hàm to khỏe xung trận chặn kẻ thù một cách kiên cường, trong khi những con mối thợ tìm cách trở về hầm để đào thoát.
« Hành động kháng cự của chú lính mối thật là anh hùng. Chúng cắn ở bất kỳ đâu có thể, cắt đứt càng và râu, ôm chặt lấy bụng kiến, và không buông ra nữa. Nhưng có những con kiến khác đến tăng viện, chúng cào cấu để cho mối phải nhả ra, đến lượt chúng cắn lại, cho đến khi nào con mối đầu gần lìa thân… Và kiến bao giờ cũng là kẻ thắng trận và tiếp tục lao vào những con mối thợ còn lại. Nhưng đương nhiên, kiến cũng phải trả một cái giá khá cao ».
Theo ghi nhận của Erik Frank, sau mỗi trận như thế, ít nhất có đến 1/3 quân kiến bị thương trong một cuộc giao chiến chỉ kéo dài từ 10-15 phút.
Vận chuyển phế binh
Chính vào lúc này, điều đáng ngạc nhiên nhất diễn ra. Đứng ngoài trong suốt cuộc chiến, những con kiến to khỏe giờ lại bắt tay vào việc. Số thì tha về tổ chiến lợi phẩm, mỗi con có thể tha đến 6 con mối. Số khác thì chuyển thành lính cứu thương, vận chuyển những con kiến bị thương.
« Sau trận đánh, mỗi trận kéo dài từ 10-15 phút, các chú kiến không những bắt đầu thu gom chiến lợi phẩm là những con mối, mà còn thu nhặt cả những con kiến lính bị thương, những con bị mất một hay hai càng. Những con này sau trận đánh đã tiết ra loại chất pheromone để cầu cứu kiến cứu thương đến hỗ trợ. Nhờ vào loại hóa chất này kiến cứu thương có thể đến xem những con bị thương, ngậm chúng vào miệng và tha chúng về tổ ».
Những con nào bị thương quá nặng, mất hơn 3 càng thì đành chấp nhận số phận hẩm hiu bị bỏ rơi. Một sự sàng lọc đòi hỏi sự tham gia của chính những con kiến bị thương. Chúng sẽ không phát đi tín hiệu hóa học nào, cũng như không chấp nhận vị thế ưu tiên.
Anh Erik Frank lưu ý : « Đó không phải là một sự hy sinh tình nguyện, một hành động tự phát. Những con kiến này không thể đứng dậy và phát tín hiệu tuyệt vọng được. Nhưng cách hành xử này, mang tính tập thể, dựa trên một cơ chế rất đơn giản, lại có vẻ rất hiệu quả ».
Dịch vụ quân y hiệu quả
Một khi về đến tổ, trách nhiệm được giao lại cho các con kiến « bác sĩ quân y ». Chúng sẽ chăm sóc những con kiến « phế binh » đó như thế nào ? Đến đây, các nhà khoa học Đức đành phải dùng đến một thiết bị camera cực kỳ nhỏ để quan sát 6 ổ kiến được gây dựng trong phòng thí nghiệm.
Những con kiến đóng vai trò « bác sĩ » này phải hành động nhanh và tỉ mỉ, bởi vì chúng chỉ có một giờ để chữa trị, do các vết thương lành sẹo rất nhanh và tình trạng nhiễm trùng sẽ lan toàn thân. Chúng rửa sạch các vết bẩn hay gỡ bỏ những phần còn thừa của mối còn dính trên vết thương bằng cách liếm thật nhiều lên đấy, theo như giải thích của nhà khoa học với đài phát thanh Radio Canada.
« Ngay ở trong các tổ kiến, có những điều mà chúng tôi đã quan sát thấy và chúng tôi cho rằng đây là điều mới mẻ : đó là những con kiến cũng biết chăm sóc vết thương cho con khác, như là dùng móng để lau chùi vết thương hoặc phòng ngừa vết thương bị viêm nhiễm.
Tôi không chắc liệu có thể nói đó là một sự chữa trị thuốc thang hay không bởi vì có thể đó là những chất phòng ngừa giúp rửa vết thương, lau chùi đất, có rất nhiều khả năng để phòng ngừa sự viêm nhiễm. Tuy nhiên, người ta không rõ là vết thương đó đã bị viêm nhiễm rồi hay chưa và các con kiến khác có chăm sóc chống viêm nhiễm bằng chất kháng sinh hay không »
Một thế hệ thuốc kháng sinh tương lai ?
Một câu hỏi khác cũng được Erik Frank và ông K. Eduard Linsenmair, giáo sư hướng dẫn đặc biệt quan tâm : Hiệu quả chữa trị như thế nào ? Để tìm hiểu vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã chọn ra 120 con kiến « phế binh » chỉ mất có hai càng và chia làm ba nhóm : Một số không được điều trị, số khác được đặt vào môi trường vô khuẩn và số còn lại được hưởng chế độ điều trị. Kết quả là : « 80% trong nhóm đầu đều chết trong vòng 24 giờ, 20% tử vong trong nhóm thứ hai và duy chỉ có 10% tử vong trong nhóm thứ ba ».
Kết quả nghiên cứu này của Erik Frank được giới khoa học chuyên nghiên cứu về kiến trên thế giới hoan nghênh. Đây là lần đầu tiên, người ta có thể tập hợp các tài liệu chứng minh một cách khoa học về việc kiến chăm sóc trực tiếp các vết thương cho các con khác đồng loại.
« Chính xác là như vậy. Đây là lần đầu tiên người ta đã nhìn thấy một hệ thống, các bác sĩ, có thể gọi như vậy, cùng với các xe cứu thương của các con kiến. Bởi vì bình thường ra, các con vật chỉ tự chăm sóc các vết thương của bản thân, ví dụ con tinh tinh tự chăm sóc vết thương của nó. Thế nhưng, chăm sóc vết thương cho các con khác thì đây là lần đầu tiên, người ta quan sát thấy được một hệ thống chăm sóc có tổ chức hẳn hoi. »
Erik Frank cho biết thêm trong quá trình làm nghiên cứu sau đại học tại trường đại học Lausanne Thụy Sĩ, anh hy vọng có thể tìm ra lời giải cho những câu hỏi : Những nạn nhân đó chết vì cái gì, hay nói một cách khác bản chất của tình trạng nhiễm trùng là gì ? Thành phần nước dãi mầu nhiệm của kiến có gì ? Bản chất của việc điều trị là phòng bệnh hay chữa bệnh ? Những lời giải này có thể giúp các nhà sinh học khai mở hướng đi tìm ra những thế hệ thuốc kháng sinh mới.
Những năm gần đây người ta nói nhiều về hạt nano và các ứng dụng của chúng trong cuộc sống loài người. Khen có mà chỉ trích cũng có. Hạt nano hiện diện khắp nơi ngay cả trong các loại sản phẩm có thể tiếp xúc trực tiếp với cơ thể con người như thực phẩm hay mỹ phẩm. Nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe con người vẫn chưa được biết đến. Người ta bắt đầu đặt câu hỏi : « Có nên sợ hay không hạt nano ? ».
Thế giới « nano »
Vậy thật ra « hạt nano » là gì ? Trả lời các câu hỏi của RFI Tiếng Việt, Jean-François Guillemols, giám đốc trung tâm nghiên cứu năng lượng mặt trời thuộc Tập đoàn Điện lực Pháp EDF và thành viên Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp CNRS có giải thích đơn giản như sau :
« Hạt nano phân tử là những hạt phân tử có kích thước của nanomét, tức bằng 1/100 kích thước một sợi tóc. Một kích thước cực kỳ nhỏ đến mức người ta e sợ chúng có thể thâm nhập vào tất cả mọi thứ (…) Những năm gần đây, nhất là trong một thập niên nay, người ta đã có thể bắt đầu chế tạo ra được chúng, kiểm soát được chúng, thậm chí là sử dụng cả chúng nữa. Chính vì thế chúng ta có thể thấy chúng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực ».
Thuật ngữ « nano » bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ XX trong giới công nghiệp. Có nguồn gốc Hy Lạp cổ, « nano » có nghĩa là « lùn », « nhỏ bé », và thuật ngữ này giờ đã đi vào trong đời sống thường ngày của chúng ta và làm nảy sinh ra một dạng từ vựng : công nghệ nano, ngành khoa học nano, máy móc nano, phòng thí nghiệm nano, mỹ phẩm nano, hạt phân tử nano, vật liệu nano… Nói tóm lại, xin chào mừng quý vị đến với thế giới nano !
« Người ta có thể tìm thấy các hạt nano trong các loại trang thiết bị ; các loại mỹ phẩm trang điểm như kem chống nắng, kem đánh răng ; trong các loại sơn… Trong y khoa, hạt nano được sử dụng như là một chất chỉ thị, cho phép quan sát và nghiên cứu chức năng các cơ quan sinh học để đưa các chẩn đoán y khoa. Hay như người ta cũng có thể tìm thấy hạt nano trong các mạch điện tử… Nói tóm lại, trong cuộc sống thường nhật hạt nano có mặt khắp nơi, ví dụ trong một số mặt hàng may mặc, người ta sử dụng hạt nano bạc để chống khuẩn. »
Lợi và hại của « nano »
Nhờ có nhiều các đặc tính vật lý, hóa học, điện, điện từ, nên công nghệ nano cho phép phát triển các loại nguyên vật liệu mang các đặc tính mới như có tính dẫn điện và nhiệt, có độ dẻo và độ bền cao. Do vậy, chất lượng các loại đồ vật mang công nghệ nano hoàn toàn khác hẳn so với những món đồ có cùng thành phần được sản xuất theo kỹ thuật truyền thống.
Có thể nói « hạt nano » có muôn vàn ứng dụng tiện ích và được sử dụng rộng rãi đến mức dường như hầu hết các sản phẩm xung quanh ta đều có mặt hạt nano. Câu hỏi đặt ra : Phải chăng là chúng ta đang bị « ngụp lặn » trong thế giới nano ? Liệu cơ thể con người có bị « quá tải » hạt nano hay không, bởi vì ngoài những hạt nano « nhân tạo », cơ thể chúng ta bình thường cũng đã hấp thụ phần nào các loại hạt nano « tự nhiên ».
« Người ta nói nhiều về các hạt nano là bởi vì ngày nay chúng ta biết cách nhận dạng, chế tạo cũng như là biết cách sử dụng chúng. Tuy nhiên, chúng ta lại không biết rằng có nhiều vật chất có kích thước nanomet đã hiện hữu tự nhiên trong môi trường mà chúng ta tiếp xúc hàng ngày trong cuộc sống, trong lúc hít thở, ăn uống…
Thế nhưng cơ thể chúng ta cũng đã quen thuộc với các hạt nano « tự nhiên » này rồi. Do đó, mọi tranh luận hiện nay về hạt nano chủ yếu có liên quan đến các loại hạt nano « nhân tạo ». Bởi vì người ta nghi ngờ về những loại hạt do chúng ta tạo ra mà không hề tồn tại trong môi trường. Họ nghi ngờ về tính không độc hại của chúng cho sức khỏe con người ».
Quả thật, tính độc hại của các hạt nano đối với con người ra sao hiện vẫn chưa được khoa học chứng minh. Thế nhưng, các đặc tính cũng như cách thức phản ứng của các chất nano đang làm dấy lên nhiều mối quan ngại. Các loại chất như nhôm, chì, titan dioxit hay như sắt oxit, với kích thước nano, có thể thâm nhập dễ dàng và đi sâu vào trong cơ thể. Các loại chất này dễ dàng vượt qua các lớp bảo vệ tự nhiên như da hay các màng, và tích tụ trong cơ thể. Vậy chúng ta nên ủng hộ hay nên từ bỏ hoàn toàn việc dùng đến các hạt nano ?
« Quả thật, những gì mà người ta gọi là hạt nano chỉ là một thuật ngữ chỉ chủng loại, dùng để chỉ kích cỡ, kích thước một vật chất cực kỳ nhỏ. Vậy có nên chống hay ủng hộ việc sử dụng hạt nano chẳng có liên quan gì đến kích thước của vật chất mà phải xem xem đó là loại hạt phân tử gì, bởi vì chúng hiện diện khắp nơi. Do đó cần phải xem xét từng trường hợp, nhất là đối với các hạt nano tự do phân tán trong không khí, vốn dĩ có thể thâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp.
Nếu như đó là những hạt nano mới, bởi vì có một số loại hạt mà cơ thể chúng ta đã quen thuộc như trong nước hay không khí…, thì những hạt nano mới có thể gây ra các chứng dị ứng. Hiện tại chúng ta chưa biết được tác động của các loại hạt nano mới lên các loài sinh vật. »
Một dạng chất thải mới cho môi trường ?
Ngoài những nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe con người cho đến giờ vẫn chưa được khoa học kiểm chứng, việc sử dụng ồ ạt các hạt nano trong mọi lĩnh vực đời sống con người đang đặt ra một thách thức mới cho môi trường.
« Đó là những thứ được thải ra môi trường như các loại phân tử, các loại thuốc hay như các loại rác thải khác. Đó là một phần chất thải cực kỳ nhỏ. Ở một khía cạnh nào đó, việc dùng công nghệ nano cho phép sử dụng ít hơn các chất liệu, và như vậy cũng hạn chế rác thải ra môi trường.
Ngược lại, công nghệ nano lại làm tăng lượng hạt nano phân tán trong môi trường. Đây là một dạng chất thải mới. Người ta sản xuất ít hơn nhưng chúng lại có một tác động mới lên môi trường mà chúng ta vẫn chưa biết rõ. Một số chất xúc tác, có chứa kim loại nặng, có thể đồng hóa một cách khác đi so với các loại chất thải khác mà chúng ta tạo ra cho dù chúng có cùng một thành phần hóa học ».
Về điểm này, nhà nghiên cứu về độc tính học, bà Francelyne Marano, thành viên của Hội Đồng Sức Khỏe Công Cộng, có khuyến nghị rằng các nhà sản xuất không nên đưa vào thị trường các dòng sản phẩm nano mà chưa qua thử nghiệm. Cũng như mọi tiến bộ khoa học khác, lợi và hại của công nghệ nano đều phải được đưa ra tranh luận để có được một thông tin minh bạch, qua việc phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, các nhà sản xuất công nghiệp và người dân.
Chính trong mối lo này, ngày 23/01/2018, Hiệp Hội Bảo Vệ Người Tiêu Dùng của Pháp, UFC – Que Choisir đã thông báo kiện 9 tập đoàn công nghiệp lớn của Pháp. Hiệp hội cáo buộc những hãng này đã đưa ra thị trường các loại thực phẩm và mỹ phẩm, mà không ghi rõ sự hiện diện dày đặc các hạt « nano », theo như quy định của nước Pháp và Liên Hiệp Châu Âu.
Không phải thực vật, không phải động vật, và cũng không phải là nấm, mà là một sinh vật có cả ba đặc tính này. Đó là một sinh vật nguyên sinh có cấu tạo từ một tế bào duy nhất, có khả năng di chuyển, không có não nhưng có trí nhớ và có khả năng học hỏi đáng ngạc nhiên. Và các nhà khoa học Pháp đặt tên cho chúng là « Blob ».
Giả định rằng năm khẳng định sau đây là kiến thức cơ bản của sinh học. Tế bào, đơn vị cơ bản của sự sống có kích thước bé nhỏ. Để di chuyển, một sinh vật phải có những cơ quan vận động đặc thù. Mỗi một loài sở hữu một lượng nhiễm sắc thể nhất định. Những sinh vật sống sinh sản theo giới tính được chia làm hai giống : đực và cái. Trung tâm của trí nhớ và học hỏi nằm ở não bộ.
Thế nhưng, Blob là loài sinh vật đặc biệt có tên khoa học đầy đủ là Physarum polycephalum – một sự kết hợp giữa tiếng Latinh và Hy Lạp, có nghĩa là « sinh vật nhầy có nhiều đầu ». Tên này do nhà khoa học Mỹ Lewis David von Schweinitz, chuyên nghiên cứu về loài nấm, đặt cho vào năm 1882.
Một tế bào - một mảng cơ thể khổng lồ
Loại « nấm nhầy » này đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học từ nửa cuối thế kỷ trước, do những đặc tính sinh học khá kỳ lạ của chúng. Chỉ có một tế bào duy nhất, nhưng « nấm nhầy » không thuộc hệ thực vật, không hẳn là động vật, mà cũng không hoàn toàn là « nấm ». P. polycephalum có cả ba tính chất đó.
Chính vì thế mà cô Audrey Dussutour, nhà nghiên cứu sinh học thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia CNRS ở Toulouse, sau 8 năm ròng rã tìm hiểu loại nấm nhầy lại thích gọi chúng là « Blob », lấy cảm hứng từ tên của một loại sinh vật trong một bộ phim kinh dị của Mỹ cùng tên The Blob, sản xuất năm 1958.
Trong phim, đó là một sinh vật nhầy, từ trên trời rơi xuống, ăn tươi nuốt sống người và có khả năng chống cự lại được mọi ý định trừ khử nó. Nhưng Blob của cô Dussutour không hung dữ, không ăn thịt người. Vậy người ta có thể tìm Blob ở đâu ? Cô Audrey Dussutour trong một buổi thuyết trình có giải thích :
« Chắc chắn là quý vị đã thấy Blob rồi, nhưng không biết đấy là Blob. Chúng thường sống ở những vùng rừng thấp. Đó chính là những mảng lớn mầu vàng bám trên các thân cây. Blob có đủ các mầu sắc : hồng, đỏ, xanh dương, nhưng thường có mầu vàng, đôi khi trắng. »
Tuy chỉ có một tế bào duy nhất, nhưng Blob có thể tăng gấp đôi kích thước trong vòng 24 giờ, và có thể đạt đến kích cỡ hàng chục mét vuông, thậm chí hơn một km2.
« Blob (theo quan sát của nhà nghiên cứu) có thể đạt đến một kích thước tối đa 10m². Hiện tại chúng tôi chưa tài nào làm cho nó lớn hơn được nữa, nhưng điều này rất có thể làm được. Quý vị tưởng tượng xem, giả dụ như tôi đây có diện tích 2m². Trong người tôi, có khoảng 100 tỷ tế bào, tức cứ mỗi 10 µm có một tế bào. Nhưng một Blob ở đây chỉ có một tế bào duy nhất. Quý vị nghĩ xem chỉ một tế bào duy nhất thôi mà đã chiếm đến 10m². Quả thật, nếu tôi so sánh những tế bào nhỏ xíu của tôi với tế bào của Blob, chẳng khác nào giống như so nắm đấm tay của tôi với cả địa cầu này. »
Làm thế nào một sinh vật đơn bào lại có kích cỡ to đến như thế ? Bởi một lẽ rất đơn giản, tuy chỉ có một tế bào, nhưng Blob có đến hàng chục ngàn nhân tế bào, vốn dĩ được nhân lên theo cấp lũy thừa sau mỗi tám tiếng đồng hồ. Điều này giải thích vì sao người ta có thế tìm thấy ở dãy núi Appalaches, Hoa Kỳ có những mảng Blob to đến 1,3 km².
Biết di chuyển, có 221 giới tính và gần như « bất tử »
Vì là sinh vật đơn bào, nên Blob cũng có đầy đủ các chức năng : tai, mắt, mũi, bao tử, phổi… Đáng sợ hơn nữa là Blob có thể di chuyển, với tốc độ khoảng 1cm/giờ, nhưng khi đói chúng có thể đạt tới vận tốc 4cm/giờ. Vậy chúng di chuyển được bằng cách nào ?
Cứ mỗi hai phút, dòng lưu thông mạch chất nguyên sinh (máu của Blob) đổi chiều. Ông Marc Durand, nhà vật lý ở đại học Paris – Diderot giải thích rằng : « Bằng cách co giãn các mạch máu thật mạnh theo chiều này hay chiều kia mà Blob có thể chọn hướng di chuyển cho mình ». Tức là, Blob di chuyển bằng cách tiến hai bước, lùi một bước.
Quá trình sinh sản của Blob cũng khác lạ, không như những gì chúng ta đã học qua trong các bài giảng về giáo dục giới tính. Vào giai đoạn này, sinh vật xốp nhầy của chúng ta rời môi trường âm u ưa thích, vươn ra ánh sáng và biến thành hàng ngàn túi bào tử hình cầu đủ mầu sắc, và sẵn sàng giải phóng một đám bào tử. Hai bào tử khác giới tính gặp nhau sản sinh ra một Blob mới. Nhưng cô Dessurtour lưu ý :
« Ở các loài cây, động vật, hay loài nấm, bao giờ cũng cần đến hai giới tính đối lập : đực và cái. Nhưng ở Blob, người ta đếm được 221 giới tính khác nhau. Nghĩa là không như chúng ta, khi các bạn bước vào một căn phòng gặp ai, bạn chỉ có 50% cơ may gặp người khác giới, nhưng Blob thì có đến 99,5% cơ hội gặp được một Blob có giới tính khác ».
Vậy khi nào thì Blob chết ? Đây là điểm mà hoàng đế Tần Thủy Hoàng khi còn sống rất muốn có mà không bao giờ đạt được : Blob là sinh vật bất tử.
« Có hai thứ Blob không thích : ánh sáng và bị bỏ đói. Khi Blob rơi vào tình trạng nguy hiểm này, nó sẽ làm gì ? Nó héo đi. Nó trở nên xơ cứng lại. Miếng xơ này có thể giữ nguyên như thế trong vòng nhiều năm liền. Cho nên một ngày nào đó, bạn chán nuôi blob ở phòng thí nghiệm rồi, bạn muốn đi du lịch, bạn chỉ cần phơi khô nó, rồi cất vào tủ. Hai tuần sau trở về, bạn chỉ cần nhỏ vài giọt nước là nó sống lại. »
Không những bất tử mà dường như Blob còn có phép phân thân như Tôn Ngộ Không. Bạn thử cắt Blob làm đôi xem, hai phút sau, các vết cắt liền sẹo, và bạn sẽ có 2 Blob giống nhau như đúc, y như là sinh sản vô tính. Khi để hai Blob gần nhau, nếu thấy « hợp tính » thì chúng nhập lại thành một. Nhưng khi đặt hai loài Blob khác biệt cạnh nhau, sẽ có một Blob bị tiêu diệt.
Không não, nhưng thông minh
Blob đặc biệt gây ngạc nhiên cho các nhà khoa học ở điểm, tuy là sinh vật đơn bào nguyên sinh, nhưng Blob cũng có trí thông minh, dù rằng không hề có não. Blob có khả năng phát triển các chiến thuật cá nhân hay tập thể tùy theo mức độ khó khăn của các nhiệm vụ đặt ra cho Blob.
« Chúng tôi đặt nhiều mẫu Blob con trong một mê cung. Nhiệm vụ của chúng là phải thoát ra khỏi mê cung này. Những hình ảnh ở đây cho thấy những con Blob nhỏ đã nhập lại với nhau, rồi phủ toàn bộ mê cung, một cách nhanh chóng chúng đã tìm thấy đường thoát khỏi mê cung. »
Tương tự trong dinh dưỡng, Blob có khả năng chọn lựa một cách hiệu quả những nguồn thực phẩm nào có chế độ dinh dưỡng cân bằng nhất, và có lợi cho sức khỏe nhất.
« Ở đây các bạn thấy những viên thực phẩm, có chứa đựng một hàm lượng đường và đạm nào đó. Và chỉ có một viên là tốt cho sức khỏe và sự sống còn của Blob. Khi chúng tôi để một Blob ở giữa những viên thực phẩm này, chúng tôi thấy là trong 100% các trường hợp, Blob đều chọn chế độ dinh dưỡng thích hợp. Nó không bao giờ bị nhầm cả. »
Nếu nói đến trí thông minh, thì phải nghĩ đến trí nhớ và khả năng học hỏi. Blob của chúng ta có cả hai. Câu hỏi đặt ra làm thế nào Blob ghi nhớ khi mà không có não ?
« Blob đã tìm cho mình một giải pháp : Đó là có bộ nhớ không phải bên trong mà là bên ngoài. Mỗi khi Blob dịch chuyển, nó để lại phía sau nó vệt nước nhầy. Giống như là bóng ma của Blob một giờ trước đó. Blob từng ở điểm này, nó không tìm thấy được gì cả, thể là nó thu hồi toàn bộ ‘đồ nghề’, và rồi nó đến khám phá phía khác của chiếc hộp.
Chất nhầy mà Blob để lại phía sau nó giống như là một bộ nhớ. Lúc ấy, Blob hiểu rằng nó đã từng đi qua nơi này và ở đó chẳng có gì hết. Nó sẽ không bước qua vết nhầy đó nữa. »
Thí nghiệm của các nhà khoa học Pháp cho thấy Blob cũng có khả năng giao tiếp, truyền đạt thông tin. Ví dụ khi tìm được nguồn thức ăn, Blob thông báo cho đồng bọn bằng cách để lại vết canxi.
Là những sinh vật rất có « cá tính »
Vì trên thế giới có hơn 1.000 loài Blob khác nhau nên chúng cũng có « cá tính » riêng. Blob ở Mỹ háu ăn và khám phá vùng lãnh thổ của mình bằng cách dùng những chân giả, giống như là những ngón tay dài mò mẫm trong hộp tối. Nhanh nhẹn nhất là Blob Nhật Bản, phồng to lên rồi phát triển những chân giả rộng hơn. Ngược lại, Blob Úc thì khoan thai, từ từ ngoạn cảnh trước khi phồng mình một cách hài hòa với thế giới xung quanh.
Nhưng có lẽ thú vị nhất là thí nghiệm khảo sát hành vi của hai Blob khác nhau trong cùng một môi trường. Ví dụ như chuyện gì sẽ xảy ra khi để chung Blob Mỹ và Úc với nhau, hay Mỹ - Nhật chung với nhau.
« Trước hết, chúng tôi để hai Blob Mỹ, hay hai Blob Nhật hoặc Úc chung với nhau. Sau đó, chúng tôi cung cấp một nguồn thức ăn. Như vậy, Blob có hai chọn lựa. Hoặc nó đi đến gặp bạn. Hoặc đi thẳng đến nguồn thức ăn. Qua quan sát, chúng tôi thấy Blob Mỹ đi thẳng một mạch đến nguồn thức ăn và hoàn toàn không quan tâm đến bạn.
Blob Úc có tính cách rất đáng yêu : Mình đến gặp bạn trước đã, rồi sẽ cùng nhau đi tìm thức ăn. Hành động đầu tiên hai Blob Úc làm là nhập lại, tạo thành một Blob duy nhất. Ngược lại, Blob Nhật thì trước tiên đi đến nguồn thức ăn, nhưng sau đó cùng chia sẻ.
Bây giờ chúng ta xem thử xem Blob Úc có còn dễ thương hay không khi ở chung với Blob Nhật hay Mỹ. Blob Úc cố chạy theo những con khác tìm cách để nhập thành một. Nhưng những Blob khác tránh né.
Nhưng nếu bạn để một Blob Mỹ chung với một Blob Nhật, con Mỹ giết con Nhật Bản. Trên thực tế, Blob Mỹ nhập vào Blob Nhật, giết chết con Nhật, và lấy hết những gì có trong tế bào Nhật, kể cả các chất dinh dưỡng, để lại một xác Blob hoàn toàn mềm nhũn. Cứ như là nó chưa bao giờ bất tử.
Cuối cùng, vì biết là Blob rất thích ăn các hạt dẹp yến mạch. Tôi thử mua loại yến mạch « sạch » (bio). Blob Úc và Nhật ăn thỏa thích, nhưng Blob Mỹ không ăn thực phẩm sạch, chỉ thích ăn những hạt dẹp yến mạch thường mua ở siêu thị lớn. »
Như vậy là các bạn đã biết khá nhiều về Blob rồi đó. Có người hỏi rằng liệu Blob có nguy hiểm cho chúng ta hay không ? Liệu chúng ta có nên sợ một ngày nào đó Blob sẽ tràn ngập khắp thế giới ? Cô Audrey Dussutour trả lời là « Không ». Bởi vì, Blob đã xâm chiếm trái đất từ 500 triệu năm nay.
Trên thực tế, chúng ta rất cần đến Blob, vì chúng giữ vai trò tái tạo nguồn dinh dưỡng trong thiên nhiên. Blob ăn nấm và vi khuẩn, để rồi sau đó thải ra môi trường các chất vi sinh có lợi cho cây cỏ. Một chi tiết thú vị khác được cô Dessutour tiết lộ là Blob rất thích lòng đỏ của trứng.
Vậy chúng ta có thể « nuôi » Blob được không ? Xin thưa là được. Nhưng cô Dussutour lưu ý đây là một loài sinh vật bò sát. Chính vì đặc tính này, mà cô Dussutour còn ví Blob như là ORNI (Objet Rampant Non Identifié – Vật thể bò sát không xác định), lấy cảm hứng từ OVNI (Objet Volant Non Identifié - Vật thể bay không xác định).
Sau 4 ngày dành riêng cho giới chuyên nghiệp và báo chí, ngày 23/06/2017, Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget lần thứ 52 ( diễn ra 2 năm một lần ) bắt đầu đón tiếp công chúng cho đến ngày 25/06.
Cũng như mọi năm, Le Bourget thu hút rất đông khách tham quan, vé bán trên mạng đã gần hết, ai chậm chân sẽ không có dịp để vào chiêm ngưỡng tận mắt hàng trăm máy bay đủ các loại, trong đó có một số kiểu máy bay mới, như A321neo và A350-1000 của tập đoàn châu Âu Airbus hay Boeing 787-10 "Dreamliner" và 737 Max 9 của tập đoàn Mỹ Boeing, hay Antonov 132 D của Nga.
Về các màn bay biểu diễn thì ngoạn mục nhất vẫn là của các chiến đấu cơ phản lực và đặc biệt lần đầu tiên từ nhiều năm qua, một chiến đấu cơ phản lực của Mỹ trở lại triển lãm Le Bourget, đó là chiếc F-35A của Không lực Hoa Kỳ, do hãng Lockheed Martin chế tạo.
Nhưng ngoài những sự kiện quen thuộc nói trên, năm nay, lần đầu tiên triển lãm Le Bourget dành riêng một khu để giới thiệu những sáng chế mới trong ngành hàng không không gian. Khu này được đặt tên là Paris Air Lab.
Paris Air Lab nằm trong gian triển lãm Concorde của Bảo tàng Hàng không và Không gian, nơi trưng bày chiếc máy bay siêu âm nay đã đi vào huyền thoại Concorde. Trong gian triển lãm rộng đến hơn 2.000 m2 này, không chỉ có những tập đoàn hay cơ quan lớn trong ngành không gian, mà còn có cả những công ty khởi nghiệp start-up. Chẳng hạn như những công ty khởi nghiệp Pháp tập hợp trong một nhóm có tên là VR Connection, chuyên về lĩnh vực thực tế ảo. Có mặt tại Paris Air Lab, một đại diện của VR Connection giới thiệu về máy mô phỏng lái trực thăng do họ thiết kế :
« Riêng cho Triển lãm Le Bourget, chúng tôi đã chế tạo ra máy mô phỏng lái trực thăng này, tái tạo toàn bộ các cảm giác trong buồng lái, dựa trên một cái ghế đặc biệt có 6 trục. Ngồi trong buồng lái này chúng ta sẽ cảm nhận mọi sự chuyển động của trực thăng rất giống như thật.
Về nội dung thì chúng tôi thiết kế một giao diện thực tế ảo với toàn bộ các bộ phận điều khiển trực thăng. Không chỉ làm cho chúng ta có cùng những cảm giác của một phi công lái trực thăng, mà máy mô phỏng này còn tạo ra những hình ảnh như thật bên ngoài buồng lái và tạo ra những tình huống như chúng ta đang lái trực thăng thật.
Dự án này sẽ được thương mại hóa trong vài tháng tới. Chúng tôi hiện đang thảo luận với các nhà công nghiệp để tung ra thị trường. Máy mô phỏng lái trực thăng này sẽ được sử dụng trong lĩnh vực dân sự lẫn quân sự, và cả trong lĩnh vực giải trí, vì ở Pháp hiện nay có rất nhiều phòng thực tế ảo nằm rải rác khắp nơi. Chúng tôi sẽ đưa máy mô phỏng lái trực thăng này vào thị trường giải trí đó để người sử dụng tận hưởng trải nghiệm này. »
Máy mô phỏng lái trực thăng này là một phần của lĩnh vực kỹ thuật số và những ứng dụng mới trong ngành hàng không và không gian, theo lời đại diện của VR Connection :
« Tôi nghĩ là, trong lĩnh vực hàng không và không gian, đây là một công nghệ rất cần thiết, vì có rất nhiều khâu đào tạo và tập luyện không thể được tiến hành trên không và nhất là trong không gian, mà phải cần đến kỹ thuật thực tế ảo, không cần dùng đến vật liệu nào, không gây nguy hại cho người được đào tạo và thực tập. »
Paris Air Lab còn là nơi giới thiệu những máy bay của tương lai, và vào đây thì khách tham quan sẽ trầm trồ thán phục trước một kiểu « xe bay » y như trong phim khoa học giả tưởng. Thật ra thì chiếc « xe bay » của công ty Slovaquie AeroMobil chưa hẳn là những chiếc xe bay đi bay lại bên trên các đường phố như ta thấy trong phim, mà là những chiếc xe chạy bình thường trên đường, nhưng có thể chuyển đổi thành máy bay để bay từ sân bay này đến sân bay kia. Ông Hugues Le Cardianal, một đại diện của công ty AeroMobil, giải thích :
« Đây không phải là chuyện khoa học giả tưởng, mà đã là thực tế. AeroMobil là một công ty của Slovaquia, đã cho bay thử 3 mẫu xe bay. Mẫu xe đầu tiên đã bay từ năm 2010, tức là cách đây 7 năm rồi. Và chúng tôi đã thiết kế chiếc xe mà ông nhìn thấy trước mặt ông. Đây là một chiếc xe đáp ứng những tiêu chuẩn, những quy định ngành hàng không lẫn ngành xe hơi. Mục tiêu trước mắt của chúng tôi là làm sao chiếc xe này được chứng nhận là một máy bay, và được đăng ký như là xe hơi vào khoảng năm 2019. Chúng tôi dự trù sẽ bắt đầu sản xuất ngay từ năm đó, để có thể giao những chiếc đầu tiên vào năm 2020.
Như vậy là khác với những dự án khác, chỉ chế tạo những mẫu xe bay mang tính chất nghiên cứu, chúng tôi không còn trong giai đoạn nghiên cứu nữa, mà đã chuyển hẳn sang giai đoạn thiết kế, đăng ký và sản xuất.
Chiếc xe bay này là giải pháp di chuyển cho những đoạn đường dài khoảng 700 km. Nếu đi bằng xe bình thường thì rất lâu, đi bằng máy bay nhỏ thì nhanh hơn nhiều, nhưng khi đáp xuống sân bay nhỏ, ta lại phải tìm mướn một chiếc xe, mà sân bay nhỏ thường nằm ở những nơi hẻo lánh, không dễ gì mà kiếm được xe.
Chiếc « xe bay » mà chúng tôi thiết kế rất phù hợp cho những đoạn đường dài khoảng 700 km. Cụ thể là chúng ta lái xe này đến sân bay, rồi chuyển xe hơi thành máy bay, tức là mở hai cánh bay và cánh quạt ra, rồi cất cánh. Sau khi đáp xuống sân bay kia, chúng ta lại chuyển máy bay trở lại thành xe hơi, rồi lái tới điểm đến.
Đây là một phương tiện giao thông mới, và hiện giờ thì cơ sở hạ tầng chưa hoàn toàn phù hợp với phương tiện mới này. Nhưng công ty AeroMobil của chúng tôi nghĩ tới khả năng là trong những năm tới, dọc theo các xa lộ người ta sẽ xây « phi đạo » dài khoảng 400 mét để loại xe mới này cất cánh và hạ cánh. »
Nhưng chiếc « xe bay » được trưng bày tại Triển lãm Le Bourget chỉ là khởi đầu cho những dự án khác của công ty AeroMobil trong tương lai, như lời ông Hugues Le Cardinal:
« Chiếc xe trước mặt chúng ta là chiếc 2 chỗ. Chúng tôi sẽ sản xuất khoảng 500 chiếc như vậy, giá của nó vẫn còn khá đắt. Nhưng bên cạnh đó, chúng tôi dự trù chế tạo những chiếc có kích thước lớn hơn, phù hợp hơn với việc di chuyển trên đoạn đường 700 km. Ngoài ra, để sử dụng loại xe này, ta phải có bằng lái xe và bằng lái máy bay.
Trong tương lai, chúng tôi còn có dự án chế tạo những xe bay tự động vì hiện nay đã có rất nhiều công nghệ về máy bay không người lái. Cái này thì còn là chuyện khoa học giả tưởng và hiện giờ, tôi nghĩ là chắc chưa có ai sẳn sàng ngồi lên chiếc « xe bay » tự động, bấm nút để nó tự cất cánh và hạ cánh. Nhưng nên nhớ rằng trong ngành chế tạo xe hơi, người ta đang phát triển ngày càng nhiều kiểu xe tự động mà trong vài năm nữa, chúng ta có thể sử dụng được. »
Đến với Paris Air Lab, khách tham quan cũng sẽ có dịp tìm hiểu những phát triển mới trong ngành không gian, chẳng hạn như qua dự án Altair, tức là dự án của châu Âu phóng các vệ tinh nhỏ với chi phí rât thấp, một dự án đáp ứng rất đúng nhu cầu hiện nay. Dự án được thực hiện bởi cơ quan ONERA, trực thuộc bộ Quân Lực ( Quốc Phòng ) Pháp. Ông Gérald Ordonneau, giám đốc chương trình phóng vệ tinh của ONERA, cho biết :
« Từ mấy năm qua đã có nhiều thay đổi lớn trong ngành không gian, với sự xuất hiện của rất nhiều vệ tinh cỡ nhỏ. Cho nên rất cần phải giảm chi phí phóng vệ tinh qua việc thiết kế các hệ thống có thể sử dụng lại được.
Có nhiều cách để sử dụng lại các hệ thống phóng vệ tinh, chẳng hạn như qua hệ thống SpaceX của Mỹ, nhưng trong khuôn khổ dự án của Pháp, chúng tôi phát triển những giải pháp khác thông qua dự án Altair, chế tạo một hệ thống phóng vệ tinh, với tầng một là một máy bay tự động có thể sử dụng lại được và tầng thứ hai là tên lửa cổ điển. Nhưng hệ thống này gây rất ít ô nhiễm, vì với việc gia tăng phóng vệ tinh, chúng ta cũng phải chú ý đến tác động môi trường. »
Còn theo lời cô Julie Gauvrit-Ledogar, nhà khoa học của ONERA, chưa tới 10 năm nữa, hệ thống phóng vệ tinh nói trên sẽ được đưa vào sử dụng :
« Trong khuôn khổ dự án Altair, chúng tôi dự trù sẽ đưa các hệ thống phóng vệ tinh đó vào hoạt động vào khoảng năm 2025. Hiện giờ chúng tôi đang trắc nghiệm tính kinh tế của dự án, để từ đó tiến hành lập kế hoạch kinh doanh và nghiên cứu thị trường, để có thể tung ra thị trường vào năm 2025.
Chúng tôi thực hiện dự án này cùng với 7 đối tác châu Âu, như Piaggio của Ý, SpaceTec của Bỉ, Đại học Bách khoa Zurich của Thụy Sĩ, Nammo của Na Uy. Ở Pháp thì chúng tôi cộng tác với cơ quan nghiên cứu Bertin và Trung tâm Nghiên cứu Không gian Quốc gia CNES. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với các đối tác này hệ thống phóng vệ tinh mới được đưa vào sử dụng. »
Từ ngàn xưa, kể cả từ thời Cổ Đại, con người vẫn cố tìm cách giải đáp những điều bí ẩn, khó hiểu của giấc mơ.Trước đây, Sigmund Freud, cha đẻ của phân tâm học, cho rằng giấc mơ phản ánh những ham muốn bị ức chế trong chúng ta. Nhưng bây giờ thì các nhà nghiên cứu thấy rằng giấc mơ phản ánh không chỉ những ước muốn, mà cả cả những nỗi lo sợ, nỗi thất vọng, không chỉ gợi lên những kỷ niệm, mà cả những dự phóng để ta chuẩn bị cho những tình huống tốt đẹp hoặc đáng sợ. Nói cách khác, giấc mơ thường mang tính dự báo.
Trong đêm, chúng ta mơ thấy rất nhiều chuyện, thế mà sáng dậy có những người chẳng còn nhớ gì cả, những người khác lại nhớ như in, kể lại vanh vách cứ như là vừa mới xem một bộ phim ! Có những người mơ lại những chuyện họ đã thấy trong ngày, những người khác thì mơ những chuyện mà ngày hôm sau mới xảy ra, cứ như thể là có ai báo trước cho mình.
Tobie Nathan, giáo sư tâm lý học lâm sàng, Đại Học Paris 8, vừa cho xuất bản tại Pháp một cuốn sách tựa đề « Những bí mật trong các giấc mơ của bạn » (Les secrets de vos rêves). Nhân dịp này, ban Pháp ngữ đài RFI có mời giáo sư Tobie Nathan đến tham gia một chương trình mà trong đó ông cũng đã trả lời trực tiếp qua điện thoại và giải mộng cho một số thính giả RFI ở châu Phi. Chương trình đã được phát ngày 03/01/2017 vừa qua.
Tuy là một giáo sư về tâm lý học, nhưng thỉnh thoảng, qua điện thoại, ông Tobia Nathan cũng tìm cách giải mộng cho một số người không phải là bệnh nhân của ông. Nhưng theo giáo sư Nathan, đừng nên tin vào những « từ điển giải mộng » vì đối với ông đó chỉ là những cuốn sách « nhảm nhí ».
Giáo sư Nathan nhắc lại rằng, nhờ những nghiên cứu về thần kinh học, nay người ta biết rằng giấc ngủ được chia thành nhiều giai đoạn và trong những giai đoạn đó diễn ra những giấc mơ dài, mà đôi khi trở thành những câu chuyện. Trong giai đoạn nghịch (paradoxal) của giấc ngủ, các cơ tạm thời bị liệt và lúc đó, bộ não bừng tỉnh, cơ quan sinh dục cũng vậy và đôi mắt bắt đầu cử động nhanh, xoay chuyển về mọi phía.
Đó là giai đoạn mà bộ não thu thập những hình ảnh, những cảm giác, những từ ngữ…, rồi kết hợp chúng để « sáng tác » những tái hiện mới. Theo giáo sư Nathan, không phải là chính chúng ta nằm mơ, mà làm như có một cái gì đó, một cỗ máy nào đó, hoặc một vị thần nào đó trình bày cho chúng ta một thực tế giống như là thật.
Trả lời RFI Pháp ngữ, giáo sư Tobie Nathan cho rằng giấc mơ nào cũng mang tính dự báo cho ngày hôm sau :
“Những người nghiên cứu về giấc mơ nghĩ rằng giấc mơ là một hình thức chuẩn bị tinh thần của chúng ta cho ngày hôm sau. Giấc mơ cố giải đáp những câu hỏi mà chúng ta đặt ra, nó giống như là những dự báo, vì chúng ta cố dự đoán xem những gì có thể sẽ xảy ra với mình. Như vậy, tất cả các giấc mơ đều phần nào mang tính chất báo hiệu. “Kịch bản“ bình thường mà một giấc mơ nêu lên là : nếu trong cuộc sống thực của ta, chuyện đó xảy ra thì nó sẽ như thế nào ?
Tôi đã nghe kể nhiều giấc mơ và trong đó có một số giấc mơ rất kỳ lạ, nhưng không thể kiểm chứng được. Chẳng hạn có một phụ nữ kể với tôi rằng, trong suốt nhiều năm trời bà thường nằm mơ thấy một con đường. Bà đi trên con đường ấy, rồi dừng lại trước một ngôi nhà và nhìn căn nhà ấy. Bà cứ mơ như thế trong suốt 10 năm trời. Sau mười năm, bà ấy dọn nhà đi và nhà mới của bà lại chính là căn nhà nằm trên con đường mà bà đã mơ! Thật tình thì tôi chẳng biết giải thích như thế nào.
Dầu sao, những câu chuyện giống như trên chứng minh một điều rằng: giấc mơ là nhằm chuẩn bị cho tương lai, chuẩn bị về mặt tinh thần cho chúng ta đối phó với những gì có thể xảy ra ngày hôm sau."
Nhưng vì sao không phải ai cũng nhớ mình đã mơ những gì đêm trước? Giáo sư Tobie Nathan cho rằng chúng ta chỉ nhớ về giấc mơ khi chúng ta thật sự quan tâm đến nó:
“Tôi nhớ được nhiều giấc mơ trong cùng một đêm và ngày càng nhớ nhiều hơn kể từ khi tôi viết hai cuốn sách về giấc mơ. Điều đó chứng minh rằng chúng ta có thể nhớ được những gì chúng ta đã mơ khi chúng ta thực sự quan tâm tới nó.
Đêm qua, tôi đã có một giấc mơ mà tôi dự định sẽ ghi vào một cuốn sách. Tôi đã mơ thấy có một người có thể từ xa làm di chuyển một đồ vật. Mọi người hỏi rằng có phải là anh ta dùng suy nghĩ để làm như thế hay không thì anh ta bảo : ”Đâu có. Tôi chỉ nhờ một làn gió làm dùm”. Tôi tự nhủ : đây quả là một giấc mơ rất đẹp và tôi phải viết nó vào một cuốn sách.
Ai cũng nghĩ là mình sẽ nhớ như in những nằm mơ thấy, thế mà sau đó chúng ta lại quên bẳng. Bình thường thì chúng ta nhớ giấc mơ cuối cùng, tức là giấc mơ ngay trước lúc chúng ta thức dậy. Nên nhớ rằng giấc mơ được tạo ra cũng là nhằm đánh thức chúng ta dậy. Giấc mơ thường hướng về ngày hôm sau, chuẩn bị cho chúng ta thức dậy. Nếu trong chúng ta có 5 giấc mơ trong một đêm ngủ 8 tiếng chẳng hạn, thì sau mỗi một giấc mơ đó chúng ta gần như đã thức dậy. Khi có một giấc mơ gây ấn tượng thật mạnh, nó sẽ làm chúng ta tỉnh ngủ hoàn toàn. Lúc nó nên mở mắt ra và ghi giấc mơ lại ngay, rồi sau đó ngủ lại, nếu muốn.“
Sau khi mơ thấy một chuyện gì đó, nhất là những chuyện kỳ lạ, chuyện kinh khủng, ta thường nhờ đến người khác để giải mộng. Theo giáo sư Tobie Nathan, nhiều người trong chúng ta có thể kể cho người khác nghe về giấc mơ của mình một cách thoải mái, vì nghĩ rằng đó không hẳn là chuyện thầm kín của cá nhân :
“Thật khó cho một người kể những gì mà họ đang mơ mộng, chẳng hạn như đang mơ mộng gặp được người mà mình yêu thầm trộm nhớ. Đó là những điều rất thầm kín mà chẳng ai muốn kể ra. Nhưng kể một giấc mơ thì dễ hơn, bởi vì ai cũng nghĩ là thật ra không phải là chúng ta muốn mơ như vậy. Làm như một cái gì đó áp đặt những hình ảnh lên chúng ta. Chúng ta không có “trách nhiệm” gì về giấc mơ đó cả. Cho nên chúng ta có thể kể nó như là một sự kiện không liên hệ gì đến chúng ta, chứ không phải là một cái gì đó thầm kín. Tuy thực ra là nó có biểu lộ ra những điều thầm kín nhưng chúng ta cứ cảm nhận giấc mơ gì là một cái gì đó không liên can đến chúng ta.”
Tùy theo nền văn hóa, chủng tộc, cảm nhận về giấc mơ cũng khác nhau. Có thể là cùng mơ thấy nước lụt, nhưng người thổ dân ở Úc hay người Esquimau dĩ nhiên là không mơ giống nhau, cũng như sẽ không có cùng cách diễn giải nội dung giấc mơ.
Theo giáo sư Tobie Nathan, cách “xử lý” giấc mơ cũng khác nhau tùy theo xã hội:
“Trong mọi xã hội đều có cách thức xử lý giấc mơ, nhưng không giống nhau, thậm chí khác biệt nhau hoàn toàn. Những gì mà tôi thấy ở châu Phi, cụ thể là ở Guinea và Burundi, hai nước mà tôi đã sống, cũng như tại những nơi mà tôi đã viếng thăm, những thầy giải mộng làm công việc giống như là kê toa thuốc. Khi mơ thấy chuyện gì, người ta đến gặp thầy giải mộng để được khuyên là nên làm gì, chứ không phải để được nghe giải thích ý nghĩa của giấc mơ đó. Theo tôi làm như thế là phù hợp hơn với bản chất của giấc mơ. Giấc mơ chính là nhằm hướng dẫn cho chúng ta trong cuộc sống.”
Đầu năm 2016, một thảm hoạ môi trường quy mô lớn xảy ra tại bốn tỉnh miền trung Việt Nam, hoá chất thải ra từ nhà máy luyện thép Formosa khiến hàng trăm tấn cá chết, cả một vùng bờ biển dài hơn 200 km bị nhiễm độc, hàng trăm nghìn cư dân mất nguồn sinh kế. Theo các nhà quan sát, chính quyền Việt Nam hết sức lúng túng trong việc khắc phục thảm hoạ. Vụ Formosa khiến nhiều người nghĩ đến một thảm họa tràn dầu quy mô lớn tại vùng Vịnh Mêhicô (Hoa Kỳ) cách nay 6 năm. Kinh nghiệm điều tra, đánh giá tác động môi trường trong vụ BP để lại những bài học nào cho Việt Nam ? Tạp chí Khoa học của RFI phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Yến (Đức).
Thảm hoạ lớn hàng đầu trong ngành dầu mỏ thế giới - đe doạ nghiêm trọng các hệ sinh thái - đã buộc công ty BP Anh Quốc phải đền bù hàng chục tỉ đô la (chú thích 1). Hai thảm hoạ môi trường BP-Vịnh Mêhicô và Formosa-miền Trung Việt Nam chắc chắn có rất nhiều khác biệt về quy mô và và tính chất, nhưng điều đáng chú ý là, ngay từ đầu, BP đã chấp nhận chi ra nhiều tỷ đô la cho việc nghiên cứu đánh giá thiệt hại môi trường và sức khỏe dân cư, đi liền với các dự án phục hồi, làm cơ sở cho việc đền bù. Bởi thảm họa môi trường trên biển tác động rất phức tạp đến các hệ sinh thái và mức độ thiệt hại sẽ không được đánh giá đúng, công việc sẽ trở nên phức tạp bội phần, nếu việc này không được làm sớm và làm đúng cách. Đây là điều mà tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Yến coi là một bài học xương máu đối với việc khắc phục thảm họa nhiễm độc biển do Formosa gây ra tại miền trung Việt Nam (phỏng vấn thực hiện ngày 19/09/2016).
Đánh giá khẩn trương, toàn diện thiệt hại
RFI : BP đã làm gì trong việc điều tra tác động của thảm họa để khắc phục. Xin chị cho biết một số điểm chính.
TS. Nguyễn Thị Hải Yến : Khi thảm họa xảy ra, ngoài việc cứu hộ ngay, BP ngay lập tức công bố hai khoản ngân sách rất lớn cho những « nghiên cứu đánh giá thiệt hại » và những « nghiên cứu sâu, lâu dài ». Dành cho ngân sách đầu tiên, BP chi tổng cộng là 8,7 tỉ, vừa cho đánh giá, vừa cho các chương trình phục hồi sinh thái.
Cụ thể về hoạt động này, ngay sau khi thảm họa xảy ra, chính quyền liên bang và các tiểu bang vùng thảm họa đã họp bàn và thành lập một Hội Đồng Ủy Thác Đánh Giá Thiệt Hại Tài Nguyên/ Natural Resource Damage Assessment Trustees Council (chú thích 2). Mục đích là để đưa ra một bức tranh đầy đủ về thiệt hại sinh thái, từ đó có kế hoạch phục hồi khả thi.
Hội Đồng Ủy Thác này phân chia thành 14 nhóm kỹ thuật, phủ hết các dạng sinh thái và các loài sinh vật quan trọng (chú thích 3). Hơn 240 dự án đã thực hiện và nhiều nghiên cứu vẫn đang tiếp tục.
Ở giai đoạn đầu, gọi là « tiền đánh giá và phục hồi sớm », người ta đã đưa ra ngay 57 dự án phục hồi sớm ở 5 tiểu bang. Và dựa vào kết quả đánh giá thiệt hại tổng thể và lâu dài (với năm tiêu chí – chú thích 4), Hội Đồng Ủy Thác gần đây đã quyết định là cần phải phục hồi ở 38 địa điểm, với 13 kiểu phục hồi sinh thái khác nhau (chú thích 5), với trọng tâm là phục hồi các hệ sinh thái ven biển. Tiền chi cho các dự án phục hồi các hệ sinh thái này chiếm phần chủ yếu : 4,1 tỉ (chiếm khoảng 50% ngân sách).
Việc khẩn trương đánh giá thiệt hại sinh thái, và giai đoạn đầu tập trung vào các vấn đề có tính nhạy cảm về thời gian, như Hội Đồng Ủy Thác thực hiện ở Vịnh Mêhicô, đã giảm thiểu việc mất dấu tích do ảnh hưởng điều kiện tự nhiên. Bài học của việc này là việc chậm trễ đánh giá thiệt hại ở thảm họa Formosa Vũng Áng sẽ rất nguy hiểm khi dấu vết chất độc trên bề mặt đáy biển đã bị sóng, dòng hải lưu xóa mờ, hoặc bị bùn cát lấp phủ trong khi đó chất độc vẫn bị chôn vùi trong bùn cát/trầm tích không quan sát được. Dẫn đến những chỗ này sẽ bị bỏ sót khi khảo sát. Và cũng sẽ bị bỏ qua trong kế hoạch khắc phục hậu quả.
Việc khẩn trương đánh giá thiệt hại, như Hoa Kỳ thực hiện, cũng giúp ngay lập tức phát hiện ra những khu vực hoặc các loài sinh vật cần phải được cứu nạn khẩn cấp và triển khai phục hồi sớm tránh tình trạng bị kéo dài phơi nhiễm dẫn đến diệt vong.
Bên cạnh chương trình nói trên, BP còn dành một ngân sách khác cho nghiên cứu, để « cài răng lược », để khiến cho thông tin khoa học xác thực hơn. Bởi vì ảnh hưởng môi trường ở biển rất phức tạp, các diễn tiến như từ dòng hải lưu phân tán, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái, rồi đến lượt các chất dầu tự hủy hoặc do sinh vật phân hủy, hoặc biến đổi khi tác động với các chất khác… Vì vậy, phải có các nghiên cứu chuyên sâu hơn, để khẳng định (hay điều chỉnh) các ước tính thiệt hại ban đầu.
Nghiên cứu độc lập, chuyên sâu
RFI : Xin chị cho biết rõ hơn về ngân sách thứ hai, tức ngân sách điều tra tác động lâu dài.
TS. Nguyễn Thị Hải Yến : Một tháng sau khi xảy ra thảm họa, ngày 24/05/2010, BP đã cam kết chi một khoản 500 triệu USD cho 10 năm công việc nghiên cứu đánh giá tác động ảnh hưởng và tái phục hồi sinh thái và môi trường. Một tổ chức có tên Sáng Kiến Nghiên Cứu Vịnh Mêhicô (Gulf of Mexico Research Initative/GoMRI) đã được thành lập. Đây là một chương trình tổ chức độc lập với BP và chính phủ Hoa Kỳ (vì BP và chính phủ Hoa Kỳ là đối tác của hợp đồng thương mại khai thác dầu ở Vịnh Mêhicô). Tiến sỹ Rita Colwell, người đã có kinh nghiệm làm lãnh đạo của Quỹ Khoa Học Quốc Gia (National Science Foundation), một tổ chức xã hội dân sự, được chọn làm giám đốc của chương trình này.
Chương trình nghiên cứu độc lập này GoMRI được đặt trong Viện nghiên cứu Vịnh và đới bờ của liên bang. Đã có 3.941 nhà nghiên cứu đến từ 286 Viện/Trường của 20 quốc gia đồng hành và đóng góp. Họ chia thành các nghiên cứu 1-2 năm, 2-4 năm, 3-5 năm, 6-8 năm… ứng với các diễn biến của thảm họa (ví dụ như đầu tiên là phải nghiên cứu các dòng chảy, hướng phát tán của dầu, sau đó là các nghiên cứu về độc tố…).
Với 500 triệu đô la, chương trình này đã có sản phẩm là 784 bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học. Ở đây cũng chia thành 5 lĩnh vực :
1) Các nghiên cứu về động lực học và khí tượng hải dương để đánh giá sự di chuyển và phát tán của dầu vào môi trường (cả trên mặt nước, trong cột nước và trầm tích).
2) Các nghiên cứu về sự biến đổi hóa học cũng như quá trình tự phân hủy sinh học của dầu và hóa chất cũng như sự tương tác của chúng lên các hệ sinh thái.
3) Các nghiên cứu về ảnh hưởng môi trường của dầu lên các hệ sinh thái ven bờ, đáy, và các tầng nước.
4) Các nghiên cứu phát triển công nghệ để nâng cấp các phương pháp ứng phó với thảm họa.
5) Các nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm họa tràn dầu lên sức khỏe động vật và con người.
Sáng Kiến Nghiên Cứu Vịnh Mêhicô có những chương trình nghiên cứu tương tự như hoạt động của Hội Đồng Ủy Thác, nhưng chuyên sâu. Hai chương trình này phụ trợ cho nhau. Bên Hội Đồng Ủy Thác là đánh giá trên diện rộng và đi thực tế nhiều, còn bên Sáng Kiến Nghiên Cứu Vùng Vịnh Mêhicô thì mang tính chuyên sâu và làm trong phòng thí nghiệm nhiều hơn. Sáng Kiến Nghiên Cứu Vùng Vịnh Mêhicô bổ sung những thiếu hụt cho chương trình đánh giá thiệt hại tài nguyên của Hội Đồng Ủy Thác. Việc các chương trình nghiên cứu sâu song hành từng bước với chương trình đánh giá thiệt hại và phục hồi tái tạo sẽ giúp tối đa hóa hiệu quả phục hồi hệ sinh thái và tài nguyên dựa trên cả khoa học và thực tế.
Tôi thấy rằng chính phủ Việt Nam và giới trí thức Việt Nam cần kêu gọi để có một chương trình nghiên cứu độc lập như thế để có thể mời được các trí thức thế giới tham gia.
Tôi thấy rất tiếc, vì ở Việt Nam có mời một số chuyên gia nước ngoài tham gia, nhưng thay vì mời họ tham gia vào đoàn của nhà nước, nên để họ làm độc lập, thì họ sẽ có thể đánh giá khách quan hơn, và cung cấp các đối chứng, như thế sẽ thuyết phục được người dân nhiều hơn.
Thông tin đầy đủ, minh bạch
RFI : Khó khăn chính trong các điều tra về tác động thảm họa ?
TS. Nguyễn Thị Hải Yến : Có một điều rất quan trọng khiến Hoa Kỳ và BP thành công là họ có được thông tin. Khi thảm họa tràn dầu xảy ra thì ngay lập tức Trung tâm ứng phó quốc gia và các đại diện địa phương/focus point của các cơ quan có chức năng liên quan biển. Họ có trách niệm thu nhập tất cả thông tin từ mọi nguồn báo về (vùng nào thấy xuất hiện dầu, vùng nào có sinh vật chết… Bất cứ thông tin nào gây nghi ngờ đều được trung tâm này tiếp nhận). Từ đó họ có được một cơ sở dữ liệu đầy đủ về thảm họa, để có thể ứng phó, ứng cứu, và tiếp theo là đánh giá thiệt hại và nghiên cứu lâu dài, và sau cùng là phục hồi.
Ở Việt Nam, không có trung tâm ứng cứu quốc gia, và mạng lưới địa phương. Chính vì thế, thảm họa xảy ra từ đầu tháng 4, mà đến cuối tháng 4 mới bắt đầu rầm rộ, truyền thông mới biết, người dân mới biết (chú thích 6).
Điều quan trọng nữa là, ở Việt Nam hầu hết tất cả những thông tin về thảm họa của người dân (thường chỉ được phản ánh qua facebook hoặc blog) (chú thích 7) đều không được chính quyền các cấp ghi nhận. Đấy là sự lãng phí vô cùng, sự thiếu thông minh của chính quyền, khi không tận dụng các thông tin, đóng góp của cả xã hội. Điều này dẫn đến tình trạng hiểu biết về thảm họa là rất thiếu hụt. Việc bỏ qua các thông tin phản ánh của người dân thì vừa không tận dụng nguồn lực rộng lớn không phải trả công từ người dân, nguồn nhân lực có thể quan sát môi trường theo từng giờ ở mọi nơi với thông tin sâu sát và đầy kinh nghiệm.
Chính vì thế, với 100 nhà khoa học tham gia đánh giá xác định nguyên nhân thảm họa, thông tin đưa ra vẫn luôn thiếu hụt so với những quan sát của người dân (Ví dụ rất nhiều thông tin của người dân trên facebook và blog cho biết, chim chết nhiều, nhiều nơ rừng ngập mặn chết. Trong khi đó chính quyền công bố chỉ có san hô bị ảnh hưởng). Vì thế càng đẩy chính quyền vào tình thế bị đánh giá là không có đủ trình độ, không minh bạch và cố tình bao che cho Formosa (xem bài : "Nhiễm độc miền Trung Việt Nam : Chưa rõ vùng biển nào hải sản an toàn").
Rất nguy hiểm là những kế hoạch khắc phục cũng sẽ thiếu hụt, không hiệu quả hoặc thậm chí là chệch hướng.
Ví dụ như việc tranh cãi, có nên hút rửa đáy biển hay không ? Người thì bảo nên, người bảo không, người bảo hút cả chiều dài 200 km dọc bờ biển. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ là người ta sử dụng các máy rò, xem chỗ nào có dầu tồn lắng nhiều, thì người ta mới tẩy rửa. Trong khi thảm họa do Formosa, chính vì thiếu hụt thông tin nên không thực hiện được phục hồi, tẩy rửa, hoặc kế hoạch phục hồi bị lệch hướng.
Điểm đáng nói là, trong vụ tràn dầu BP, ngay lập tức người ta công bố là thảm họa quốc gia, và người ta sẵn sàng đối mặt với các thực tế của thảm họa, trong khi ở Việt Nam, cá chết hàng trăm tấn, san hô chết 50%, nhưng vẫn cứ nói là « sự cố môi trường ». Chính vì đánh giá lệch lạc về tính chất thảm họa, thành ra không có chương trình nghiên cứu. Cho đến bây giờ không nghe thấy một chương trình nghiên cứu đánh giá thiệt hại hay phục hồi.
RFI : Nhìn chung vụ tràn dầu BP còn để lại thêm bài học nào khác về vai trò của Nhà nước ?
TS. Nguyễn Thị Hải Yến : Để tránh cho người dân phơi nhiễm chất độc, ngay lập tức Hoa Kỳ đã đóng cửa các bãi biển (chú thích 8). Trong khi đó, ở Việt Nam, các quan chức nhảy xuống tắm biển. Rất là ngược đời. Rất là đau khi thấy người dân tay trần đi thu gom cá chết. Ở trong cá chết, có thể có rất nhiều chất độc khác lây nhiễm qua đường da. Chính quyền đã không có thông tin, truyền thông nào để cảnh báo cho người dân, một là không tắm biển, hai là phải có các phương tiện bảo hộ (chú thích 9).
Tìm hiểu quá trình khắc phục hậu quả dầu tràn ở vịnh Mêhicô, tôi thấy chính quyền Hoa Kỳ và BP rất chú trọng đến việc phục hồi các hệ sinh thái. Theo tôi, Việt Nam cũng cần ưu tiên ngay lập tức việc nghiên cứu đánh giá thiệt hại và xây dựng các dự án phục hồi các hệ sinh thái như san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn. Đó là ba hệ sinh thái quan trọng, mà chúng tôi là những nhà khoa học về lĩnh vực này chúng tôi rất sốt ruột (chú thích 10).
RFI xin cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Yến đã dành thời gian cho tạp chí.
*** Phải minh bạch độc chất FORMOSA thải ra biển ***
Ngày 20/09/2016 - hơn 5 tháng kể từ vụ cá chết hàng loạt tại miền Trung Việt Nam - bộ Y Tế cùng bộ Tài Nguyên Môi Trường và bộ Nông Nghiệp lần đầu tiên xác nhận hải sản « ở tầng đáy » trong phạm vi 20 hải lý dọc bờ biển không « an toàn ». Tiếp theo việc công ty thép Formosa (hồi cuối tháng 6/2016) nhận lỗi xả thải độc chất tại Vũng Áng (Hà Tĩnh), thông báo nói trên một lần nữa khẳng định thực chất và quy mô của tình trạng nhiễm độc ven biển bốn tỉnh miền Trung Việt Nam đang dần dần sáng tỏ, bất chấp các nỗ lực che giấu (*).
Bài học từ thảm họa dầu tràn (Hoa Kỳ) cho thấy việc đánh giá khẩn trương, toàn diện và đầy đủ các tác động môi trường hậu thảm họa là vô cùng quan trọng, để giảm thiểu các thiệt hại với con người và môi trường. Chính quyền Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Mỹ trong việc thành lập một cơ chế nghiên cứu độc lập, nhằm thu hút rộng rãi các đóng góp quốc tế, bên cạnh các hoạt động của nhóm các nhà khoa học nhà nước. Tuy nhiên, nghiên cứu sẽ chỉ thực chất và hiệu quả khi làm sáng tỏ được các chất độc mà Formosa đã thải xuống biển.
Theo nhiều chuyên gia, nếu những thông tin này - cũng như thông tin cụ thể về quá trình di chuyển của các độc chất trong nước biển - bị chính quyền tiếp tục che đậy, thì việc điều tra về tác động của chúng đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người không thể cho ra được kết quả chính xác. Việc khắc phục do vậy sẽ muôn vàn khó khăn, nếu không nói là bất khả thi.
Trong một thảm họa như vụ Formosa, hy vọng các hệ sinh thái bị nhiễm độc nặng tự hồi phục - mà không có các nghiên cứu đánh giá tác động và dự án phục hồi - chỉ là ảo tưởng. Cho rằng sức khỏe người dân tự điều chỉnh, mà không cần các biện pháp phòng tránh, chẩn đoán, điều trị kịp thời chính là cách các lãnh đạo chính quyền thoái thác trách nhiệm, để mặc người dân trong lo sợ, đau khổ, tuyệt vọng. Tình hình càng để chậm, càng khó cứu vãn.
---
(*) Có người cho rằng vụ cá chết vừa qua có thể trong cái rủi lại có cái may đầy nghịch lý. Đó là nếu không có vụ cá chết hàng loạt, hóa chất độc hại từ (các) nhà máy cứ tiếp tục xả ra biển với liều lượng vừa đủ để hải sản nhiễm độc, nhưng không chết ngay, từ đó con người ăn phải mà mắc nhiều bệnh nan y, chết dần, chết mòn. Bên cạnh đó là tình trạng yên ổn giả tạo, khi các hệ sinh thái tầng đáy bị hủy diệt dần dần, nhưng tầng mặt vẫn tỏ ra bình yên vô sự. Đó có thể chính là tình trạng đáy biển bốn tỉnh miền Trung mà bộ Y Tế vừa công nhận ngày 20/09.
Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, những hậu quả kinh hoàng và khó lường do Trái đất bị hâm nóng vì khí thải gây hiệu ứng nhà kính, tốc độ diệt vong nhanh chóng của sinh giới, cũng như một loạt suy thoái môi trường ghê gớm khác là những thực tế khốc liệt ngày càng ít người không công nhận. Trái đất dường như sắp quá tải. Nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đặt câu hỏi : Đâu là tương lai của nền văn minh công nghiệp, mô hình kinh tế trụ cột của nhân loại từ hơn hai thế kỷ nay ?
Về chủ đề này, chương trình tạp chí « C’est pas du vent » của RFI giới thiệu cuốn sách mới « Comment tout peut s’effondrer ? » (Mọi thứ có thể sụp đổ như thế nào ?) của hai nhà khoa học Pháp : Kỹ sư nông học Pablo Servigne, chuyên gia về nông nghiệp sinh thái và chuyển đổi hệ thống và nhà tư vấn kinh tế - sinh thái Raphael Stevens.
Cuốn « Comment tout peut s’effondrer ? », dày 206 trang, được viết với một văn phong kể chuyện hóm hỉnh, đầy hình ảnh, nhẹ nhõm và khá dễ hiểu, với các đúc kết được chắt lọc từ rất nhiều nghiên cứu cơ bản về lĩnh vực hệ trọng này, có thể trở thành cuốn sách gối đầu giường đối với nhiều bạn đọc Pháp ngữ. Ngay cả khi không đồng quan điểm với các tác giả, đọc sách này ắt hẳn cũng mang lại nhiều điều bổ ích.
Cỗ xe sắp hết xăng, rời chính lộ
Để nói về nguy cơ tan vỡ của nền văn minh công nghiệp, các tác giả đưa ra hình ảnh « chiếc xe hơi ». Vào đầu kỷ nguyên công nghiệp, chỉ một số ít quốc gia tham gia chuyến đi. Sau một giai đoạn khởi động từ từ, kể từ sau Thế chiến Hai, xe tăng tốc. Hiện nay, tốc độ xe đã lên đến cực điểm. Cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã có mặt trên xe. Sau một vài dấu hiệu động cơ gằn lại và tỏa khói, cây kim chỉ vận tốc run lên bần bật. Liệu xe tiếp tục bò lên ? Xe khựng lại ? Hay lao dốc ? (chương 1).
Theo các tác giả cuốn « Mọi thứ có thể sụp đổ như thế nào ? », chiếc xe chở nhân loại chúng ta đã rời khỏi trục đường chính, đang lao xuống thung lũng trên một lộ trình bất định, với đầy chướng ngại vật và tầm nhìn gần như bằng không. Một số hành khách trên chuyến xe hiểu rằng chiếc xe rất mong manh, nhưng người lái thì không nhận ra, và vẫn tiếp tục nhấn mạnh chân ga.
Theo hai nhà khoa học, một loạt các chỉ báo cho thấy khả năng tăng trưởng, được coi là « vô hạn » của nền kinh tế thế giới xét về mặt toán học, nay đều có thể nói đã « kịch trần » : về dân số, về GDP, về tiêu thụ các tài nguyên (nước, năng lượng…), sử dụng phân bón, khí thải gây hiệu ứng nhà kính…
Chiếc xe hơi chở các quốc gia công nghiệp đứng trước hai thách thức. Thứ nhất là động cơ của « chiếc xe hơi », tuy vẫn còn sung sức, nhưng lâm vào tình trạng « nhiên liệu » sắp cạn kiệt. Thứ hai là, tốc độ quá nhanh của xe khiến khả năng quan sát giảm mạnh và nguy cơ tai nạn gia tăng (chương 2).
Sau nhiều thế kỷ phát triển, chiếc xe hơi ngày càng hoàn thiện hơn, rộng rãi hơn, tiện nghi hơn, hiện đại hơn. Nhưng cái giá để trả cho « những thành tựu » này là quá lớn : Xe (dường như) đã bị cố định vào một hướng, chân ga bị cột lại, chỉ có thể tăng, chứ không thể giảm tốc. Việc điều chỉnh để thích nghi, tránh thảm họa, dường như là bất khả.
Trong phần một « Các dấu hiệu của sự sụp đổ », các tác giả nhấn mạnh một loạt yếu tố cho thấy nền kinh tế dựa trên năng lượng giá rẻ đang lùi vào quá khứ (1), trong khi hiệu suất của các năng lượng tái tạo mới được coi là không đủ. Mà một nền năng lượng giá rẻ chính là nền tảng của tăng trưởng. Bên cạnh đó, hệ thống tài chính, tín dụng – liên hệ mật thiết với hệ thống khai thác năng lượng hóa thạch – cũng đang trong tình trạng hụt hơi.
Cần một môn khoa học về sự sụp đổ
Trái đất nóng lên, phá hết kỷ lục này đến kỷ lục khác, các thiên tai diễn ra dồn dập, khó dự đoán hơn. Theo một nghiên cứu, được công bố trên tạp chí khoa học Nature năm 2009, được cập nhật năm 2015, có 9 ranh giới tuyệt đối cần thiết cho sự sống của con người trên hành tinh không thể bị xâm phạm. Mà, theo các tác giả cuốn sách về viễn cảnh sụp đổ, chỉ riêng việc xâm phạm các ngưỡng về Khí hậu và Đa dạng sinh thái đã đủ để đưa loài người vào thảm họa khôn lường (chương 3).
Tuy nhiên, theo các tác giả, mức độ « khủng hoảng » kinh tế-tài chính và khí hậu-sinh thái hết sức trầm trọng hiện nay đã không được giới cầm quyền chính trị và kinh tế nhận thức đúng mức. Viễn cảnh sụp đổ của toàn bộ nền văn minh công nghiệp và thậm chí của toàn bộ Hệ sinh thái – Hành tinh là điều còn ít người chấp nhận đối diện.
Ông Raphel Stevens tâm sự : « Chúng ta thiếu một môn khoa học về sự sụp đổ của ‘‘nền văn minh’’ của chúng ta, nền văn minh đương đại. Chúng tôi muốn xây dựng một môn khoa học liên ngành, tự trang bị cho mình những hiểu biết của nhiều bộ môn khoa học, để phân tích về những gì xảy ra với xã hội chúng ta ngày hôm nay. (…) Chúng tôi không lạc quan, cũng không bi quan, chúng tôi cũng không sáng tạo ra gì mới, mà chỉ tổng hợp lại các nghiên cứu khoa học từ ba, bốn, năm năm trở lại đây, khoảng 3.000 bài báo và 300 cuốn sách.
Có một khoảng cách rất lớn giữa các sản phẩm của giới khoa học và hiểu biết của công chúng bình thường, chúng tôi muốn lấp đầy khoảng trống này. Nỗ lực của chúng tôi là cập nhật các hiểu biết trong lĩnh vực sinh thái học ».
Mô hình dự báo-dấu hiệu dự báo-trực cảm
Ông Raphel Stevens giới thiệu một công cụ quan trọng của môn khoa học về sự sụp đổ : « Đó là các mô hình ‘‘Meadow’’ (2), mô hình ‘‘Handy’’. Các mô hình không trực tiếp dự báo tương lai, mà là công cụ để hình dung khả năng chuyển hóa của hệ thống… Chúng ta có hai mô hình tuyệt vời. Theo mô hình Handy (Human And Nature DYnamical), sự bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng về kinh tế, là các nhân tố dẫn đến sụp đổ. Xã hội càng bất bình đẳng, sẽ càng sớm sụp đổ, và điều này là chắc chắn. Mà trong xã hội chúng ta hiện nay, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, và điều này rất nguy hiểm. Điều này khiến xã hội chúng ta trở nên rất mong manh.
(…) Mô hình Meadow, ra đời vào năm 1972, là một mô hình rất vững chắc. Sau hơn 40 năm tồn tại, mô hình này vẫn chưa bị bác bỏ. Dựa trên việc phân tích các cuộc khủng hoảng trước đây, mô hình Meadow dự báo nền văn minh công nghiệp (nhiệt năng) của chúng ta sẽ sụp đổ trong nửa đầu thế kỷ XXI. Căn cứ vào các biểu đồ trong cuốn sách này, có thể thấy chúng ta đang đứng bên bờ vực của tiến trình.
Sau khi phỏng vấn Dennis Meadow, đồng tác giả mô hình này, vào năm 2011, tôi đã rơi vào trạng thái trầm cảm trong suốt hai tháng. Đó là điểm khởi đầu cho quyết định đi vào nghiên cứu này của chúng tôi ».
Về các công cụ của môn khoa học mới, Raphel Stevens đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của trực giác :
« Đối diện với những biến cố hoàn toàn không thể dự báo, ông Nassim Nicholas Taleb triết gia/cựu giao dịch tài chính (trader) gọi đó là ‘‘những con thiên nga đen’’ (cygnes noirs) hay các biến cố hiếm khi xảy ra. Đây là những gì chúng ta không thể nhìn thấy được, nhưng chúng để lại những dấu ấn trong lịch sử. Về chuyện này, khoa học về xác suất, thống kê bất lực. Vì vậy, chúng ta cần đến trực giác. Chúng tôi tự nhủ : Chúng ta hãy tin tưởng vào trực giác của mình !
Về hiện tại, theo trực giác của chúng tôi, nền văn minh của chúng ta sẽ sụp đổ trong khoảng từ năm 2020 đến 2030. Sau khi đọc tất cả những nghiên cứu nói trên, chúng tôi hoàn toàn không còn nghĩ rằng thời hạn của sự sụp đổ sẽ bắt đầu vào 2050 hay 2100. Tuy nhiên, không có chứng cứ nào để xác nhận điều này.
Một công cụ khác của ngành dự báo là các dấu hiệu cảnh báo. Các chuyên gia về những hệ thống phức tạp biết rằng, trước khi một hệ thống sụp đổ, ngay trước khi đó, có những tiếng ồn rất đặc hiệu, của sự sụp đổ sẽ xảy ra. Các nhà khoa học tìm cách xác định những tiếng động ấy, để dự báo. Cách làm này rất hiệu quả đối với các hệ sinh thái, nhưng đối với lĩnh vực tài chính thì chưa được hoàn bị. (…) Năm 2012, 24 nhà khoa học công bố trên tạp chí Nature một nghiên cứu về các dấu hiệu báo trước về sự sụp đổ của hệ sinh thái trên Trái đất ».
Sự mù quáng của giới tinh hoa : Một nhân tố chính dẫn đến sụp đổ
Trong lịch sự của loài người, đã có nhiều nền văn minh suy tàn hay sụp đổ hoàn toàn, nhưng cũng có một số tái khởi động được trở lại. Chuyên gia về mối quan hệ giữa các xã hội con người và môi trường tự nhiên Mỹ Jared Diamond, tác giả cuốn sách nổi tiếng « Sự sụp đổ » (Collapse: How Societies Choose to Fail or Survive), cố gắng rút ra các bài học về sự sụp đổ từ các nền văn minh cổ đại (chương 9).
Theo ông, cho dù môi trường sinh thái thường là nhân tố quan trọng, đặc biệt trong sự lụi tàn của nhiều nền văn minh, như của người Maya châu Mỹ (thế kỷ IX), người Viking châu Âu (thế kỷ XI), nhân tố chung luôn có mặt trong mọi trường hợp sụp đổ, đó là bình diện « xã hội chính trị ». Jared Diamond nhấn mạnh đến sự mù quáng của giới tinh hoa, như là một nhân tố chính dẫn đến sụp đổ. Các xã hội đã đưa ra những quyết định sai lầm trong bối cảnh khủng hoảng, do thiếu khả năng dự đoán.
Về lý do vì sao con người khó nhận ra, khó thừa nhận các thảm họa, cho dù không thiếu thông tin các tác giả đặc biệt chú ý đến những lý giải của nhà triết học Clive Hamilton (3) (chương 10). Trong đó một thực tế phổ biến, đó là ý thức của con người - kết quả của quá trình tiến hóa tự nhiên - vốn không được trang bị để nhận thức “các nguy hiểm mang tính hệ thống và dài hạn”, mà thiên về “đối phó với các đe dọa trực tiếp”. Người ta thường nêu ví dụ về con ếch chịu chết bỏng trong nồi nước mà không nhảy ra để minh họa cho hiện tượng này. (Chưa kể đến các tuyên truyền bóp méo sự thực, mà nhiều chuyên gia, nhà khoa học cũng là những người góp phần [4]).
Dự báo sụp đổ không đồng nghĩa với bi quan, tạp chí xin khép lại với một chia sẻ nhiều hy vọng của ông Pablo Servigne, chuyên gia về tính chất dẻo dai của các hệ thống xã hội – sinh thái :
« Chúng ta có những người nhận thức được vấn đề này, có những người không. Trong số những người hiểu ra, có người có được niềm tin, có người không tin.
Những người hiểu ra và có niềm tin, số này không nhiều, nhưng tôi tin rằng họ chuyển sang hành động. Chúng ta gọi họ là những người ‘‘transitionneur’’, những người tham gia vào quá trình chuyển hóa (hệ thống). Đó là những người ý thức được rằng một hệ thống như chúng ta biết đang sụp đổ, và một hệ thống mới đang nẩy sinh (5).
Điều rất quan trọng là cùng lúc nhận ra : Cái chết (của hệ thống cũ) và sự sinh thành (của cái mới) đang song hành diễn ra. Ngay từ đầu, cho dù không ý thức được hoàn toàn, khi nói đến sự sụp đổ, chúng tôi đã gợi ra cái thế giới đang sinh thành này.
Đây là một cơ hội để nhận ra những rào khóa ngăn cản chúng ta đi đến được một thế giới tốt đẹp hơn. Vì thế, sự sụp đổ có thể coi như một cơ hội, như một sự cởi trói rộng khắp. Để mô tả điều này, tôi sử dụng hình cái cây cổ thụ trong rừng. Cây sồi khổng lồ - xã hội công nghiệp của chúng ta – sụp đổ, chính nhờ sự sụp đổ đó, mà những mầm cây bên dưới có thể vươn lên tìm đến ánh sáng ».
Hàng triệu mầm non đang trỗi dậy
Nhà sinh thái học Pháp nhấn mạnh : « Chỉ cần mang lấy cặp kính với cái nhìn dự báo về sụp đổ, có thể thấy khắp nơi trên thế giới hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu những mầm non đang trỗi dậy, từ các sáng kiến nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp cộng sinh với thiên nhiên, đến nền kinh tế - đoàn kết, các đồng tiền địa phương… Chỉ cần xem bộ phim tài liệu ‘‘Demain/Ngày mai’’ (6), cùng với cuốn sách giới thiệu về phim, đã nhận được sự hưởng ứng như thế nào của công chúng, có thể thấy rất nhiều mầm non, đầy sáng tạo, đầy nhiệt huyết. Thực sự là một phong trào toàn cầu, thực sự mang lại niềm phấn khích.
Tuy nhiên, chúng tôi muốn nhấn mạnh là, điều đó không có nghĩa là phong trào đã thành công.
Điều cơ bản, được thể hiện rất rõ trong cuốn sách là, cho dù có những mầm non như vậy, sự sụp đổ là chắc chắn.
Những mầm non như vậy không phải là các giải pháp. Đó là những con đường cần phải theo, để có thể chống chèo nhằm vượt qua quá trình sụp đổ. Sự sụp đổ là không thể tránh khỏi. Chính bởi vì chấp nhận thực tại sụp đổ, mà chúng ta đến được với những mầm non ấy, nâng niu chúng, tài trợ cho chúng, nhân rộng chúng ra (7). Để đi về phía trước ».
***
Được ấn hành năm 2015, không lâu trước Thượng đỉnh COP 21 về khí hậu tại Paris, cuốn “Mọi thứ có thể sụp đổ như thế nào?” đã vang lên như một lời báo động vô cùng khẩn thiết.
Toàn thể các quốc gia trên hành tinh rốt cục đã tìm được một đồng thuận tối thiểu về nguyên tắc, để cùng nhau hướng đến một thế giới nhiệt độ không tăng quá 2°C, thậm chí dưới 1,5°C. Nhưng vấn đề là : Liệu các cam kết về nguyên tắc nói trên trong lĩnh vực này, cũng như các lĩnh vực cơ bản khác, có chuyển được thành hành động đủ nhanh và đủ mạnh, để kịp thời giảm thiểu những hậu quả tàn khốc do phát triển mù quáng bất chấp môi trường – sinh thái, trước khi những thay đổi đạt đến cái ngưỡng không thể vãn hồi ?
____
(1) Nếu như, vào đầu thế kỷ XX, khai thác dầu mỏ mang lại siêu lợi nhuận (trung bình bỏ một lãi 100), thì hiện nay hiệu suất đầu tư năng lượng giảm xuống chỉ còn 1 : 10 đến 1 : 20 đối với dầu mỏ quy ước, và 1 : 2 và 1 : 4 đối với dầu cát, hay 1 : 5 đối với dầu đá phiến. Ngoại trừ thủy điện (đã phát triển gần tới ngưỡng, và không kể đến các tác hại ghê gớm về môi trường), nhiều loại hình được coi là tái tạo khác cũng phải cần rất nhiều sự hỗ trợ của chính các loại năng lượng hóa thạch và hiệu suất cũng không cao. Từ 1 : 2,5 đối với năng lượng mặt trời, đến 1 : 18 với năng lượng gió (với những tính chất bất lợi của loại hình năng lượng này, như không ổn định và khó tích trữ) (trang 35).
(2) Mô hình Meadow trong “Báo cáo của câu lạc bộ Roma” (được công bố năm 1972), dự đoán nền văn minh công nghiệp sẽ sụp đổ vào khoảng từ 2015 đến 2025. Báo cáo Roma đưa ra nhiều khuyến cáo để ngăn ngừa viễn cảnh này. Theo mô hình Meadow, được cập nhật năm 2004, còn một chút cơ may cho khả năng thoát khỏi sụp đổ, với ba điều kiện :
a - Dân số tối đa là 7,5 tỷ năm 2040 (giảm 0,5 tỷ so với dự kiến) ; b - ổn định phát triển công nghiệp ở mức chỉ tăng 10% so với năm 2000, và phân phối công bằng các thành tựu phát triển ; c – giảm mức độ suy thoái của đất đai, cùng lúc với tăng hiệu suất nông nghiệp.
(3) Trong cuốn « Requiem for a Species: Why We Resist the Truth about Climate Change/Chuông nguyện hồn chúng sinh : Vì sao chúng ta chối bỏ sự thật về biến đổi khí hậu ».
(4) Chiến lược xóa tan những nghi ngờ về tính độc hại đã các ngành công nghiệp thuốc lá, a-mi-ăng, thuốc trừ sâu…. áp dụng thành công trong suốt nhiều thập kỷ. Trước COP 21 tại Paris, rất nhiều thượng đỉnh về khí hậu đã rơi vào thất bại một phần cũng do các tuyên truyền reo rắc hoài nghi, được nhiều nhà khoa học tiếp tay.
(5) Đối lập với những « Transitionneur » là những người « Survivaliste/Prepper », chủ trương thân ai nấy lo. Bộ phim Úc nổi tiếng Mad Max, của đạo diễn George Miller, mô tả cuộc chiến tàn khốc của ngày tận thế với cuộc đại khủng hoảng dầu mỏ.
(6) Bộ phim Demain, với tiểu tựa ‘‘Un nouveau monde en marche/Một thế giới mới đang ra đời’’, được phát hành tại 27 quốc gia. Riêng tại Pháp, phim thu hút hơn 1 triệu khán giả, một hiện tượng hiếm có với phim tài liệu.
(7) Các tác giả cuốn sách đặc biệt chú ý đến đóng góp của Phong trào đô thị chuyển hóa - Transition towns, khởi sự từ thị trấn Totnes nước Anh năm 2006, với nhà nông học Rob Hopskin, nay đã lan tỏa ra hàng chục quốc gia.
Các nhạc phẩm giới thiệu trong tạp chí
* Khúc dạo đầu vở nhạc kịch rock « Le monde est stone/Một thế giới chai cứng ». Soạn nhạc : Michel Berger (1978)
* Ca khúc « Objectif Terre » (Hành tinh khóc) của Ridan (2007)
* Ca khúc «Merci ma planète/Xin cảm ơn Trái Đất » của Dominique Dimey (2008)
Các đêm từ ngày 6 đến ngày 8/8/2016 vừa qua, tại hàng trăm địa điểm trên khắp nước Pháp, đã diễn ra một hoạt động đặc biệt. Ngắm nhìn bầu trời sao với sự hỗ trợ của các phương tiện thiên văn, cùng các chuyên gia, nhà giáo dục. Đây là năm thứ 26 của « đêm các vì sao » (Nuit des étoiles) tại Pháp. « Đêm các vì sao » năm nay tôn vinh nhà thiên văn học Andre Brahic, một chuyên gia về Hệ Mặt trời nổi tiếng thế giới. Ông cũng là người truyền bá không mệt mỏi tình yêu thiên văn, khao khát khám phá các chân trời xa xôi.
Andre Brahic sinh năm 1942 tại Paris, trong một gia đình khiêm tốn. Được sớm nhập môn vào ngành vật lý thiên văn bởi chính Evry Schatzman, cha đẻ môn khoa học này tại Pháp, Andre Brahic sau đó đã có cơ hội được tham gia vào cuộc thám hiểm Hệ Mặt trời, thông qua phi thuyền Voyager trong những năm 1980. Cùng với nhà thiên văn Mỹ William Hubbard, Andre Brahic đã phát hiện ra vành đai của Hải Vương Tinh, hành tinh xa xôi nhất trong Hệ mặt trời, gấp 30 lần khoảng cách giữa Mặt trời và Trái đất.
Andre Brahic là một trong số không nhiều chuyên gia lớn đặc biệt quan tâm đến việc phổ biến các hiểu biết chuyên môn cho công chúng rộng rãi. Ông là tác giả năm cuốn sách phổ biến khoa học, trong đó có cuốn « Những đứa con của Mặt trời » (1999) và « Những trái đất xa xăm. Phải chăng chúng ta chỉ có một mình trong vũ trụ ? » (2015).
Nhà vật lý thiên văn Andre Brahic vừa qua đời hôm 15/05/2016. Vào thời điểm đó, trả lời đài Europe 1, kỹ sư Jean-François Clervoy, nhà du hành vũ trụ làm việc cho Cơ quan Không gian Châu Âu (ESA) đã thốt lên : « Tôi coi ông như một vị anh hùng của thế giới các vì sao. Đó là một con người kỳ lạ, xuất chúng, một nhà kể chuyện hấp dẫn, người mang lại cho tất cả những ai từng nghe ông, khao khát trở thành nhà vật lý thiên văn. Tôi không thể nào tin được ông ấy đã ra đi ».
Ngay sau khi Andre Brahic qua đời, chương trình « Autour de la question » của RFI đã thực hiện một tạp chí truyền thanh, giới thiệu lại với thính giả một số trích đoạn phỏng vấn mà nhà thiên văn đã dành cho đài trước đây. Trước hết, mời quý vị nghe lại tiếng nói của Andre Brahic về một kỷ niệm vô cùng đặc biệt trong cuộc đời ông.
Vẻ đẹp và ý nghĩa của vũ trụ
« Tôi có một kinh nghiệm tuyệt vời. Đó là vào năm 2006, khi tôi đi tìm hiểu về nhật thực ở giữa sa mạc Teneray, nằm ở phía bắc nước Niger. Đây là một nơi hoàn toàn không có ánh sáng (vào ban đêm). Tôi vốn có thói quen qua đêm tại một khách sạn thường là có « nhiều sao », tôi là nhà thiên văn mà. Nhưng lần này, tôi đã trải qua một đêm dưới vòm trời sao. Đêm đó là một đêm vô cùng xúc động trong cuộc đời tôi.
Tôi muốn truyền lại cho mọi người một lời khuyên như sau. Hãy tới một nơi hoàn toàn không có ánh sáng, cách xa các nguồn sáng gần nhất vài chục cây số. Bởi vì một ngọn nến nhỏ cách xa vài cây số là đã sáng hơn những gì trên trời. Cần làm sao để mắt bạn quen với màn đêm đen như mực.
Vào một đêm không trăng như thế, ta sẽ không còn thấy mặt đất. Ta sẽ chỉ thấy bầu trời. Hay nói một cách khác, ta bập bồng trong không gian. Chính vào lúc đó mà tôi thấu hiểu cái xúc cảm dấy lên trong lòng tổ tiên chúng ta cách nay hai, ba nghìn năm.
Họ đã tự hỏi : Ta là ai ? Từ đâu ta đến ? Chúng ta đi về đâu ? Liệu có những người ngoài Trái đất không ?...
Những câu hỏi sâu xa mà mỗi cộng đồng người, từ Polynésie, Eskimo, từ châu Phi, đến châu Á, đều đưa ra câu trả lời riêng của mình.
Biết bao chuyện kể, huyền thoại, triết học, đã ra đời, khi con người ngước nhìn lên bầu trời trong đêm tối, không bị ánh sáng làm ô nhiễm.
Một đêm như vậy chắc chắn sẽ làm thay đổi cuộc đời bạn.
Hai phản ứng chắc chắn sẽ đến : Vẻ đẹp của vũ trụ khiến ta sững sờ và rất nhiều câu hỏi kích thích trí tò mò của ta.
Và đối với những ai đi xa hơn, đó là những vấn đề lớn. Mà chúng ta biết rằng các vấn đề lớn đó chính là cuộc chiến chống lại sự ngu tối, mà hiện nay đang có xu hướng xâm chiếm thế giới chúng ta. Chính trong cuộc chiến đó mà tri thức ra đời. Điều đó còn xa hơn cả vẻ đẹp của bầu trời.
Nhưng hãy nhìn lên bầu trời mà xem. Nó thật tuyệt vời. Khi có trăng, bạn hãy cầm lấy ống kính. Nhìn vào khoảng ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối, bạn sẽ có cảm giác như đang bay lượn trên Mặt trăng. Đấy cũng là một cảnh tượng thật tuyệt vời nữa ».
Mỗi hành tinh có một đời sống riêng
Nhà thiên văn Andre Brahic cho biết, khi ông còn là học sinh, ở trường học, người ta dạy rằng các hành tinh trong Hệ Mặt trời cũng khá giống với Trái đất. Ông đã từng chờ đợi các hành tinh xa xôi khác cũng có những vệ tinh tương tự như Mặt trăng của Trái đất. Nhưng sau đó, ông dần dần hiểu ra một điều khác hẳn. Đó là mỗi hành tinh có một « đời sống » hoàn toàn khác biệt. Khát khao tìm hiểu về « đời sống » của mỗi hành tinh đã thúc đẩy Andre Brahic suốt cuộc đời.
Là người đồng phát hiện ra vành đai của hành tinh khổng lồ Hải Vương, hành tinh thứ 8 và là hành tinh xa nhất của Hệ Mặt trời, Andre Brahic giải thích một cách tóm tắt với thính giả về cơ chế nào đã tạo nên vành đai rất đặc biệt này.
« Có một hiệu ứng giống như thủy triều lên. Có nghĩa là, nếu như bạn đặt một vệ tinh vào một quỹ đạo xung quanh Hải Vương. Vào một thời điểm nhất định, điểm gần nhất và điểm xa nhất của vật thể này sẽ bị kéo giãn ra. Giãn đến mức, nó bị vỡ thành nhiều mảnh. Hay nói một cách khác, ở vào một khoảng cách gần hành tinh, sẽ không có vệ tinh nào tồn tại nổi. Ví dụ như, nếu xích gần Mặt trăng, ở khoảng cách 384.000 km lại gần Trái đất ở khoảng cách 180.000 km, thì Mặt trăng sẽ vỡ tan.
Các mảnh vỡ rải rác khắp trong không gian, khi chuyển động sẽ va chạm vào nhau. Khi va đập, chúng sẽ mất năng lượng, và vì vậy chúng bị hút vào vùng tâm của hành tinh. Nhưng vì chúng va đập vào nhau theo chiều song song với quỹ đạo hành tinh, nên rốt cục các mảnh vỡ bị dàn mỏng lại thành các vành đai, hơn là co cụm lại ».
Bốn lợi ích của nghiên cứu vũ trụ
Nghiên cứu vũ trụ là một nỗ lực đòi hỏi rất nhiều đầu tư, hết sức tốn kém. Vậy tại sao nhiều xã hội lại chọn con đường hết sức phiêu lưu này ?
« Nghiên cứu vũ trụ có ba ích lợi. Thứ nhất về mặt văn hóa. Ta sẽ trở nên thông minh hơn, với những hiểu biết về nhiều điều hết sức thú vị. Thứ hai là hiểu biết về vũ trụ giúp giải quyết cả vấn đề thất nghiệp. Bởi vì các động cơ du hành vũ trụ đòi hỏi độ tin cậy rất cao. Không có bất cứ sai sót nào được phép. Bởi nếu một trục trặc nhỏ như một miếng hàn long ra, thì sẽ không thể có một xưởng sửa chữa nào trên vũ trụ để giúp giải quyết.
Ý nghĩa thứ ba là hiểu biết về vũ trụ cho phép hiểu hơn về Trái đất. Những hiện tượng tự nhiên dữ dội trên Trái đất như núi lửa, động đất, bão tố, ô nhiễm… không dễ dự đoán trước chúng sẽ diễn ra lúc nào, biến đổi như thế nào.
Nghiên cứu Trái đất, giống như đối với vật thể khác mà các nhà vật lý – các nhà hóa học nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Trái đất phải được cắt ra làm hai, làm ba. Phải nhào nặn nó, để xem các phản ứng của nó.
May mắn thay đối với chúng ta, là Trái đất không bị đưa vào các thí nghiệm như vậy !
Mà thật ra điều này không cần thiết. Bởi vì chúng ta có thể nghiên cứu Diêm Vương Tinh, Hải Vương Tinh và các hành tinh khác. Chúng ta quan sát thấy các vật thể kích cỡ to nhỏ khác nhau, đặc lỏng khác nhau. Từ đó, chúng ta có thể hiểu được vai trò của từng nhân tố một, từ khối lượng, cho đến nhiệt độ, độ đặc, thành phần hóa học… Từ đó mà ta hiểu rõ hơn về Trái đất.
Tôi có tóm tắt điều này lại bằng một điều như sau. Khi mà trong cuộc sống chúng ta gặp phải một vấn đề, thì không phải bằng cách chúi đầu vào góc đó mà chúng ta có thể giải quyết được. Mà ta cần phải có một độ lùi.
Mà lấy một độ lùi chính là nghiên cứu thiên văn học (Đây có thể nói là lợi ích thứ tư của thiên văn học - người viết bổ sung) ».
Ba giai đoạn của thiên văn học
Nhà thiên văn học là người có tư duy rất gần với triết học. Để nghiên cứu về thế giới của những bầu trời sao xa xôi con người không thể không đặt ra những vấn đề tối hậu. Nhưng khác với các thế hệ tiền bối, các xã hội hiện nay đã và đang có trong tay những phương tiện kỹ thuật tối tân. Andre Brahic điểm lại toàn bộ sự phát triển của thiên văn học qua ba giai đoạn :
« Lịch sử thiên văn học có thể chia thành ba giai đoạn chính. Người Hy Lạp thời cổ đã phát hiện ra tư duy nhân quả, nhưng họ đã bỏ qua việc quan sát. Đó là điều đáng tiếc.
Thời Trung cổ, vấn đề quan sát đã được đặt trở lại. Sự phục hưng của khoa thiên văn học diễn ra từ 1540 đến khoảng 1670, với các nhà thiên văn tiêu biểu như Copernic, Galilê, Kepler, Newton. Các nhà thiên văn giai đoạn này đã sáng tạo ra phương pháp khoa học. Cụ thể là vừa quan sát, vừa tìm cách giải thích. Bởi vì giải thích mà không quan sát thì dẫn đến chuyện nguy hiểm là giải thích bừa bãi. Ngược lại, nếu chỉ quan sát thôi, thì không mang lại lợi ích gì. Phương pháp khoa học này khiến châu Âu có tiến hơn một chút so với Trung Quốc, Ấn Độ hay thế giới Ả Rập.
Giai đoạn thứ ba của ngành thiên văn học là giai đoạn hiện nay, khi con người bay vào không gian. Chúng ta đã phát hiện ra nhiều điều. Một kỷ nguyên mới đang mở ra ».
Cơ hội tìm ra nguồn gốc sự sống
Dù nghiên cứu về khía cạnh nào, về chân trời nào của vũ trụ, thì câu hỏi về nguồn gốc của sự sống trên quê hương Trái đất vẫn là điều ám ảnh thường xuyên nhà thiên văn.
« Có ba điều kiện để sự sống có thể ra đời. Thứ nhất là nước, thứ hai là có hóa chất hữu cơ, tức vật chất phức tạp, và thứ ba là năng lượng. Chúng ta thấy, các điều kiện đã có dưới bề mặt của một số vệ tinh của Diêm Vương Tinh như Europa, Ganymede và Callisto, của Hải Vương như Triton, của Thổ Tinh như Titan. Các yếu tố của sự sống có mặt ở khắp nơi.
Điều đó có nghĩa là chúng ta đã có thể tìm ở đó những thông tin giúp cho việc trả lời cho câu hỏi : Làm thế nào mà thế giới sỏi đá vô tri có thể biến thành sự sống, thành thế giới sinh vật, trước khi có loài người ?
… Chúng ta thật là may mắn được sống trong kỷ nguyên hiện tại. Điều này không thể có cách nay 2000 năm. Trong các sách sử của 3.000 năm sau nữa, người ta sẽ ghi nhận là những phát hiện quyết định đã diễn ra trong hai thế kỷ 20 và 21. Những người thời ấy thật may mắn làm sao !
Thật là đáng tiếc khi báo chí đương thời chúng ta lại hết sức ủ rũ, trong khi tình hình thực ra lại rất tốt ?! ».
Đầu tư cho thiên văn - đầu tư cho tiến bộ
Khát vọng hướng đến bầu trời cao, Andre Brahic cũng hiểu rằng những nghiên cứu về sao trời không tách khỏi cuộc chiến vì tiến bộ, văn minh trên chính hành tinh của chúng ta. Năm 1989, ông đã chọn ba cái tên « Tự do », « Bình đẳng », « Bác ái » để đặt tên cho ba vòng sáng của vành đai hành tinh Hải Vương mà ông phát hiện. Đối với Andre Brahic, năm 1989 vô cùng đáng nhớ cũng bởi hai sự kiện đặc biệt : Bức tường Berlin sụp đổ và vụ thảm sát các sinh viên đòi Dân chủ trên Quảng trường Thiên An Môn Bắc Kinh.
Andre Brahic rất bất bình vì các quốc gia trên hành tinh chạy đua vũ trang, và làm nhiều thứ vô ích, nguy hiểm khác, trong khi đó số tiền đáng được dùng cho việc phát triển nghiên cứu khoa học, trong đó có thiên văn, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả hơn nhiều.
Suốt đời mình, Andre Brahic vun trồng hai phẩm chất mà ông cho là quan trọng nhất đối với một nhà khoa học. Đó là sự hoài nghi và tính khiêm nhường.
Andre Brahic ước ao đó cũng là các phẩm chất đáng mong muốn của những nhà chính trị. Chính là nhờ những sai lầm không tránh khỏi và sự dũng cảm nhìn nhận chúng, mà khoa học tiến lên.
Tên của Andre Brahic được đặt cho thiên thạch số 3488 nằm ở vành đai của Hệ Mặt trời vào năm 1990. Nhiều người yêu thiên văn khi ngước nhìn lên trời, tin rằng Andre Brahic đã trở về với thế giới các vì sao.
From the publisher's feed
Thành tựu và thách thức trong lĩnh vực môi trường, khoa học kỹ thuật, y tế

42 Listeners

2 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners