Tạp chí Khoa Học Môi Trường

Tạp chí Khoa Học Môi Trường

By RFI Tiếng Việt
Download on the App Store

Tạp chí Khoa Học Môi Trường episodes

  • Chứng tự kỷ ở Việt Nam : Hiểu đúng mới giúp được trẻ

    Những năm trở lại đây, tại các nước trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, người ta ngày càng nói nhiều về hội chứng tự kỷ (autisme) ở trẻ nhỏ. Trong khi thế giới đã công nhận chứng tự kỷ là một khuyết tật về sự phát triển, ảnh hưởng đến suốt cuộc đời người mắc, với nhiều mức độ khác nhau, ở Việt Nam, khái niệm tự kỷ còn tương đối mới. Theo nhiều người trong cuộc, gia đình các bệnh nhân rất cần được hỗ trợ, và điều quan trọng hàng đầu là được giúp để nhận thức đúng về bệnh.

    Trong diễn văn khai mạc hội thảo « Lộ trình thành lập Mạng lưới người tự kỷ Việt Nam », do Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội Việt Nam (MoLISA), phối hợp với Trung Tâm Phát Triển Người Khuyết Tật Châu Á – Thái Bình Dương (APCD) tổ chức trong hai ngày 29 và 30/08/2013, ông Nguyễn Trọng Đàm, thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam đã nhận định rằng hiện nay, số trẻ em tự kỷ tại Viêt Nam đang tăng khá nhanh và có rất nhiều trường hợp trẻ bị tự kỷ trong một thời gian dài, nhưng không được phát hiện và can thiệp sớm.

    Thực tế cũng cho thấy các cán bộ y tế, giáo dục hoặc cha mẹ trẻ cũng thiếu những kiến thức đầy đủ về việc phát hiện sớm và chăm sóc trẻ tự kỷ. Nhận thức của cộng đồng về chăm sóc, bảo vệ và đảm bảo quyền cho trẻ tự kỷ cũng còn nhiều hạn chế. Hậu quả là trẻ không nói được, không hòa nhập được với môi trường xã hội xung quanh và phải sống lệ thuộc vào sự chăm sóc của người khác suốt đời.

    Ở Việt Nam, hiện có một vài trung tâm lớn, phục vụ thăm khám tâm lý cho trẻ em, chẳng hạn như tại các bệnh viện lớn như bệnh viện Nhi Trung ương ở Hà Nội, bệnh viện Nhi đồng 1, Nhi đồng 2 ở thành phố Hồ Chí Minh hay tại các bệnh viện nhi của các tỉnh.

    Trong chương trình hôm nay, RFI xin giới thiệu với quý thính giả một vài trao đổi liên quan đến hội chứng này. Đầu tiên là một số giải thích căn bản về hội chứng tự kỷ của bác sĩ – thạc sĩ Quách Thúy Minh, nguyên Trưởng khoa tâm bệnh, bệnh viện Nhi Trung Ương, hiện đang công tác tại Trung tâm tâm lý của bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec (458 Minh Khai – Hà Nội). Kế đến là chia sẻ của anh Thành và chị Hoa - hai phụ huynh đều có con mắc chứng tự kỉ. Họ - đại diện của hàng trăm gia đình có trẻ tự kỷ ở Việt Nam - đang rất mong nhận được sự hỗ trợ, cố vấn của giới y tế nói chung và của cả những gia đình khác nói riêng.

    RFI :Xin chào bác sĩ Quách Thúy Minh. Bác sĩ có thể giải thích cho thính giả của RFI biết hội chứng tự kỉ là gì và mục đích của các can thiệp là như thế nào không ạ ?

    Bác sĩ Quách Thúy Minh : Tự kỉ là một rối loạn về thần kinh, não bộ phát triển không hài hòa ở trẻ nhỏ, từ trước 3 tuổi và kéo dài đến tận khi lớn. Khi lớn, nhiều trường hợp cũng cần hỗ trợ. Thời gian đầu thì gọi là can thiệp sớm, tác động tích cực để trẻ có ngôn ngữ giao tiếp, các hành vi phù hợp. Còn quá trình tác động đến trẻ thì lâu dài.

    Hiện tại, bác sĩ đang trực tiếp thăm khám cho đối tượng các em gặp vấn đề về tâm lý. Bác sĩ có thể nói qua về tình trạng chung của các đối tượng bệnh nhân tìm đến với bác sĩ không ? Các biểu hiện của các em như thế nào, phương pháp điều trị ra sao ?

    Các trẻ em đến khám tâm lý thường là trẻ chậm nói, trẻ tăng động, giảm tập trung chú ý, trẻ có các vấn đề về lo âu, trầm cảm, khó khăn về học tập.

    Khi đón nhận các đối tượng như vậy, việc đầu tiên bác sĩ làm là gì ?

    Chúng tôi là các bác sĩ tâm lý. Chúng tôi có những quan sát khi cho các em chơi cùng, đưa ra các tình huống khác nhau cho trẻ ứng xử, các tờ giấy cho trẻ em vẽ tranh chẳng hạn, các câu chuyện bỏ lửng để xem trẻ em có phản ứng ra sao. Quan sát trong quá trình trẻ chơi, trong quá trình trẻ tác động qua lại giữa với bố mẹ với nhân viên y tế, thông qua các quyển sách tranh cho trẻ mô tả, xem ngôn ngữ ra sao, nội dung bức vẽ xem nội tâm của chúng ra sao, có những câu hỏi mở cho các em trả lời. Với các trẻ nhỏ, chủ yếu là quan sát, thông qua chơi, rồi hỏi gia đình ; còn đối với trẻ lớn hơn thì có cả các trắc nghiệm tâm lý về cảm xúc, về hành vi, về trí tuệ. Riêng về trẻ tự kỉ thì ở Việt Nam những năm gần đây, xu hướng đi khám cũng có vẻ tăng nhiều hơn so với những năm trước. Có thể do thông tin cũng cập nhật với cộng đồng rộng rãi hơn thông qua Internet, báo chí, các kênh truyền thông, truyền miệng của người dân, trình độ nhận thức về rối loạn ở trẻ chậm nói cũng tăng lên. Những năm gần đây, trẻ em đi khám rất sớm.

    Trước kia, khi chưa biết con mình có vấn đề gì thì có khi cha mẹ bận mải làm, cũng không quan tâm đến con nhiều lắm, cũng nghĩ là cho con ăn, uống, ngủ, nghỉ, chơi, thế là được rồi nhưng không dành thời gian cho con nhà mình. Nhưng mà khi được thăm khám xong, thì gia đình thấy rằng phải quan tâm đến con nhiều hơn, chơi với con nhiều hơn, dạy con nhiều hơn, chia sẻ với con nhiều hơn.

    Một điều chắc chắn là trong việc tác động lên các đối tượng trẻ mắc chứng tự kỷ, nếu có sự kết hợp hài hòa giữa bác sĩ, giáo viên, các nhà tâm lý và gia đình, thì những tiến bộ về ngôn ngữ, về hành vi, về nhận thức của trẻ sẽ trở nên rất rõ rệt. Xin cảm ơn chia sẻ của bác sĩ Quách Thúy Minh !

    Còn bây giờ, RFI xin mới quý thính giả cùng đón nghe chia sẻ của anh Thành, ba của bé Bảo Châu 5 tuổi. Bảo Châu được phát hiện mắc chứng tự kỷ khi lên 2 tuổi, với một số biểu hiện như chậm nói, rồi khi đi trường mầm non thì không chơi với các bạn trong lớp, cũng không nghe theo khẩu lệnh của cô giáo, không nhìn người đối diện mà thường xuyên nhìn vào khoảng không gian riêng của mình.

    RFI :
    Có những khó khăn nào mà gia đình thường xuyên gặp phải trong cuộc sống hàng ngày ?

    Anh Thành : Cháu không giao tiếp, hầu như không nghe mệnh lệnh của người lớn nên khoản chăm sóc cháu rất khó khăn. Ngày đầu tiên, ví dụ như vấn đề đi vệ sinh, mặc quần áo thì cháu không thể thực hiện tự giác được. Bây giờ thì sau một thời gian đào tạo, huấn luyện thì cháu cũng đã biết. Ngôn ngữ thì cháu không nói được nên cháu cũng không hiểu được mệnh lệnh. Cháu chỉ áng áng thôi. Tức là mình nói một vài mệnh lệnh, lặp lại nhiều lần thì cháu nhớ thế thôi. Trông cháu rất vất vả vì cháu có biểu hiện của chứng tăng động, cứ có không gian là cháu chạy ; chạy thì cháu không quan sát, cứ cắm đầu cắm cổ cháu chạy. Nói chung là lúc nào cũng phải có người kèm sát mới chăm được cháu.

    Có thể nói, hạnh phúc của các bậc làm cha, làm mẹ không gì khác là những đứa con của mình khỏe mạnh, ngoan ngoãn, thông minh, thành đạt. Tuy nhiên, nếu chẳng may thực tế không mỉm cười với cuộc sống của họ thì họ sẽ cần lắm một sự động viên, khích lệ của xã hội để giúp họ có thêm nghị lực để tiếp tục vững bước trên con đường đầy thử thách và gian truân. Đó là suy nghĩ của chị Hoa, một người mẹ nghị lực đã, đang tiếp tục đồng hành với cậu con trai 10 tuổi bị « tự kỷ ».

    RFI : Là một phụ huynh có con mắc chứng tự kỷ, mong muốn lớn nhất của chị là gì ?

    Chị Hoa : Mong muốn lớn nhất của tôi, là cộng đồng xã hội sẽ ngày càng nhận thức được tốt hơn về hội chứng tự kỷ, để có được sự chia sẻ với các gia đình có con mắc chứng tự kỷ, dù chỉ là những chia sẻ tinh thần, hay là những chia sẻ sau này, đó là có thể đón nhận các cháu vào làm việc. Bởi vì mong muốn rất thiết thực của các bậc làm cha, làm mẹ như tôi, là con mình sau này sẽ có được một công việc độc lập để cháu có quyền lao động, quyền được sống có giá trị.

    RFI : Chị có nhắc đến các chia sẻ giữa các gia đình có chung hoàn cảnh là có con mắc chứng tự kỷ. Hiện tại bản thân gia đình chị có những chia sẻ như thế nào đối với các gia đình đồng cảnh ngộ ?

    Chị Hoa : Thực ra thì sau một giai đoạn chiến đấu rất vất vả với việc bố mẹ không hiểu biết, thì tôi đã tự hiểu ra một điều là cái nhận thức của phụ huynh trong lĩnh vực này rất quan trọng. Cho nên gần đây tôi có tham gia vào một tổ chức có tên là Mạng lưới người tự kỉ Việt Nam.

    Chúng tôi tổ chức rất nhiều khóa tập huấn dành cho phụ huynh, mời cả chuyên gia, cũng như là những phụ huynh đi trước như chúng tôi, sẵn sàng chia sẻ lại cho các phụ huynh mới phát hiện ra con của họ bị tự kỷ, khi mà họ rất hoang mang thì định hướng cho họ là tự kỷ là như thế nào và khi là mẹ của một bạn tự kỷ thì phụ huynh cần chuẩn bị những điều kiện gì để có thể giúp con mình vượt qua các khó khăn một cách tốt nhất mà giảm thiểu chi phí.

    Bởi vì khi một cháu mà bị phát hiện tự kỷ thì thường là có rất nhiều người ùa đến, mỗi người chỉ một cách. Và nếu phụ huynh mà không hiểu biết thì sẽ tốn rất nhiều chi phí. Và đấy là một gánh nặng cả về tâm lý, cả về tinh thần, vật chất rất lớn. Chúng tôi mong muốn, cho dù vật chất không thể hỗ trợ được nhưng những định hướng, những hỗ trợ về tinh thần cho phụ huynh. Chúng tôi là những phụ huynh đi trước, chúng tôi đang hết sức nỗ lực để làm điều đấy.

    RFI chân thành cảm ơn bác sĩ Quách Thúy Minh, anh Thành và chị Hoa.
     

    10 min
  • Việt Nam : Ô nhiễm biển và cái giá phải trả

    Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, biển Việt Nam - với diện tích hơn 1 triệu km2 - hiện cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nước biển nghiêm trọng.

    Từ hơn một tháng nay, báo chí trong nước cũng như quốc tế đều đồng loạt đưa tin tình trạng cá chết hàng loạt dọc bờ biển miền trung Việt Nam, rồi lan sang cả cá nuôi trong các ao hồ khu vực xung quanh. Nếu nói riêng về tình trạng cá chết hàng loạt mà nguyên nhân là do biến đổi khí hậu hoặc do ô nhiễm nguồn nước thì tại một số nước trên thế giới như Mỹ, Brazil, Chile, Mexico, Bolivia, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Cam Bốt… cũng đã từng xảy ra.

    Tuy nhiên, trong bối cảnh của Trung Bộ Việt Nam, mấy năm gần đây có sự gia tăng và phát triển của các khu công nghiệp ven biển, hầu hết tại các tỉnh và đặc biệt là ở Hà Tĩnh có khu công nghiệp Vũng Áng, với một số nhà máy nhiệt điện, nhà máy cán thép đã đi vào hoạt động. Thực trạng biển Việt Nam hơn lúc nào hết đã gióng một hồi chuông thức tỉnh cả thế giới.

    Nhiều con mắt nghi ngờ đang đồ dồn về phía công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS, thuộc tập đoàn Formosa Đài Loan) như thủ phạm chính gây ra cái chết hàng loạt của thủy hải sản dọc khu vực miền Trung Việt Nam, kể từ sau khi phát hiện công ty này đã cho lắp đặt trái phép các ống xả ngầm đổ ra biển.

    Mới đây đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình của người dân trong và ngoài nước, phản đối và đòi đuổi Formosa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Liệu đây có phải là thủ phạm chính hay chỉ là giọt nước làm tràn ly của tình trạng ô nhiễm biển Việt Nam vốn chưa được quan tâm đúng mức từ trước đến giờ ?

    Nhìn một cách tổng quát, gây ô nhiễm nước biển được hiểu là việc đưa vào nguồn nước biển (bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp) các chất cặn bã, các thực thể hay năng lượng, trong đó bao gồm cả các nguồn âm thanh do con người phát ra dưới lòng biển, gây ra tác hại xấu đối với nguồn sinh vật sống và hệ sinh thái biển. Hậu quả là nguồn đa dạng sinh học bị suy giảm, nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây ra những cản trở cho các hoạt động liên quan đến biển (chủ yếu là đánh bắt hải sản, du lịch và thư giãn trên biển…) hay sự biến chất của nguồn nước.

    Các nguồn nước thải gây ô nhiễm nước biển

    Theo tiến sĩ Dư Văn Toán, Viện Nghiên Cứu Biển và Hải Đảo Việt Nam, dải ven biển hay đới ven biển nói chung trên thế giới cũng như tại Việt Nam có rất nhiều nguồn tiềm ẩn gây ô nhiễm. Cho đến nay, đa phần lượng chất gây ô nhiễm đến từ đất liền, một phần nhỏ đến từ các hoạt động trên biển từ tàu thuyền, dàn khoan, đáy biển. Các nguồn nước thải ra biển chủ yếu bao gồm:

    - Các nguồn thải lục địa đổ ra sông và theo dòng sông đổ ra biển
    - Nước thải sinh hoạt trực tiếp từ khu vực đô thị, thành phố ven biển
    - Nước thải công nghiệp từ các khu công nghiệp ven biển trực tiếp hay qua cống thải ngầm dưới biển
    - Nước thải, dầu thải, hóa chất của tầu thuyền trên biển
    - Sự cố dầu tràn của dàn khoan khai thác, tầu vận tải chuyên chở dầu.

    Cùng với các yếu tố dòng chảy, chế độ sóng, gió khu vực cũng gây ra các quá trình vận chuyển ô nhiễm sang các vùng lân cận. Các chất gây ô nhiễm cũng tác động đến chế độ hải dương, các quá trình sinh học, làm xuất hiện hiện tượng phù dưỡng (tức là tình trạng gia tăng dinh dưỡng gốc photpho PO4 trong nước) hoặc cũng có thể gây ra các hiện tượng suy giảm nồng độ oxy hòa tan (tên tiếng Anh là Dissolved oxygen hay DO) dẫn đễn hiện tượng cá và hải sản chết.

    Trong khi người dân Việt Nam vẫn đang chờ chính phủ công bố chính thức nguyên nhân của việc cá chết hàng loạt này, RFI đã có dịp trao đổi với Giáo sư-Tiến sĩ Trương Nguyện Thành, hiện đang công tác tại đại học Utah, Hoa Kỳ, để hiểu rõ hơn về thành phần cũng như tác hại của các chất độc có thể tìm thấy trong nước thải công nghiệp. Xin mời quý vị đón nghe cuộc trao đổi này :

    RFI : Xin chào GS Trương Nguyện Thành. Cảm ơn ông đã nhận lời trả lời phỏng vấn của Ban Việt ngữ, đài quốc tế Pháp RFI. Như ông đã biết, hiện nay nhiều nước trên thế giới trong đó có cả Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nước biển nghiêm trọng. Một thực tế không thể phủ nhận, đó là việc gia tăng các hoạt động kinh tế - dân sinh, song hành cùng với việc gia tăng lượng chất thải, nước thải đi theo các sông, hồ, đổ ra biển. Dưới góc độ là một nhà khoa học có kinh nghiệm lâu năm, công tác trong lĩnh vực hóa học, ông có thể cho thính giả biết đôi nét về thành phần các chất thải, xuất phát từ các hoạt động công-nông nghiệp của con người, cũng như hậu quả của chúng đối với môi trường sống nói chung và đối với môi trường biển nói riêng được không ạ?

    GS. TS. Trương Nguyện Thành : Về hoạt động nông nghiệp, đa số là sử dụng phân bón, mà người ta gọi là những nguồn chất thải không nhất định vị trí. Đa số những chất độc có trong chất thải từ nông nghiệp là chất hữu cơ, tính độc tính thực sự không ảnh hưởng lâu dài. Còn về hoạt động công nghiệp, nguồn thải là cố định, người ta biết nguồn thải đó nằm ở vị trí nào. Chất độc từ công nghiệp thì cũng tùy theo lĩnh vực công nghiệp. Đa số nguồn thải đó phải qua xử lý.

    Những nước tiên tiến thì có một hệ thống xử lý nước thải rất tốt. Những nước đang phát triển gặp phải vấn đề là xử lý chất thải rất tốn kém, nên họ thường có những cách để không qua những bước xử lý chất thải đó, mà đổ thẳng nguồn nước thải ra ngoài thiên nhiên. Đó mới là nguồn gây độc hại tới môi trường.

    Trong xử lý nước thải công nghiệp, nó sẽ lọc ra các hóa chất độc trong đó có hóa chất hữu cơ và vô cơ. Trong những loại chất hữu cơ thì cũng có những loại có độc tính khá cao như là các loại hữu cơ nhiều vòng : có khả năng gây ung thư nhưng chưa đến nỗi gây chết người hay súc vật cho lắm.

    Còn những đặc tính vô cơ, ví dụ như kim loại nặng thì rất độc. Chỉ với một thành phần rất nhỏ trong nước, chừng 1 gam trong 1 triệu lít nước, có những kim loại nặng có khả năng giết sinh vật. Chẳng những vậy, con người thường là sinh vật cuối cùng trong hệ tiêu thụ. Khi con người hấp thụ kim loại nặng, bộ phận tiêu hóa không thải ra hiệu quả lắm cho nên kim loại nặng tích tụ trong người. Như vậy, các loại kim loại nặng ảnh hưởng đến bộ máy tiêu hóa, phân chia tế bào, không những gây ung thư mà còn có thể làm hư cả tế bào gốc, sinh dị tật, có thể gây ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau nữa

    Một tình trạng từng xảy ra trong lịch sử của Nhật Bản, đó là thủy ngân ; nó ảnh hưởng đến 60 năm, người dân Nhật vẫn còn phải trả giá, đó là vẫn phải chịu dị tật. Xã hội Việt Nam cũng đã từng bị một chất độc hữu cơ rất là mạnh, gọi là chất độc da cam. Loại chất độc này cũng gây dị tật và đi theo nhiều thế hệ.

    Kim loại mạnh ảnh hưởng mạnh mẽ hơn, nặng nề hơn chất độc da cam. Khi con người tiếp xúc với nó, với nồng độ cao thì sẽ bị ảnh hưởng liền, trừ khi tiếp xúc với nồng độ thấp, chẳng hạn thủy ngân trong cá với một tỉ lệ nhỏ. Nếu cá bị nhiễm một lượng độc cao, khi ăn vào thì lượng độc đó vượt ngưỡng trong cơ thể thì lúc đó người có thể bị ngộ độc kim loại nặng, có thể gây chết người liền.

    Kim loại nặng cũng có rất nhiều loại kim loại, từ công nghệ khai thác mỏ, công nghệ làm thép. Kim loại nặng từ lòng đất mà ra. Cho nên trong công nghệ khai thác mỏ, thường thường sẽ giải phóng kim loại nặng ra môi trường.

    Trong mẫu nước, kim loại nặng bị pha loãng theo thời gian, nhưng ở trong con cá thì vẫn còn. Nếu như kim loại nặng khi pha loãng thì nó cũng bị phát tán đi, theo dòng hải hưu và lắng dần xuống lớp bùn. Lấy mẫu từ những con vật sống dưới đáy như sò, ốc, trong lớp bùn phủ dưới đáy biển, vẫn còn có một lượng rất lớn kim loại nặng dưới đó.

    Tôi nghĩ rằng chính phủ Việt Nam cần phải có cơ sở để xét nghiệm chất lượng nước thải trước khi nó được đưa ra ngoài môi trường. Một số cơ sở công nghiệp Việt Nam né vấn đề xử lý nước thải vì cái đó tốn kém nên họ thải thẳng ra nguồn thiên nhiên : sông hoặc biển. Nếu thải ra sông thì giết hết cả các sinh vật sông, mà nếu không giết thì cá đó bị nhiễm độc, rồi người ta ăn cá và cũng bị nhiễm độc trong người.

    RFI : Ông nghĩ sao về cái giá mà Việt Nam phải trả trong câu chuyện phát triển kinh tế không đi đôi với bảo vệ môi trường này?

    GS. TS. Trương Nguyện Thành : Nền kinh tế chung Việt Nam lệ thuộc vào kinh tế biển là chính. Nếu môi trường ảnh hưởng đến thương hiệu của nền kinh tế biển, kể cả vấn đề sức khỏe con người và ảnh hưởng đến nhiều thế hệ thì cái giá phải trả cao hơn nhiều so với cái giá để phát triển kinh tế về công nghệ đó.

    RFI : Trước thảm họa môi trường biển mà Việt Nam đang phải gánh chịu, ông muốn nhắn nhủ thông điệp gì?

    GS. TS. Trương Nguyện Thành : Đây là một lo ngại rất là lớn cho nền kinh tế, cũng như sức khỏe của người Việt Nam trong nhiều thế hệ. Tôi nghĩ rằng tất cả các khoa học gia trong và ngoài nước mà quan tâm cũng nên có một chút suy nghĩ để giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua thảm họa này chứ không phải giúp cho một chính phủ nào.

    10 min
  • Cá biển chết ở Việt Nam: Hệ lụy có thể kéo dài 50 năm

    Khi nước biển bị ô nhiễm nặng, hậu quả nghiêm trọng là điều khó tránh vì: thứ nhất, khó cô lập vùng ô nhiễm, thứ hai,  các phân tích của mẫu được thu thập dễ bị sai lệch, và thứ ba, chuỗi thức ăn tự nhiên trong vùng như chim, động-thực vật dưới biển bị lây nhiễm. Cuối cùng là ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, nhất là ung thư. Nếu có những độc chất không thể hòa tan, quá trình luân chuyển và hậu quả có thể kéo dài đến 50 năm, theo đánh giá của một chuyên gia Pháp, ông Jean Hetzel, khi trả lời phỏng vấn RFI.

    Vụ cá biển chết hàng loạt ở bốn tỉnh miền trung Việt nam cho đến nay vẫn chưa có kết luận chính thức, dù đã sau gần một tháng. Giả thuyết được đưa ra nhiều nhất là nguồn nước bị nhiễm độc do nước thải công nghiệp. Công ty Formosa ở khu công nghiệp Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh được cho là nghi phạm chính.

    Vụ việc có thể coi là một thảm họa môi trường và đã tạo nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ của người dân Việt nam, cũng như thu hút sự quan tâm của truyền thông quốc tế. Đứng về góc độ chuyên môn, một chuyên gia lâu năm trong lĩnh vực môi trường của Pháp đã có những chia sẻ với RFI Việt ngữ khi được thông tin về vụ việc. Ông Jean HETZEL, hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực môi trường và phát triển bền vững, hiện là chủ tịch công ty tư vấn JOHANSON International và đã tham gia xử lý các thảm họa môi trường như vụ Sandoz-sông Rhin năm 1986.

    RFI : Xin chào ông Jean Hetzel, trước hết ông đánh giá như thế nào về vụ cá chết hàng loạt bị nghi là do ô nhiễm ở vùng biển miền trung Việt nam ?

    Jean Hetzel : Vâng xin chào, tôi thấy đây là một vụ ô nhiễm nghiêm trọng. Đã rất lâu rồi tôi mới biết một vụ ô nhiễm môi trường như vậy, trải dài khoảng 200 km. Vụ việc xảy ra ở vùng biển thì khá hiếm vì hiện tượng này thường xảy ra ở các vùng sông. Rõ ràng đây là một cú sốc vì cá chết phơi bụng nhiều. Cũng không được quên các loài rong, tảo là nguồn thức ăn của cá, khi không chịu nổi chất gây ô nhiễm cũng sẽ chết.

    Cú sốc này lớn vì hậu quả có thể là ngắn và trung hạn nhưng cũng có thể là dài hạn, tùy thuộc vào các chất bị thải ra, có thể từ 2 đến 50 năm. Những chất có thể hòa tan trong nước thì 2-3 năm, nhưng những chất kỵ nước thì nó sẽ còn tồn tại và tiếp tục chu trình luân chuyển.

    RFI: Đứng ở góc độ chuyên môn, thì theo ông khi vụ việc vừa xảy ra, nên xử lý như thế nào ?

    Jean Hetzel : Thường thì với trường hợp như thế này thì lập tức phải thu thập mẫu vật, như là xác loài vật chết, các loài chim trong vùng, tảo biển. Phải thực hiện biện pháp bảo vệ khẩn cấp như là dừng các hoạt động liên quan ngành thủy hải sản, dừng đánh bắt ở những vùng lân cận. Khó khăn lớn đối với Việt nam là vụ việc xảy ra ở biển, rất khó dừng ô nhiễm ở biển vì nó lan nhanh xuống các tầng nước, khi xuống tầng nước sâu thì khó tìm được dấu vết.

    RFI : Ông có thể chia sẻ một kinh nghiệm của mình ?

    Jean Hetzel : Ở Pháp thì cũng có những vụ ô nhiễm nguồn nước. Tôi đã tham gia xử lý 3 vụ ô nhiễm lớn, nhất là vụ Sandoz ở sông Rhin 1986, vụ ô nhiễm rất lớn, ảnh hưởng đến các kênh trong vùng, lan ra biển phía Bắc, như vậy trải rộng qua Thụy Sỹ, Pháp, Đức và Hà Lan. Người ta đã phải theo dõi hơn 5 năm để chắc rằng ô nhiễm đã được giải quyết, mà các chất ô nhiễm ở đây thuộc nhóm đơn giản. Nếu các chất phức tạp hơn thì thời gian chắc phải nhiều hơn.

    RFI: Theo ông vì sao vấn đề môi trường ngày càng được quan tâm nhiều hơn?

    Jean Hetzel : Có nhiều lý do. Trước tiên là người dân được giáo dục tốt hơn. Người ta nhận biết rằng vấn đề ô nhiễm môi trường, nhất là các chất nguy hiểm, gây nguy hại cho sức khỏe. Người ta đầu tư hàng tỷ đô la để nâng cao sức khỏe, nhưng ô nhiễm có thể gây ra cái chết, ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái, tác động đến chuỗi thực phẩm, ung thư v.v.. Những hậu quả do ô nhiễm được biết vì vậy người ta cố gắng hạn chế và giảm ô nhiễm.

    Vấn đề ô nhiễm quan trọng vì trong 50 năm qua, chúng ta làm nghiên cứu rất nhiều về môi trường, vì vậy có nhiều bằng chứng khoa học. Những đối thoại/yêu cầu về môi trường ngày càng nhiều, nhất là từ các tổ chức phi chính phủ, đòi các cơ quan nhà nước có những giải pháp phù hợp. Ở Pháp có chính sách riêng về nước (gồm những hoạt động hướng dẫn và kiểm tra nguồn nước, chất lượng nước, những người có trách nhiệm kiểm tra), về môi trường như là cảnh sát môi trường/cảnh sát nước.

    RFI: Hiện nay có nhiều chủ đầu tư công nghiệp không muốn tăng chi phí môi trường, họ cho là tốn kém. Theo ông thì điều này có ảnh hưởng như thế nào?

    Jean Hetzel : Đương nhiên là có chi phí, nhưng không nhiều so với mạng sống của con người. Chi phí trung bình so với tổng đầu tư nhà máy từ 5%-15% tuỳ trường hợp nhưng hiếm khi đạt mức cao nhất, vì mức cao nhất là dành cho những trường hợp yêu cầu gắt gao, như trong lĩnh vực hạt nhân. Chi phí đầu tư cho môi trường phải được tính là nếu không đầu tư thì sẽ bị mất thị phần, các tập đoàn lớn ngày càng nhạy cảm với vấn đề này nếu bị người tiêu dùng đưa vào danh sách đen. Vì vậy cần đầu tư ngay từ đầu để tránh những thiệt hại về hình ảnh và thị phần.

    RFI: Ở những nước phát triển, như Pháp chẳng hạn, vì sao việc bảo vệ môi trường rất được ưu tiên ?

    Jean Hetzel : Trước tiên là cần có cảnh sát môi trường, để môi trường được bảo vệ tốt nhất có thể. Đó là về phía chính phủ. Nhưng quan trọng hơn vẫn là hành động của người dân. Cụ thể là hoạt động ở quy mô địa phương của các hội đoàn độc lập, như hội những người đánh cá, hội những người đi săn v.v.., cũng như các tổ chức phi chính phủ, vì các tổ chức này có chuyên môn để thúc đẩy chuyện này.

    Cũng cần sự bổ sung của giới công nghiệp, vì có những công ty chuyên xử lý, giảm ô nhiễm, ví dụ như ở Pháp có những công ty hàng đầu về vấn đề này. Và ngày càng nhiều thông tin được cung cấp bởi giới công nghiệp khi họ tham gia cùng các hội đoàn trong ban điều hành. Phía cơ quan quản lý nhà nước sẽ dễ dàng ban hành các quy định hơn khi có sự đồng thuận giữa người dân, các ngành công nghiệp sản xuất và các hội đoàn, ONG. Cần hành động và cần bảo vệ môi trường.

    9 min
  • Thiếu canxi, hụt vitamin D: Rủi ro gây loãng xương ở phụ nữ Việt Nam

    Loãng xương là một bệnh lý liên quan đến hiện tượng suy giảm mật độ xương, dẫn đến hệ quả là xương dễ bị vỡ và làm tăng nguy cơ gãy xương. Chứng bệnh phát triển cùng với tuổi tác và chủ yếu ở phụ nữ, nhất là sau thời kỳ mãn kinh. Căn bệnh cũng đôi khi xuất hiện ở nam giới sau 65 tuổi. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây, cho thấy tỷ lệ phụ nữ mắc chứng loãng xương khá cao.

    Nguyên nhân là do nồng độ canxi và vitamin D trong máu khá thấp, theo như giải thích của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, đại học Garvan, tại Úc.

    « Khi thực hiện một số nghiên cứu trong nước, chúng tôi phát hiện một điều thú vị : lượng canxi mà người Việt hấp thu được qua thức ăn chỉ có khoảng 300-400mg. Ở nước ngoài như Úc, Mỹ, Pháp… , người ta khuyến cáo mỗi ngày phải chừng 1000mg canxi qua thức ăn. Đây là một mức thiếu rất trầm trọng.

    Điều thứ hai, rất nhiều phụ nữ Việt Nam bị thiếu vitamin D. Theo một nghiên cứu được thực hiện tại Hà Nội, có đến 70% phụ nữ trong độ tuổi từ 20-50, bị thiếu vitamin D. Còn tại thành phố Hồ Chí Minh, trên tổng số 1000 người được khảo sát, khoảng 50% phụ nữ trên 20 tuổi thiếu vitamin D. Một điểm ngạc nhiên nữa, phụ nữ càng trẻ càng ít vitamin D chừng ấy.

    Đó chính là những lý do giải thích tại sao tỷ lệ người mắc chứng loãng xương ở Việt Nam cao, phụ nữ chiếm 30% và 12 hay 13% là ở nam giới. »

    Vitamin D được cơ thể chúng ta tạo ra một cách tự nhiên nhờ vào ánh nắng mặt trời. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, quanh năm có nắng. Thế nhưng, điều nghịch lý là tỷ lệ thiếu vitamin D ở phụ nữ lại khá cao. Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho biết tiếp.

    « Kết quả này làm cho nhiều người rất ngạc nhiên. Bởi vì, theo tôi nghĩ, nắng Việt Nam hơi khắc nghiệt, nhất là sau 10 giờ sáng, thì nắng rất là gắt. Do đó, mọi người không thích ra ngoài nắng. Theo quan điểm của tôi đó là do yếu tố tâm lý và văn hóa.

    Người Việt thích có làn da trắng, do đó họ làm mọi cách kể cả che mặt che mũi, dùng kem để giữ cho làn da trắng. Thế nhưng chính những biện pháp đó, lại làm giảm khả năng thấp thu vitamine D từ mặt trời. Đó là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu vitamine D rất nghiêm trọng ở phụ nữ Việt Nam. »

    Làm việc văn phòng tăng nguy cơ thiếu vitamin D ?

    Ngoài hai yếu tố trên ra, theo giáo sư Tuấn, còn có các yếu tố xã hội như vùng miền, nghề nghiệp.

    « Theo như trình bày ở trên, trong các cuộc nghiên cứu được thực hiện ở các tỉnh miền Bắc, chúng tôi cũng có so sánh tỷ lệ thiếu vitamin D giữa cư dân thành thị và nông thôn. Nông thôn ở đây là những người làm ruộng ở ven thành Hà Nội.

    Kết quả cho thấy rất rõ ràng, những người ở nông thôn có tỉ lệ thiếu vitamin D thấp hơn so với thành thị. Nói cách khác, nồng độ vitamin D ở trong máu, ở những người ở nông thôn cao hơn ở thành thị.

    Tôi nghĩ có một sự khác biệt rất rõ ràng, ở nông thôn, phần lớn người ta làm nghề nông, mà Việt Nam thường có câu là « bán mặt cho đất, bán lưng cho trời », suôt ngày giang nắng ở ngoài đồng ngoài ruộng. Do đó, nồng độ vitamin D ở trong máu ở người dân nông thôn cao hơn của cư dân thành thị cũng không có gì ngạc nhiên.

    Ngay cả ở vùng thành thị cũng vậy, những người buôn gánh bán bưng, tức những người lao động chân tay, cũng có nồng độ vitamin D cao hơn những người làm việc ở văn phòng hay là các viên chức. Do đó, tình trạng thiếu vitamin D ở Việt Nam, ngoài yếu tố văn hóa (thích làn da trắng) còn có yếu tố nghề nghiệp nữa. »

    Thế còn tại thành phố Hồ Chí Minh thì sao ? Nắng nhiều, gió nhiều, nhưng có đến 50% phụ nữ bị thiếu vitamin D. Về điểm này, giáo sư cho biết cần phải đợi kết quả một nghiên cứu sâu rộng đang được tiến hành.

    « Ở Sài Gòn hiện vẫn chưa có những so sánh giữa nông thôn với thành thị. Hy vọng là một năm nữa mới có kết quả. Hiện chúng tôi đang tiến hành một nghiên cứu rất là quy mô ở Sài Gòn để mà tìm hiểu rất nhiều vấn đề liên quan đến bệnh béo phì, loãng xương, tim mạch, thoái hóa khớp.. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng sẽ đo nồng độ vitamin D ».

    Nên hay không nên bổ sung canxi?

    Câu hỏi đặt ra, trong tình hình phụ nữ Việt Nam bị thiếu hụt canxi và vitamin D trầm trọng, liệu có nên bổ sung canxi hay không. Theo giáo sư Tuấn, đây hiện là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong giới nghiên cứu về loãng xương.

    « Hiện nay đang có một cuộc tranh cãi trong thế giới y khoa trong vai trò và hiệu quả của bổ sung canxi. Theo quan điểm của các chuyên gia tại New Zealand, bổ sung canxi không có giúp giảm nguy cơ gãy xương. Tuy nhiên, tôi không đồng tình với quan điểm này. Theo nhiều nghiên cứu chúng tôi thực hiện, bổ sung canxi ở những người cao tuổi và những người có nguy cơ gãy xương cao thì vẫn có hiệu quả, tức là giảm rủi ro gãy xương chừng 15%.

    Tranh cãi xung quanh vai trò bổ sung canxi gồm hai trường phái. Một bên cho là không cần bổ sung canxi. Bên khác cho là phải bổ sung canxi nhưng ở những người cần thiết đến nó. Ví dụ như ở người Việt Nam chẳng hạn, có rất nhiều người bị thiếu canxi, do đó, việc bổ sung canxi không phải là chuyện gì nghiêm trọng lắm.

    Theo quan điểm của tôi, bổ sung canxi vẫn cần thiết. Và trên thực tế, những người làm trong hội loãng xương thế giới đều khuyến cáo như vậy. ».

    Bổ sung canxi và vitamin D bằng cách nào ?

    Phòng bệnh hơn chữa bệnh. « Một khi biết được các yếu tố nguy cơ rồi, như thiếu canxi, hụt vitamin D, thiếu vận động thể lực… những yếu tố nằm trong tầm tay thì chúng ta vẫn có thể tự phòng ngừa bệnh » như những gì giáo sư Nguyễn Văn Tuấn có khuyến nghị trong bài Bệnh loãng xương : Nguyên nhân và cách phòng ngừa.

    Thực phẩm sẽ là nguồn bổ sung canxi tự nhiên và ít tốn kém nhất. Chúng ta có thể tìm thấy canxi trong các loại trái cây, rau củ, trái cây khô và nước khoáng. Các loại sản phẩm làm từ sữa, tuy cũng có chứa chất canxi, nhưng chưa đủ đáp ứng được nhiều yêu cầu.

    Theo giải thích của bác sĩ Rodolphe Picquet trên đài truyền hình kênh 3, các loại sản phẩm sữa chưa cho phép chống lại bệnh loãng xương một cách hiệu quả như nhiều quảng cáo nói đến. Theo ông, tất cả các nghiên cứu độc lập (không do các hãng sữa tài trợ) chỉ ra là sữa chưa đủ tăng cường mật độ xương trong dài hạn.

    Về phần vitamin D, ngoài việc phải phơi nắng mỗi ngày từ 15-20 phút, vitamin D còn có thể tìm thấy trong nguồn thực phẩm như cá hay nhiều loại thực phẩm chức năng.

    Ông Rodolphe Picquet lưu ý là chế độ dinh dưỡng có quá nhiều chất axit cũng không tốt cho xương. Chế độ dinh dưỡng tốt cho xương lý tưởng nhất phải có rau củ, trái cây, cá, thịt, trái cây khô, ngũ cốc và dầu thực vật. Khi thực phẩm có quá nhiều axit, cơ thể chúng ta buộc phải bù đắp tính chua đó cách hút chất canxi bicacbonat trong xương và làm mất chất canxi.

    Cuối cùng, luyện tập thể dục thường xuyên cũng giúp cho xương cốt dẻo dai. Vận động thể lực mỗi ngày – dù ở mức độ khiêm tốn, cũng làm cho xương phát triển và rắn chắc hơn. Chỉ cần 30 phút đi bộ là đủ lắm rồi !

    10 min
  • Bệnh loãng xương : Nguyên nhân và cách đề phòng
    Loãng xương là một bệnh lý liên quan đến hiện tượng suy giảm mật độ xương, dẫn đến hệ quả là xương dễ bị vỡ và làm tăng nguy cơ gãy xương. Chứng bệnh phát triển cùng với tuổi tác và chủ yếu ở phụ nữ, nhất là sau thời kỳ mãn kinh. Căn bệnh cũng đôi khi xuất hiện ở nam giới sau 65 tuổi.
    13 min
  • Trí thông minh nhân tạo sẽ còn đi đến đâu ?
    Công luận những ngày gần đây dồn hết mọi sự chú ý vào cuộc đọ trí giữa máy tính thông minh AlphaGo và kỳ thủ cờ vây thế giới Lee Sedol, người Hàn Quốc. Sự kiện cho thấy lĩnh vực nghiên cứu trí thông minh nhân tạo đã có những bước đột phá lớn, hy vọng mở ra nhiều ứng dụng mới phục vụ cho lợi ích con người. Nhưng bên cạnh đó, cũng có nhiều lo ngại cho rằng một ngày nào đó máy tính sẽ vượt lên trên và điều khiển cuộc sống nhân loại.
    17 min
  • Sóng hấp dẫn : Cánh cửa mới khám phá Vũ trụ
    Ngày 11/02/2016, một nhóm nhà khoa học quốc tế thông báo dò bắt được sóng hấp dẫn. Phát hiện mới này xác nhận dự đoán của nhà bác học Mỹ Albert Einstein cách đây đúng một trăm năm. Đối với các nhà khoa học, sự kiện này mở ra một cánh cửa mới cho ngành nghiên cứu khoa học vũ trụ.
    14 min
  • Virus Zika : Nguyên nhân và cơ chế lây truyền bệnh
    Từ nhiều tháng nay, khu vực Nam Mỹ và vùng Caribe đang phải vật vã chống lại một kẻ thù đáng sợ : muỗi vằn. Ngoài việc mang mầm bệnh sốt xuất huyết và chikungunya, loài muỗi vằn này hiện đang đe dọa cả thế giới với loại virus Zika. Các chuyên gia nghi ngờ có mối liên hệ giữa virus Zika và dị tật « đầu nhỏ » ở thai nhi.
    15 min
  • Tạp chí khoa học - Công nghệ chỉnh sửa gien: Lợi hay hại cho tương lai nhân loại ?
    Lĩnh vực di truyền học đang có những bước đột phá quan trọng. Từ hơn ba năm nay giới sinh học di truyền trở nên sôi nổi hẳn lên do sự xuất hiện của những kỹ thu mới về thao tác gen người, cho phép chỉnh sửa những đoạn ADN « khiếm khuyết » với một độ chính xác cao, kể cả trên những tế bào sinh sản.
    14 min
  • Tạp chí khoa học - Năm gương mặt khoa học nổi bật năm 2015
    Ai cũng có mơ ước làm được điều gì đó trong đời. Chính những mơ ước đó cũng đã làm nên tên tuổi của nhiều nhà khoa học. Nhân dịp năm cũ đã qua, năm mới đến, RFI điểm lại năm gương mặt nổi bật làm nên những « giấc mơ thần kỳ » trong ngành khoa học, mang đến những hy vọng cải thiện cuộc sống nhân loại tốt đẹp hơn.
    19 min

About Tạp chí Khoa Học Môi Trường

From the publisher's feed

Thành tựu và thách thức trong lĩnh vực môi trường, khoa học kỹ thuật, y tế

More shows like Tạp chí Khoa Học Môi Trường

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

Tạp chí Âm Nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Âm Nhạc

2 Listeners

Tạp chí Tiêu Điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Tiêu Điểm

0 Listeners

Tạp chí Văn Hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Văn Hóa

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí Thể Thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Thể Thao

0 Listeners

Tạp chí Kinh Tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Kinh Tế

0 Listeners

Tạp chí Xã Hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Xã Hội

0 Listeners

Tạp chí Đặc Biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Đặc Biệt

0 Listeners