
Sign up to save your podcasts
Or


Ngày 12/05/2025, đại sứ Liên Hiệp Châu Âu Julien Guerrier và đại sứ Pháp Olivier Brochet tại Việt Nam thăm thực địa dự án mở rộng nhà máy thủy điện Ialy, do Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện với khoản vay ưu đãi 74,7 triệu euro từ Cơ quan Phát triển Pháp - AFD và khoản viện trợ 2 triệu euro từ Liên Âu. Dự án cũng nằm trong khuôn khổ JETP - Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng - giúp Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, hướng tới loại bỏ sử dụng than đá.
Được đưa vào hoạt động cuối năm 2024 sau bốn năm thực hiện, nhà máy Ialy lắp đặt bổ sung hai tổ máy có công suất 180 MW mỗi tổ, nâng tổng công suất của nhà máy lên 1.080 MW. Dự án Ialy được coi là một trong những dự án tiêu biểu thúc đẩy chuyển dịch năng lượng xanh tại Việt Nam, theo hướng tiếp cận Team Europe (Đội Châu Âu) và sẽ được tổng kết trong năm 2025.
JETP được Việt Nam và Nhóm các đối tác quốc tế, bao gồm Liên Hiệp Châu Âu, nhóm G7, Na Uy và Đan Mạch, ký ngày 14/12/2022. Việt Nam trở thành một trong ba nước trên thế giới, cùng với Nam Phi và Indonesia, ký thỏa thuận được đánh giá là rất có lợi, với khoản tài trợ ban đầu lên tới 15,5 tỷ đô la, để hỗ trợ Việt Nam đạt được bốn mục tiêu đầy tham vọng (1) và sẽ có vai trò quan trọng trong bối cảnh Việt Nam muốn xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam.
Đọc thêmThiếu điện gây cản trở cho tham vọng về môi trường của Việt Nam
Trong khuôn khổ JETP, Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư châu Âu (BEI) ký Biên bản ghi nhớ thể hiện cam kết chung trong việc thành lập một cơ sở tín dụng đa dự án trị giá 500 triệu euro, để tài trợ cho các dự án hỗ trợ quá trình khử cacbon và chuyển đổi năng lượng. Ngoài ra, Liên Hiệp Châu Âu cũng cấp cho Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) một khoản ngân sách để hỗ trợ kỹ thuật cho Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) trong việc phát triển và triển khai các dự án liên quan đến JETP.
Để hiểu thêm về Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng - JETP và những dự án hỗ trợ của Nhóm đối tác, đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ rút khỏi nhiều cam kết về chống biến đổi khí hậu, đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier dành cho RFI Tiếng Việt một buổi phỏng vấn.
RFI : Tháng 12/2022, Nhóm các đối tác quốc tế, bao gồm Liên Hiệp Châu Âu, G7, Na Uy và Đan Mạch, đã ký JETP (Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng) với Việt Nam. Việt Nam là nước thứ ba (cùng với Nam Phi và Indonesia) được hưởng lợi từ quan hệ đối tác này. Tại sao Việt Nam được chọn ? Xin ông giải thích ý nghĩa và mục tiêu của thỏa thuận này ?Đại sứ Julien Guerrier : Vâng, Việt Nam là một quốc gia rất đặc biệt và đó là lý do vì sao chúng tôi chọn Việt Nam, bởi vì tăng trưởng kinh tế ở đây cực kỳ nhanh và cao, nhu cầu năng lượng tăng trung bình gần 7% mỗi năm trong 10 năm qua và sản lượng điện sẽ phải tăng gấp đôi từ nay đến năm 2030 để duy trì tốc độ tăng trưởng hiện tại. Nhưng vì than vẫn được sử dụng rất nhiều ở trong nước, đến năm 2024 vẫn chiếm đến 50% cơ cấu năng lượng. Lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính bình quân đầu người đã tăng gần sáu lần trong hai thập niên qua. Chính vì thế chúng tôi muốn hợp tác với Việt Nam, quốc gia nhận thức được về những tác động môi trường và sức khỏe của lộ trình này và đã cam kết đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Tháng 12/2022, Việt Nam đã ký một tuyên bố chính trị với nhóm IPG - Nhóm đối tác quốc tế - như chị đề cập, bao gồm các nước G7, Đan Mạch và Na Uy, do Liên Hiệp Châu Âu và Vương quốc Anh đồng lãnh đạo, nhằm hỗ trợ mục tiêu đầy tham vọng này. Điều chúng tôi muốn cố gắng thực hiện với JETP là giúp Việt Nam đạt được mục tiêu trung hòa về cacbon vào năm 2050, bằng cách đẩy nhanh và hạn chế mức đỉnh phát thải khí nhà kính từ ngành điện từ nay đến năm 2030, hạn chế công suất lắp đặt các nhà máy điện than ở mức 30 gigawatt từ nay đến năm 2030 và tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu năng lượng lên 47% vào năm 2030.
Đọc thêmViệt Nam kêu gọi doanh nghiệp giảm tiêu thụ năng lượng
Và để giúp chính phủ Việt Nam thực hiện được điều đó, chúng tôi sẽ hỗ trợ với khoản tài trợ ban đầu là 15 tỷ euro, một nửa trong số đó là nguồn tài trợ của khu vực công, từ các nhà tài trợ và một nửa là nguồn tài trợ của khu vực tư nhân được tạo điều kiện bởi liên minh các ngân hàng chống biến đổi khí hậu Glasgow Financial Alliance for Net Zero (GFANZ).
RFI : Nhiều chuyên gia và cơ quan truyền thông đã đưa tin rằng có rất ít tiến triển đạt được sau hai năm. Quá trình thực hiện thỏa thuận này bị cản trở ở điểm nào ? Sự chậm trễ này ảnh hưởng như thế nào đến toàn bộ quá trình ? Liệu những khó khăn và trở ngại hiện tại có thể sớm được giải quyết không ?Đại sứ Julien Guerrier : Tuyên bố chính trị mà tôi đã đề cập ở trên được ký vào tháng 12/2022, cho nên có tương đối ít thời gian để đạt được nhiều tiến bộ. Và quá trình chuyển đổi năng lượng là điều khó khăn ở Việt Nam, cũng như ở mọi quốc gia khác, bao gồm cả Pháp và Liên Hiệp Châu Âu, vì có nhiều thách thức lớn cần phải giải quyết.
Không phải chỉ xây dựng các nhà máy điện mới và tăng sản lượng năng lượng tái tạo là xong mà còn là xem xét lại cơ sở hạ tầng năng lượng hiện tại, vốn được xây dựng phục vụ nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và khí đốt. Điện gió và điện mặt trời phải có khả năng kết nối với cơ sở hạ tầng năng lượng này, vốn phải được thiết kế lại hoàn toàn, từ hệ thống sản xuất đến truyền tải và tích trữ điện. Đó là những khoản đầu tư lớn, tốn kém và mất thời gian. Và đó là lý do tại sao tiến độ còn bị tương đối hạn chế. Nhưng như đã đề cập trước đó, Indonesia và Nam Phi cũng đã ký JETP. Nước thứ ba là Việt Nam và hiện nay, Việt Nam đang tiến nhanh hơn cả hai nước kia.
Đọc thêmBỏ điện than để thực hiện cam kết khí hậu: Thách thức lớn đối với Việt Nam
Để vượt qua những thách thức tôi đã đề cập, cần phải hợp tác ở mọi cấp độ của chính quyền Việt Nam, các doanh nghiệp và cá nhân. Và cần phải thực hiện những khoản đầu tư đáng kể, thiết thực, và tất cả các đối tác này cần phải cam kết lâu dài. Đây là những gì chúng tôi đang thực hiện bằng cách xây dựng kế hoạch triển khai đã được Việt Nam thông qua vào cuối năm 2023.
Chúng ta thấy rằng Việt Nam đang tổ chức với việc thủ tướng đã bổ nhiệm bộ trưởng Công Thương làm người phụ trách JETP vào tháng 10/2024, và kể từ đó, một số cơ cấu đã được đưa vào hoạt động để tham khảo ý kiến của các đối tác khác nhau, phối hợp các chuyên môn cần thiết và lập danh sách các dự án mà chúng tôi sẽ tài trợ thông qua JETP - những dự án sẽ cho phép chúng tôi đạt được các mục tiêu đã đề ra : đạt đỉnh sử dụng than vào năm 2030 và tăng năng lượng tái tạo lên tới 47% trong cơ cấu năng lượng vào năm 2030.
Vì vậy, chúng tôi tin rằng tiến độ tuy chậm nhưng vẫn đạt được và chúng tôi sẽ có những dự án cụ thể được triển khai trong tương lai gần.
RFI : Để giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu đề ra, các dự án trong JETP với Việt Nam có được nhóm đối tác quốc tế hỗ trợ không ? Và tiến triển của dự án được đánh như thế nào ?Đại sứ Julien Guerrier : Có, tất cả các dự án thuộc JETP đều được hưởng sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Nhóm các đối tác quốc tế (IPG) và liên minh các ngân hàng chống biến đổi khí hậu GFANZ cũng tham gia vào JETP mà tôi đã đề cập. Hiện tại, chúng tôi đang nghiên cứu về danh sách 9 dự án được các nhà tài trợ đề xuất. Về phần mình, Việt Nam đang xây dựng danh mục 35 dự án để sớm trình lên Nhóm các đối tác quốc tế và ngân hàng tư nhân. Và để được hưởng sự hỗ trợ tài chính từ các nhà tài trợ quốc tế, mỗi dự án phải được nghiên cứu và đánh giá trong suốt vòng đời của dự án theo các chặng thời gian đều đặn, với sự hợp tác của thành viên tài trợ sẽ hỗ trợ về mặt tài chính và các bên liên quan. Vì vậy, mỗi dự án riêng biệt đều khác nhau và liên quan đến nhiều bên liên quan khác nhau, nhưng trong mọi trường hợp, đều có hoạt động giám sát và đánh giá.
RFI : Hoa Kỳ, một trong những đối tác của Việt Nam trong JETP, đã rút khỏi nhiều chương trình về khí hậu. Quyết định của Mỹ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến thỏa thuận đối tác đã ký với Việt Nam cũng như nỗ lực của các nước ký kết còn lại trong Nhóm đối tác quốc tế ?Đại sứ Julien Guerrier : Đúng vậy, đáng tiếc là Hoa Kỳ đang rút khỏi nhiều chương trình về khí hậu. Trong khuôn khổ JETP với Việt Nam, khoản đóng góp công của Hoa Kỳ là khoảng một tỷ euro, chiếm chừng 7% tổng cam kết thông qua sự kết hợp giữa tài chính và hỗ trợ kỹ thuật. Vì vậy, 7% không phải là con số không đáng kể. Nhưng điều này cũng không có khả năng gây nguy hiểm cho sự thành công của JETP.
Đọc thêmPháp triển khai dự án hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu tại 15 tỉnh Việt Nam
Liên Hiệp Châu Âu và Vương quốc Anh, như tôi đã nói trước đó, là hai thủ lĩnh trong Nhóm các đối tác quốc tế. Cùng với Anh Quốc, chúng tôi hoàn toàn cam kết hỗ trợ Việt Nam đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch và đạt được mục tiêu trung hòa về khí thải vào năm 2050. Vì vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục. Và sức mạnh của quan hệ đối tác chính trị, tài chính và kỹ thuật của JETP còn nằm ở sự đa dạng của các đối tác cam kết hỗ trợ quá trình chuyển đổi công bằng tại Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng huy động số tiền tài trợ đã được lên kế hoạch, các khoản tài trợ còn cần thực hiện trong khuôn khổ kế hoạch thực hiện mà tôi đã đề cập trước đó - kế hoạch huy động nguồn lực. Và chúng tôi cũng nhận thức rằng về phía khu vực tư nhân, các nhà đầu tư đang rất nỗ lực vì có rất nhiều cơ hội lớn cho sản xuất năng lượng tái tạo ở Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi vẫn quyết tâm hợp tác với Việt Nam để JETP thành công và tôi tin tưởng rằng chúng ta có thể đạt được điều đó.
RFI : Ông đã tham gia một cuộc họp với thủ tướng và chính phủ Việt Nam vào tháng 03. Sau cuộc họp này, liệu có hy vọng rằng dự án, cũng như đầu tư của châu Âu sẽ được khởi động lại nhanh hơn trong tương lai không ?Đại sứ Julien Guerrier : Có, chắc chắn là có. Ngày 02/03, thủ tướng Việt Nam đã gặp gỡ đại diện các công ty châu Âu có trụ sở tại Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng. Các công ty châu Âu đã giải thích các biện pháp và cải cách quy định là điều cần thiết để thu hút đầu tư vào năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các dạng năng lượng tái tạo khác. Thủ tướng đã lắng nghe, các bộ trưởng cũng có mặt. Các chỉ dẫn rõ ràng đã được đưa ra nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư của châu Âu nói chung và trong lĩnh vực năng lượng tái tạo nói riêng. Vì vậy, chúng tôi hy vọng rằng với sự lãnh đạo như vậy ở cấp cao nhất của nhà nước, chúng ta sẽ thấy những tiến bộ nhanh chóng trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam và sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư châu Âu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn đại sứ Liên Hiệp Châu Âu Julien Guerrier tại Việt Nam.
(1) Thông cáo báo chí của Liên Hiệp Châu Âu, ngày 14/12/2022.
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam 30/04/2025, Hà Nội đã tổ chức một cuộc diễu binh rầm rộ tại Thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt, lần đầu tiên đã mời quân đội Trung Quốc tham gia cuộc diễu binh. Trước đó, vào giữa tháng 4, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến thăm Việt Nam và đã được tiếp đón rất trọng thể.
Trong chuyến đi này, ông Tập Cận Bình đã kêu gọi Việt Nam hãy cùng với Trung Quốc "chống lại hành động hù dọa", ám chỉ Hoa Kỳ. Những sự kiện nói trên diễn ra đúng vào lúc căng thẳng thương mại Mỹ-Trung lên đến cao độ và Việt Nam đang đàm phán với Hoa Kỳ với hy vọng được giảm mức thuế "đối ứng" rất cao, lên đến 46%, mà tổng thống Donald Trump công bố ngày 02/04.
Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung hiện tạm thời lắng xuống sau khi hai nước đạt được thỏa thuận về thuế quan trong cuộc gặp tại Genève hai ngày 10 và 11/05/2025, cụ thể là trong thời gian 90 ngày sẽ giảm mức thuế đối ứng xuống còn 30% ( đối với hàng Trung Quốc ) và 10% ( đối với hàng Mỹ ). Theo nhận định của hãng tin Reuters ngày 13/05, thỏa thuận thuế quan Mỹ - Trung làm gia tăng áp lực đối với những nước như Việt Nam, nơi cũng thu hút các nhà sản xuất Trung Quốc kể từ khi Trump áp thuế trong nhiệm kỳ đầu của ông. Như vậy là Việt Nam sẽ buộc phải cố gắng đạt được một thỏa thuận với Mỹ tốt hơn thỏa thuận Mỹ-Trung ở Genève.
Vào lúc Việt Nam đang đàm phán với Mỹ thì Bắc Kinh lại cảnh cáo là các nước không nên đạt được một thỏa thuận thương mại nào "bất lợi" cho Trung Quốc, và nếu xẩy ra trường hợp này, Trung Quốc sẽ thi hành các biện pháp trả đũa kinh tế. Lời đe dọa này có liên hệ trực tiếp với Việt Nam, vì Việt Nam vẫn bị Hoa Kỳ xem là nơi sản xuất hàng hóa cho Trung Quốc để xuất sang thị trường Mỹ mà không bị đánh thuế nặng.
Trong một bài viết đăng ngày 16/05/2025 trên trang mạng của Tổ chức Châu Á - Thái Bình Dương Canada (APF Canada), nhà nghiên cứu Sasha Lee cũng lưu ý "những nhượng bộ thương mại của Việt Nam (giám sát chặt chẽ hơn nguồn gốc xuất xứ hàng hóa được sử dụng trong sản xuất, khuyến khích mua thêm hàng giá trị cao của Mỹ...) có thể giúp xoa dịu Hoa Kỳ, nhưng có nguy cơ làm mất ổn định mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Bất kỳ sự thỏa hiệp kinh tế đáng kể nào đối với Hoa Kỳ đều có thể bị Trung Quốc trả đũa."
Bà Sasha Lee nhấn mạnh "Quan trọng hơn, do chuỗi cung ứng của Việt Nam liên kết quá chặt chẽ với Trung Quốc, phản ứng kinh tế từ Bắc Kinh, chẳng hạn như tăng thuế đối với hàng hóa Việt Nam hoặc giảm đầu tư của Trung Quốc, có thể làm gián đoạn đáng kể các ngành công nghiệp của Việt Nam. Do đó, Việt Nam đang đi trên dây, tìm cách khẳng định tầm quan trọng của mình như một trung tâm sản xuất thay thế cho Hoa Kỳ trong khi cẩn thận tránh các hành động bị xem là liên kết kinh tế hoặc chính trị với Washington."
Cuộc chiến thuế quan của Mỹ tác động như thế nào đến quan hệ Việt-Trung? RFI Việt ngữ phỏng vấn tiến sĩ Vũ Xuân Khang, hiện là học giả thỉnh giảng (visiting scholar) về quan hệ quốc tế tại đại học Boston College, Hoa Kỳ.
RFI: Việt Nam lần đầu tiên đã cho quân đội Trung Quốc tham gia diễu binh ngày 30/04/2025 đúng vào lúc căng thẳng thương mại với Mỹ đang lên đến cao độ. Cộng thêm với việc chủ tịch Tập Cận Bình đã được đón tiếp một cách đặc biệt trọng thể, việc quân đội Trung Quốc tham gia diễu binh có phải là một thắng lợi có tính chất biểu tượng của Bắc Kinh trong cuộc tranh giành ảnh hưởng với Hoa Kỳ để thu phục Việt Nam?
Vũ Xuân Khang: Việt Nam kể khi từ bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1991 đã luôn đặt Trung Quốc làm đối tác quan trọng nhất về cả an ninh, chính trị, và kinh tế. Điều này có nguyên do từ việc Việt Nam đã bị Liên Xô bỏ rơi và phải giải quyết vấn đề Cam Bốt, cũng như xung đột biên giới Việt-Trung trên thế yếu với Trung Quốc. Việt Nam hiểu rằng họ cần tránh tái diễn một cuộc xung đột với Trung Quốc, nên kể từ khi bình thường hóa quan hệ, Việt Nam đã luôn luôn từ chối tham gia liên minh hay hợp tác với một quốc gia khác để chống Trung Quốc.
Việt Nam luôn muốn tăng cường hợp tác quốc phòng với Mỹ, nhất là để hiện đại hóa năng lực của lực lượng hải quân và không quân, nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tuy vậy, Việt Nam rất muốn duy trì quan hệ hữu hảo với Trung Quốc và trong bài toán này thì Trung Quốc luôn luôn được đặt trên mối quan hệ với Hoa Kỳ, do Trung Quốc có thể làm tổn hại an ninh của Việt Nam về mọi mặt từ đất liền, hải đảo, cho đến kinh tế, lẫn chính trị.
Chính vì thế việc Việt Nam lần đầu tiên cho quân đội Trung Quốc tham gia diễu binh ngày 30/04 là một tín hiệu với Trung Quốc, đó là Việt Nam có tăng cường quan hệ với Mỹ hay với bất kỳ quốc gia nào, bản chất quan hệ Việt - Trung từ trước đến nay vẫn luôn hữu hảo và Việt Nam muốn ghi nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc trong quá khứ, cũng như hiện tại và tương lai.
Có thể là lời mời quân đội Trung Quốc tham gia diễu binh ngày 30/04 đã có từ trước khi tổng thống Mỹ Donald Trump công bố các mức thuế quan, cho nên hai sự kiện này có thể không liên quan đến nhau. Nhưng có thể nói rõ là căng thẳng thương mại Việt-Mỹ hiện nay là một điều không đáng có trong quan hệ giữa hai nước và hai bên sẽ tiếp tục đàm phán để giảm thiểu các rào cản về thuế quan.
RFI: Dầu sao thì phía Trung Quốc đã mô tả chuyến thăm vừa qua của Tập Cận Bình ở Việt Nam bằng những từ ngữ hiếm khi thấy trong thời gian gần đây, như “vừa là đồng chí vừa là anh em”, phải chăng họ muốn nhấn mạnh quan hệ giữa hai nước đã tăng thêm một nấc, trong lúc có vẻ như Hoa Kỳ đang đi bước lùi trong quan hệ với Việt Nam?
Vũ Xuân Khang: Thật ra quan hệ Việt Nam - Trung Quốc kể từ 2023 mặc dù tên gọi vẫn là Đối tác chiến lược toàn diện, nhưng về bản chất thì Việt Nam đã nâng quan hệ lên mức cao hơn khi chấp nhận tham gia "Cộng đồng chung vận mệnh" của Trung Quốc. Gọi Việt Nam "vừa là đồng chí, vừa là anh em" cũng là một lời khẳng định, đó là Trung Quốc luôn coi trọng quan hệ giữa hai nước và Việt Nam không nên để các bất đồng khác trong quan hệ song phương làm ảnh hưởng đến đại cục, hay tạo điều kiện cho thế lực bên ngoài phá hoại quan hệ giữa hai bên.
Rõ ràng là khi chính quan hệ Mỹ-Trung căng thẳng, Trung Quốc lại càng muốn thân thiện với Việt Nam để ngăn Hoa Kỳ sử dụng Việt Nam làm bàn đạp để làm tổn hại lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Việc Hoa Kỳ với Việt Nam có căng thẳng thương mại sẽ tạo điều kiện cho Trung Quốc thuyết phục Việt Nam là không nên tin tưởng vào Hoa Kỳ.
RFI: Việt Nam đang đàm phán với Hoa Kỳ để được giảm mức thuế đối ứng, nhưng trong khi đó Trung Quốc đã cảnh cáo các nước không được ký các thỏa thuận thuế quan với Mỹ mà bất lợi cho Trung Quốc. Liệu Việt Nam có thể thoát ra được thế "gọng kìm" này?
Vũ Xuân Khang: Có thể thấy Việt Nam đúng là đang bị kẹt vào thế khó khi cả hai đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam là Mỹ và Trung Quốc đều muốn Hà Nội ngả về phe mình. Tuy nhiên, may mắn cho Việt Nam, đây mới chỉ là xung đột về thương mại, nên bản chất của cuộc cạnh tranh không tổn hại đến an ninh của Việt Nam như một cuộc xung đột quân sự Mỹ-Trung. Hiện tại, Việt Nam đang cố thoát khỏi thế gọng kìm bằng cách mở rộng thị trường xuất khẩu ra các thị trường ngoài Mỹ, như là châu Âu, hay thuyết phục Trung Quốc mua thêm nhiều hàng hóa của Việt Nam.
Tuy vậy, Mỹ là một thị trường xuất khẩu quá lớn của Việt Nam, do đó sẽ phải mất một thời gian để Việt Nam điều chỉnh thị trường xuất khẩu. Rõ ràng với khối lượng trao đổi hàng hóa rất lớn với Mỹ như vậy, trong ngắn hạn, Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi chính sách thuế quan của Mỹ chưa rõ ràng, nhưng về bản chất, Việt Nam sẽ tiếp tục điều chỉnh chính sách thương mại tuân theo chính sách ngoại giao đa phương hóa đa dạng hóa, để tránh làm mất lòng cả Mỹ và Trung Quốc.
RFI: Nếu tổng thống Trump duy trì chính sách thuế quan bất lợi cho Việt Nam như vậy, về lâu dài liệu có nguy cơ là Việt Nam sẽ phụ thuộc Trung Quốc nhiều hơn về mặt kinh tế và như vậy sẽ dần dần lọt sâu vào quỹ đạo của Bắc Kinh?
Vũ Xuân Khang: Thực ra Việt Nam đã nằm trong quỹ đạo của Bắc Kinh kể từ năm 1991. Đây không phải là một sự lựa chọn chủ động của Việt Nam, mà là do chính sách củaTrung Quốc sử dụng áp lực quân sự và kinh tế ép Việt Nam phải tôn trọng vị thế của Trung Quốc, khi Việt Nam trong giai đoạn 1970-1980 dùng liên minh với Liên Xô để khẳng định vị thế của mình và làm phật lòng Trung Quốc. Có thể hiểu đơn giản là Việt Nam đang quay trở lại một quỹ đạo mà từ ngàn xưa đến nay các hoàng đế Việt Nam đã phải tuân thủ: sau khi chiến thắng các cuộc xâm lược từ phương Bắc, họ đều phải triều cống và thuần phục Bắc Kinh nhằm tránh các cuộc chiến tranh không cần thiết với láng giềng phương Bắc.
Trong hoàn cảnh hiện nay, Việt Nam chỉ có thể phát triển hòa bình ổn định khi quan hệ Việt-Trung ổn định. Tổng thống Mỹ duy trì chính sách thuế quan bất lợi cho Việt Nam sẽ là một bước lùi trong quan hệ Việt-Mỹ, và một sự phát triển rất có lợi cho Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ cố gắng giữ một nền ngoại giao độc lập, tự chủ, luôn mong muốn tìm kiếm các đối tác kinh tế mới, hay mở rộng quan hệ kinh tế với các đối tác hiện tại, bao gồm cả Trung Quốc và Mỹ, để làm giảm tổn thất đến phát triển kinh tế. Cần phải nói lại là mặc dù nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc,Việt Nam có một lợi ích kinh tế rất lớn khi duy trì quan hệ hữu hảo với Hoa Kỳ, nhất là trong trường hợp Việt Nam cần hiện đại hóa quân đội để bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình.
Ngày 07/05/2025, Việt Nam và Mỹ chính thức tiến hành phiên đàm phán đầu tiên về mức thuế 46% do tổng thống Trump áp đặt. Vừa đàm phán với thị trường lớn nhất, Hà Nội vừa khẩn trương tìm cách thúc đẩy xuất khẩu sang 17 thị trường đã ký các hiệp định thương mại tự do, mở rộng thêm đối tác, trong đó có Brazil.
Cả hai nước muốn giảm phụ thuộc quá nhiều vào một đối tác : Đối với Brazil là Trung Quốc và với Việt Nam là Mỹ, đồng thời hỗ trợ thâm nhập thị trường khu vực của nhau ASEAN và Mercosur.
Mở rộng thị trường với BrazilViệt Nam và Brazil ký Kế hoạch hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược giai đoạn 2025-2030 sau khi nâng cấp vào tháng 11/2024. Trong chuyến công du Hà Nội ngày 28/03/2025, tổng thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva khẳng định “kế hoạch này sẽ giúp chúng tôi tiến triển trong nhiều lĩnh vực”. Cả hai nước còn nhiều tiềm năng, biên độ phát triển để thúc đẩy hợp tác trong nhiều lĩnh vực, theo giải thích của nhà báo Elcio Ramalho, trưởng ban Brazil của đài RFI :
“Điều đáng chú ý là với Kế hoạch hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược giai đoạn 2025-2030, mối quan hệ đối tác rất rộng rãi, bao gồm kinh tế, quốc phòng, nông nghiệp và an ninh lương thực, cũng như các vấn đề liên quan đến môi trường và cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Ông Lula công bố quyết định của Brazil công nhận Quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam để tạo điều kiện thuận lợi cho dòng đầu tư và phát triển thương mại.
Về thương mại, tổng thống Lula cũng đề cập đến việc mở cửa thị trường Việt Nam về thịt và khả năng Việt Nam trở thành trung tâm khu vực về chế biến thịt của Brazil, qua đó tạo điều kiện tiếp cận thị trường châu Á. Brazil có thể xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn sang Việt Nam, bao gồm máy bay Embraer - loại máy bay tầm trung. Tham vọng rất là lớn : năm 2024, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 7,7 tỷ đô la. Mục tiêu chung là đạt 15 tỷ đô la vào năm 2030”.
Theo trang web chính phủ Brazil, Việt Nam là nguồn nhập khẩu lớn nhất trong ASEAN và là nhà cung cấp lớn thứ 14 thế giới của Brazil. Brazil xuất khẩu sang Việt Nam nhiều hơn sang Bồ Đào Nha, Anh Quốc, Pháp hoặc Paraguay. Việt Nam là khách hàng lớn thứ 5 cho xuất khẩu nông sản của Brazil, ví dụ Brazil cung cấp đến 70% lượng đậu nành nhập khẩu của Việt Nam, khoảng 37% lượng thịt lợn và là nhà cung cấp lớn thứ hai cho Việt Nam về gia cầm và bông.
Tầm quan trọng của Việt Nam, cũng như sự quan tâm của chính phủ Brazil được thông tín viên RFI - ban Brazil Vivian Osvald tại Rio de Janeiro giải thích :
“Việt Nam là một quốc gia châu Á quan trọng. Đây không chỉ là một quốc gia mới nổi mà còn là thành viên của ASEAN, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, mà Brazil cũng muốn xích lại gần hơn. Có khả năng ông Lula sẽ được mời tham dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm nay.
Kim ngạch thương mại song phương với Việt Nam đạt khoảng 8 tỷ đô la mỗi năm. Con số này trông có vẻ không đáng kể, nhưng lại lớn hơn trao đổi thương mại với một số nước châu Âu. Ông Lula là tổng thống Brazil đầu tiên đến thăm Việt Nam vào năm 2007.
Mục đích của chuyến công du là tăng cường mối quan hệ. Việt Nam nhập khẩu nhiều mặt hàng từ Brazil như đậu nành, ngô và bông và xuất khẩu sang Brazil đồ điện tử, lốp xe, quần áo và giày dép”.
Đọc thêmCúp bóng đá Đông Nam Á: Cầu thủ gốc Brazil trở thành niềm hy vọng của tuyển Việt Nam
Về phía Việt Nam, theo báo chính phủ, tính lũy kế đến tháng 10/2024, Brazil có 7 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký 3,85 triệu đô la, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo, bán buôn và bán lẻ, hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ. Trong khuôn khổ chuyến công du của tổng thống Lula, hãng đóng gói thịt JBS của Brazil đã ký biên bản ghi nhớ về một thỏa thuận đầu tư trị giá 100 triệu đô la xây dựng hai nhà máy đóng gói thịt ở Việt Nam, chủ yếu là đóng gói thịt thô nhập từ Brazil phân phối cho thị trường Việt Nam và khu vực.
Ngoài bóng đá, cà phê cũng là một lĩnh vực khác được chính phủ Brazil nhấn mạnh để tăng cường quan hệ giữa hai nước, cũng là hai nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, nghiên cứu giống cây trồng có khả năng chống chịu tốt hơn với tác động của biến đổi khí hậu. Tổng thống Lula khẳng định : “Việt Nam có thể hưởng lợi từ Quỹ Rừng nhiệt đới vĩnh cửu (Fundo Florestas Tropicais para Sempre) do Brazil đề xuất và được đánh giá cao về những nỗ lực bảo vệ môi trường”.
Cổ vũ cho “không liên kết” và hợp tác “đa phương”Trang Foreign Policy ngày 28/03 nhận định vòng công du hai nước châu Á Nhật Bản và Việt Nam của tổng thống Lula cho thấy rõ hoạt động đối ngoại đa phương, không liên kết của Brazil, trái ngược với chính sách bảo hộ của tổng thống Donald Trump của Hoa Kỳ, đối tác thương mại lớn thứ hai của Brasilia. Brazil không bị áp mức thuế đối ứng cao như Việt Nam nhưng cũng chịu mức thuế chung đối với nhôm, thép nhập khẩu vào Mỹ. Elcio Ramalho, trưởng ban Brazil của RFI, nhận định :
“Cách tiếp cận đa dạng hóa thị trường này đến đúng lúc Mỹ áp dụng mức thuế mới là 25% đối với thép và nhôm và 10% đối với tất cả các sản phẩm khác. Brazil, là nhà cung cấp lớn thứ hai cho Hoa Kỳ, đang tìm cách giảm sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ song song với việc tiếp tục đàm phán với Washington để tìm giải pháp cho các mức thuế bị áp đặt. Ví dụ, tại Tokyo, tổng thống Lula tuyên bố ông sẽ đi đầu để giúp thúc đẩy hiệp định thương mại tự do giữa Nhật Bản và khối Mercosur, khối bao gồm Brazil, Argentina, Paraguay và Uruguay”.
Đọc thêmBrazil trở thành quốc gia BRICS thứ hai không tham gia dự án BRI của Trung Quốc
Ngoài ra, giống như Việt Nam, Brazil cũng bị phụ thuộc quá nhiều vào đối tác Trung Quốc trong những năm gần đây và có thể đẩy Brazil vào thế nguy hiểm, dễ bị tác động hơn trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung. Do đó, Brazil tự vệ bằng cách phát triển quan hệ với nhiều nước châu Á khác, theo giải thích của nhà báo Elcio Ramalho :
“Chuyến đi này rất quan trọng vì Brazil đang tìm kiếm đối tác thay thế để đối phó với chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ. Đáng chú ý là tổng thống Lula đi cùng với một phái đoàn lớn các chính trị gia, chủ tịch Hạ viện và Thượng viện, cũng như các doanh nhân và giám đốc công ty.
Việc lựa chọn Nhật Bản và Việt Nam được giải thích bởi tiềm năng thương mại của hai nước và cũng chứng minh tầm quan trọng mà Brazil dành cho khu vực châu Á và để tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của Brazil. Đối với Nhật Bản, việc mở cửa thị trường thịt bò Brazil đang bị thách thức”.
Tiếp cận thị trường khu vực của nhau thông qua đối tácTại Hà Nội, tổng thống Brazil khẳng định mong muốn làm cầu nối đưa Việt Nam đến khối Mercosur và Nam Mỹ và cũng coi Việt Nam là cầu nối giữa Brazil và thị trường ASEAN với hơn 600 triệu dân. Theo ông Lula, Mỹ latinh và ASEAN là hai khu vực năng động, góp phần hình thành trật tự thế giới đa cực. GDP của thị trường chung Nam Mỹ Mercosur và ASEAN lần lượt đạt khoảng 2.800 tỷ đô la và 3.800 tỷ đô la, cho thấy tầm quan trọng của hai khu vực trên trường quốc tế.
Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính cũng đề nghị chính phủ Brazil ủng hộ, thúc đẩy sớm khởi động đàm phán FTA giữa Việt Nam và Mercosur. Khối Thị trường Chung Nam Mỹ - Mercosur (thành lập ngày 26/03/1991) hiện có 4 nước thành viên thường trực Achentina, Brazil, Paraguay và Uruguay sau khi Venezuela bị đình chỉ tư cách thành viên năm 2017. Các nước Colombia, Chilê, Pêru, Bolivia và Ecuador, Guyana và Suriname có tư cách thành viên liên kết.
Liệu Hà Nội có thể dựa vào Brazil để chinh phục các thị trường xuất khẩu mới ? Elcio Ramalho, trưởng ban Brazil của đài RFI, nhận định : “Là nước giữ chủ tịch Mercosur từ tháng 07/2025, Brazil sẽ nỗ lực hướng tới một thỏa thuận cân bằng với Việt Nam. Hơn nữa, Brazil đã mời Việt Nam tham dự hội nghị thượng đỉnh BRICS vào tháng 7 tại Rio de Janeiro và COP30 tại Belém, cho thấy mong muốn đưa Việt Nam vào các diễn đàn đa phương này nhiều hơn nữa và điều này có thể mở ra những cơ hội xuất khẩu mới cho Hà Nội”.
Đọc thêmTại sao Việt Nam không phản hồi lời mời trở thành "quốc gia đối tác" của BRICS ?
Bài học từ mức thuế 46% do tổng thống Mỹ Donald Trump đơn phương áp đặt buộc Việt Nam cơ cấu lại sản xuất, thúc đẩy tiêu dùng… và tránh “không bị phụ thuộc vào bất cứ đối tác nào” bằng cách thúc đẩy mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu thông qua các hiệp định thương mại tự do (FTA), được thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh là “cánh cửa quan trọng kết nối Việt Nam với thế giới”.
Việt Nam hiện có 17 FTA, trong đó có nhiều hiệp định với các khu vực như với Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Liên Hiệp Châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RECEP)… và đang đàm phán hai FTA mới : EFTA (gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein) và ASEAN-Canada. Theo thủ tướng Việt Nam, các FTA đã mang lại hiệu quả, năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 800 tỷ đô la.
Song song với những hiệp định thương mại, Việt Nam không ngừng thắt chặt hợp tác thương mại với các nước đối tác để giữ vững mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm 2025. Điều này được thể hiện qua số chuyến công du nước ngoài của các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng như những chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam như Nga, Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nhật Bản… Tổng thống Pháp Emmanuel Macron dự kiến đến thăm Việt Nam vào cuối tháng 05.
Nguyên là đại sứ Pháp tại Việt Nam từ 1989 đến 1993, ông Claude Blanchemaison vừa cho ra mắt độc giả ở Pháp một cuốn sách gần như là hồi ký của một nhà ngoại giao. Tác giả đặt tựa cho quyển sách là “Fragments d’un parcours aventureux” ( tạm dịch là “Những phân đoạn của một hành trình kỳ thú” ).
Ngoài Việt Nam, ông Blanchemaison đã từng là đại sứ ở các nước Ấn Độ, Nga, Tadjikistan và Tây Ban Nha và cũng đã từng giữ nhiều chức vụ cao cấp trong bộ Ngoại Giao Pháp. Hiện là một chuyên gia về châu Âu và châu Á, ông vẫn thường xuyên bình luận về thời sự quốc tế trên các kênh truyền hình và truyền thanh của Pháp. Cuốn sách của ông “Sống với Putin” đã nhận được giải Jacques Fouchier của Viện Hàn lâm Pháp năm 2020.
Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ, cựu đại sứ Blanchemaison kể lại, vào ngày 24/02/2022 (đúng vào ngày Putin xua quân xâm lăng Ukraina !), khi đang ở một nhà hàng ở Paris ông đã bước hụt và bị ngã, vỡ cả hai đầu gối, nên phải được phẫu thuật và phải nằm viện một thời gian dài do chấn thương đầu gối khá nghiêm trọng. Chính trong thời gian đó mà Claude Blanchemaison nảy ra ý định viết một cuốn sách kể lại đời mình từ thuở thiếu niên cho đến ngày nay, nhưng phần lớn tác phẩm này được dành cho sự nghiệp rất dài của một nhà ngoại giao kỳ cựu, mà một trong những chặng đường mà ông đã đi qua là Việt Nam:
Rồi một ngày đầu năm 1989, tôi được thông báo: "Họ đang suy tính bổ nhiệm ông làm đại sứ tại Việt Nam". Một khả năng khá là chắc chắn và tôi thậm chí còn được mời tham gia một phái đoàn của bộ trưởng Nông Nghiệp Pháp đến thăm Việt Nam vào tháng 2/1989. Thế là tôi đã đến đó cùng với ông và đã khám phá Việt Nam với những cảnh quan tuyệt đẹp. Tháp tùng bộ trưởng Nông Nghiệp Henri Nallet, chúng tôi đã đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi chúng tôi gặp các giám đốc của các viện nông học đã từng du học ở Pháp và về cơ bản đã duy trì được mạng lưới hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, hợp tác với các kỹ sư nông nghiệp Việt Nam và Pháp. Đây gần như là lĩnh vực duy nhất thực sự có sự hợp tác, ngoài lĩnh vực ngôn ngữ, nghĩa là giảng dạy tiếng Pháp và duy trì đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp. Tôi nhận thấy rằng người Việt Nam luôn có thông tin đầy đủ: Một trong những phiên dịch viên nói với tôi: “ Có tin đồn rằng ngài sẽ đến Việt Nam với tư cách là đại sứ, vậy khi nào ngài sẽ đến?”
Vị đại sứ trẻ Claude Blanchemaison đã nhậm chức đại sứ Pháp tại Việt Nam năm 1989, vào một thời điểm rất đặc biệt: Việt Nam vẫn còn bị Mỹ cấm vận, nhưng bắt đầu mở cửa với thế giới và cải cách kinh tế, trong khi đó cuộc chiến ở Cam Bốt vẫn chưa kết thúc hoàn toàn. Blanchemaison kể lại những ngày đầu tiên ông đại diện cho nước Pháp ở Việt Nam:
Đối với tôi, đó quả là một thách thức, vì chỉ thị mà tôi nhận được từ tổng thống và ngoại trưởng là nối lại quan hệ với Việt Nam, nối lại hợp tác bất cứ khi nào có thể và giúp đỡ Việt Nam. Vào thời điểm đó, Việt Nam còn nghèo đói sau hơn 30 năm chiến tranh với Pháp, với Mỹ và sau đó Việt Nam đánh đuổi Khmer Đỏ ra khỏi Cam Bốt, khiến Trung Quốc tức giận và đã đánh sang miền bắc Việt Nam.
Và như ông có nói, lệnh cấm vận của Mỹ rất nghiêm ngặt và thực tế là tình trạng kinh tế của đất nước rất khó khăn. Khi tôi đến thì Việt Nam đã quyết định thi hành chính sách Đổi Mới, tức là cải cách kinh tế. hơi giống với những gì Trung Quốc đã và đang là từ trước đó một thời gian, đó là chuyển từ nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường mang màu sắc Việt Nam.
Nhưng vấn đề là chưa có một khuôn khổ pháp lý. Chỉ có quyết tâm chuyển sang nền kinh tế thị trường không thì chưa đủ, mà cần có những luật lệ, quy định, thể chế phù hợp với nền kinh tế thị trường. Và đó là nhiệm vụ đầu tiên của tôi. Phía Việt Nam hỏi tôi liệu có thể tìm được người trợ giúp họ, tư vấn cho họ về việc soạn thảo bộ Luật Thương mại không?
Thật tình cờ là khi đó có một luật gia người Pháp rất nổi tiếng, là một trong những chánh án Tòa Phúc thẩm Paris, ông Pierre Bizard, sinh ra tại Việt Nam. Cha ông làm việc trong chính quyền Pháp và từng công tác ở Việt Nam. Ông Pierre Bizard đã tình nguyện đến Việt Nam rất thường xuyên, trong các chuyến đi 8 ngày hoặc 15 ngày để làm việc với nhóm của bộ trưởng Tư Pháp Việt Nam về bộ Luật Thương mại Việt Nam, vì ưu tiên là phải có khuôn khổ pháp lý để chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Hơn nữa, khi đó bộ Tài chính Pháp cũng có một cơ quan hợp tác với nước ngoài, đứng đầu là một thanh tra tài chính rất nổi tiếng vào thời điểm đó, ông Jacques de Chalendar. Ông de Chalendar nói: "Chúng ta có thể huy động chuyên môn của các công chức, phó giám đốc, giám đốc của chúng ta tại bộ Tài Chính". Và ông đã tổ chức hợp tác với bộ Tài Chính Việt Nam để Việt Nam có một kho bạc thực sự và một tổng cục thuế thực sự. Có nghĩa là, giống như bất kỳ Nhà nước hiện đại nào, thuế phải được thu theo đúng luật, theo các quy định pháp lý, và tiền thuế được đưa về trung ương, tức là về Hà Nội, về bộ Tài Chính, rồi sau đó việc phân bổ ngân sách phải thực hiện dựa trên ngân sách do Quốc Hội biểu quyết.
Trong hệ thống trước đó ở Việt Nam, lãnh đạo các vùng có thể giữ lại một phần tiền thuế để phục vụ nhu cầu của địa phương và gửi phần còn lại về Hà Nội. Vì vậy, cần phải cải cách toàn diện và cơ bản. Các quan chức Việt Nam và Pháp đã hợp tác để thiết lập hệ thống giúp hình thành một nền kinh tế thị trường thay thế cho nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa kiểu Liên Xô. Chúng tôi thực sự đã mất khá nhiều thời gian.”
Trong cuốn sách, ông Blanchemaison có kể lại chuyện tướng Võ Nguyên Giáp đã bất ngờ đến dự lễ kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp, được tổ chức tại đại sứ quán Pháp ngày 14/07/1989. Cho tới lúc đó, tướng Giáp chưa bao giờ đến đại sứ quán Pháp và đối với đại sứ Blanchemaison, sự tham dự của vị tướng này một dấu hiệu của sự hòa giải, mà sứ mệnh của ông Blanchemaison cũng chính là mang lại sự hòa giải và xây dựng lòng tin giữa người Việt Nam và người Pháp. Tiến trình hòa giải giữa hai nước còn được đánh dấu bằng chuyến thăm lịch sử của tổng thống François Mitterrand 4 năm sau đó, năm 1993:
“Chưa từng có chuyến thăm cấp Nhà nước của một tổng thống phương Tây tới Hà Nội và cũng chưa từng có một chuyến thăm của một tổng thống Pháp đến Việt Nam. Chuyến đi này thực sự đánh dấu kết quả của một quá trình hòa giải. Tổng thống Mitterrand cũng đã gặp tướng Giáp. Ông nhất quyết muốn đến Điện Biên Phủ để được Pierre Schoendorfer, một nhà làm phim trong quân đội ở Điện Biên Phủ, giải thích cho ông về trận chiến, do Schoendorfer hiểu rõ trận chiến, thậm chí sau đó đã bị bắt làm tù binh tại đây. Mọi chuyện diễn ra rất tốt đẹp và đó là biểu hiện to lớn của hòa giải ”
Ngay cả sau khi hết nhiệm kỳ đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Blanchemaison tiếp tục giữ liên lạc với Việt Nam thông qua những hoạt động khác:
“Sau đó tôi trở về Paris, vì chúng tôi phải luân phiên đảm nhiệm các vị trí ở nước ngoài và ở Paris. Rồi trở thành tôi trở thành vụ trưởng vụ Châu Á và Châu Đại Dương và vì thế, tôi luôn để mắt đến Việt Nam và tôi đã tiếp tất cả những vị khách quan trọng của Việt Nam đến Paris, những người mà tôi đã quen biết khi ở Việt Nam. Chúng tôi đã cùng nhau ăn trưa, trò chuyện và tôi cũng có cơ hội quay lại Việt Nam vào thời điểm đó. Sau đó, vẫn hướng châu Á, tôi đi nhận nhiệm vụ ở Ấn Độ. Sau khi rời Ấn Độ, tôi đã đi làm việc ở Nga, vào thời điểm Putin lên nắm quyền, tức là năm 2000. Sau nước Nga, tôi trở về Paris, được giao đặc trách mọi vấn đề hợp tác của Pháp với các nước thứ ba và như vậy tôi có dịp trở lại Việt Nam khi Hà Nội đăng cai hội nghị thượng đỉnh ASEM, tức là thượng đỉnh giữa châu Âu và châu Á.
Do tổng thống Jacques Chirac phải tiếp tục chuyến công du của ông nên giữa chừng phải rời cuộc họp. Ông nói với tôi: "Ông thay tôi nhé, vì họ biết ông rất rõ, ông giữ dùm ghế đại diện cho nước Pháp trong nửa sau của cuộc họp. Thật là thú vị, bởi vì tôi biết rất rõ thủ tướng Việt Nam, người chủ trì hội nghị. Vì vậy, chúng tôi đã trao đổi rất nhiều ý kiến và cả những chuyện đùa nữa.”
Vẫn theo dõi sát tình hình Việt Nam, Claude Blanchemaison đưa ra đánh giá của ông về tiến triển của Việt Nam kể từ thời ông làm đại sứ Pháp cho đến ngày nay, tức là trong hơn 30 năm qua:
Khi tôi đến Việt Nam vào năm 89, lúc đầu chúng tôi đã phải cử những người trẻ trong đại sứ quán đi mua các thứ cần thiết ở Bangkok. Nhưng tình hình đã diễn biến rất nhanh chóng, vì Việt Nam đã mở cửa rất nhanh và hiện nay rõ ràng Việt Nam là một trong những con hổ châu Á, đã phát triển toàn diện và hội nhập hoàn toàn vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), điều mà chúng tôi đã thúc đẩy vào lúc đó.
Ngoài ra, Việt Nam cũng như các nước khác trong khu vực đều cho rằng liên minh quân sự là một điều hơi nguy hiểm và mong muốn có quan hệ với tất cả các nước muốn có quan hệ tốt với mình và do đó hợp tác chiến lược với rất nhiều nước, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau tùy thuộc vào những gì quốc gia đó có thể mang lại cho Việt Nam và tùy thuộc vào những gì có thể thực hiện được trong các hợp tác hai chiều này.
Rõ ràng nhất là hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu. Khi tôi còn tại nhiệm, chúng tôi đã nhấn mạnh Việt Nam phải ký kết các hiệp định kinh tế với Liên Hiệp Châu Âu. Và hai bên đã ký hiệp định. Tôi thấy bà Ursula von der Leyen sẽ đến Việt Nam để tăng cường quan hệ và nâng quan hệ lên một nấc cao hơn. Điều này rất quan trọng, đặc biệt là vào thời điểm ông Trump đang làm đảo lộn hoàn toàn nền kinh tế thế giới. Chúng ta phải có những biện pháp phòng ngừa và thực sự những biện pháp phòng ngừa còn mang tính chiến lược trong lĩnh vực kinh tế giữa Pháp và Việt Nam, giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam.”
Kết thúc phần nói về Việt Nam trong cuốn sách của ông, cựu đại sứ Blanchemaison đặt câu hỏi: "Nước Pháp có thể phát triển được quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam trong các lãnh vực nhạy cảm công nghệ lưỡng dụng, thậm chí thuần túy quân sự?" Tác giả nhắc lại trong chuyến thăm cấp Nhà nước ở Pháp hai ngày 6 và 7/10/2024, tổng bí thư Tô Lâm ( lúc đó còn kiêm nhiệm chức chủ tịch nước ) và tổng thống Emmanuel Macron đã nâng quan hệ Pháp-Việt lên thành Đối tác chiến lược toàn diện. Ông Blanchemaison ghi nhận: "Hợp tác giữa Pháp và Việt Nam đã phát triển đều đặn trong một bầu không khí tin cậy. Chúng ta có một lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh tại một quốc gia nay có đến 100 triệu dân và có một mức tăng trưởng hàng năm hơn 7%."
Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia nhỏ khác, đặc biệt tại Đông Nam Á, bị kẹt trong cuộc chiến thương mại khốc liệt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Giới chuyên gia đều cho rằng Hà Nội đang phải khéo léo lèo lái để không làm mất lòng “sư huynh” phương Bắc nhưng cũng không được chọc giận Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất, trong khi mức thuế đối ứng 46% vẫn lủng lẳng trên đầu.
Trung Quốc là nước duy nhất không được tổng thống Mỹ Donald Trump hoãn áp thuế và hiện bị áp mức thuế 145%, thậm chí là 245% đối với một số mặt hàng. Song song với việc “quyết đấu đến cùng” với Washington, Bắc Kinh tìm cách vận động “đoàn kết” chống lại cuộc chiến thuế quan do Mỹ đơn phương áp đặt. Trung Quốc nói chuyện với Liên Hiệp Châu Âu, gặp hai đối tác Hàn Quốc và Nhật Bản. Chủ tịch Tập Cận Bình nhanh chóng công du ba nước đối tác Đông Nam Á, bắt đầu từ Việt Nam.
Trung Quốc thử độ dẻo dai của “ngoại giao cây tre” Việt NamĐây là chuyến thăm cấp Nhà nước lần thứ 5 đến Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Trả lời RFI ngày 14/04, Emmanuel Véron, nhà nghiên cứu cộng tác tại Trường Hàng hải và Viện Inalco, thành viên Viện Pháp Nghiên cứu về Đông Á (IFRAE), nhận định :
“Điều này cho thấy tầm quan trọng về kinh tế, cũng như chiến lược của Việt Nam đối với Trung Quốc. Xin nhắc lại một chút là trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, trước đó là chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc hậu thuẫn cho Việt Nam, cho Việt Cộng. Điều này cũng cho thấy rõ sự gắn kết khá mạnh mẽ giữa chế độ Cộng sản hai nước và được phát triển hơn nhờ dần dần mở cửa nền kinh tế từ 30-40 năm trở lại đây. Có thể thấy là đúng, giữa hai nước có mối liên hệ rất đặc biệt. Lần này, chủ tịch Tập Cận Bình bắt đầu vòng công du Đông Nam Á với điểm đến đầu tiên là Việt Nam để khẳng định điều này và để có được nhưng bảo đảm về mặt thuế quan, đầu tư hoặc những bảo đảm về mặt hội nhập kinh tế Trung Quốc và Việt Nam”.
Trái với một tổng thống Mỹ khó lường, chủ tịch Tập Cận Bình cố thể hiện Trung Quốc là “đối tác đáng tin cậy” và là “người bảo vệ thương mại toàn cầu”. Thái độ của ông Tập cũng được các nhà quan sát chú ý khi thăm Việt Nam, luôn tươi cười, thân thiện, “tặng quà lưu niệm trên đường đi”, có nghĩa là “các thỏa thuận thương mại mới và thắt chặt quan hệ đối tác chiến lược”, theo nhận định của nhà nghiên cứu Wen-Ti Sung, thành viên không thường trú của Trung tâm Trung Quốc toàn cầu thuộc Atlantic Council (Hội đồng Đại Tây Dương) và được trang CNN trích dẫn ngày 14/04.
Đọc thêmChủ tịch Trung Quốc kêu gọi Việt Nam hợp lực chống đòn thuế quan của Mỹ
Trung Quốc và Việt Nam ký 45 văn bản thỏa thuận hợp tác tập trung vào các lĩnh vực then chốt như kết nối hạ tầng, thương mại, chuỗi cung ứng, trí tuệ nhân tạo, nông nghiệp, phát triển nguồn lực, hàng không và đường sắt (*). Chủ tịch Tập Cận Bình hứa “thị trường lớn Trung Quốc luôn mở cửa cho Việt Nam”. Ông cũng đề cao vai trò của Việt Nam khi kêu gọi hai nước hợp tác để duy trì “sự ổn định của hệ thống thương mại tự do toàn cầu, chuỗi cung ứng, công nghiệp” và cùng phản đối “hành vi bắt nạt đơn phương”, ám chỉ đến quyết định áp thuế đối ứng của chính quyền Mỹ, trong đó Việt Nam chịu mức thuế cao 46%.
Nhìn chung, theo Wen-Ti Sung, chuyến thăm Việt Nam trong khuôn khổ vòng công du Đông Nam Á (Malaysia và Cam Bốt) của ông Tập Cận Bình có hai mục đích : Về mặt kinh tế, tìm cách đa dạng hóa dấu ấn kinh tế của Trung Quốc trên toàn thế giới ; về chính sách đối ngoại, nhằm kéo các nước lại gần Trung Quốc trong khi những nước này vẫn nín thở về mức thuế đối ứng, mới chỉ được Mỹ tạm đình chỉ 90 ngày.
Thương mại Việt Nam không thể tách rời đối tác Trung QuốcThương mại Việt Nam và Trung Quốc đã cán mốc kỷ lục mới 205 tỷ đô la trong năm 2024, trong đó khối lượng nhập khẩu của Việt Nam là 144 tỷ đô la. Việt Nam là một trong những thị trường xuất khẩu chính của Trung Quốc và Trung Quốc cũng lắp ráp nhiều mặt hàng ở Việt Nam và sau đó Việt Nam xuất khẩu với số lượng lớn sang Hoa Kỳ. Chính vì thế Việt Nam bị coi là “sân sau” của Trung Quốc và bị Mỹ áp mức thuế 46%. Nhà nghiên cứu Emmanuel Véron nhận định :
“Trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đã tăng hơn 15% trong năm 2024. Con số này cũng cho thấy lợi ích về thương mại, công nghệ và công nghiệp của Trung Quốc là sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008, chuyển chuỗi sản xuất dệt may, cũng như một số ngành công nghiệp khác sang Việt Nam hoặc một số nước ở Đông Nam Á. Nói tóm lại là có sự hội nhập kinh tế giữa hai nước. Ngoài ra, trong những năm gần đây, một phần các thị trường vững chắc, trong đó có Mỹ và Liên Hiệp Châu Âu, đã xích lại gần Việt Nam bởi vì nền kinh tế nước này đã hiệu quả hơn, các công trình hạ tầng có chất lượng tốt hơn và hoạt động hậu cần logistic cũng được củng cố. Việt Nam đã hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa từ 10 đến 15 năm nay, đặc biệt là nhờ năng lực của Trung Quốc”.
Đọc thêmChủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình công du Việt Nam kêu gọi tăng cường quan hệ thương mại song phương
Trung Quốc mang lợi ích kinh tế xoa dịu tranh chấp ở Biển ĐôngKhi công bố hàng loạt thỏa thuận hợp tác thương mại, công nghệ, phát triển xanh… chủ tịch Trung Quốc cũng cố xoa dịu những căng thẳng về tranh chấp chủ quyền giữa hai nước ở Biển Đông. Trong điểm 9 của Tuyên bố chung, Việt Nam và Trung Quốc khẳng định “hai bên trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh cần kiểm soát tốt hơn và tích cực giải quyết bất đồng trên biển, cùng duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông”. Dù vào tháng 02 trước đó, Trung Quốc tổ chức tập trận bắn đạn thật ở gần vịnh Bắc Bộ sau khi Hà Nội công bố bản đồ xác định các yêu sách lãnh thổ.
Liệu những thỏa thuận mới được ký kết có thể xóa bỏ những căng thẳng về chủ quyền, nhất là ở Biển Đông, hay không ? Nhà nghiên cứu Emmanuel Véron nhận định :
“Dù sao đó cũng là mong muốn, một trong những đòn bẩy của Bắc Kinh. Có nghĩa là nhân chuyến công du Hà Nội, chủ tịch Tập Cận Bình nhắc lại vai trò đặc biệt của Việt Nam, được Trung Quốc coi là “người em” ở Đông Nam Á, theo văn hóa Trung Quốc và phần nào có chung sự phát triển về con người. Do đó, Bắc Kinh sẽ cố kích hoạt đòn bẩy thương mại và công nghệ để xóa những căng thẳng đang có ở Biển Đông, cho dù Trung Quốc rất hung hăng trong hoạt động quân sự hóa nhiều vùng biển, đi ngược với luật pháp quốc tế”.
Động thái hòa dịu này còn diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và một số nước Đông Nam Á có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc đang có những thỏa thuận hợp tác riêng về hàng hải để đánh dấu chủ quyền, như với Philippines, sắp tới là với Indonesia.
Tránh chọc giận tổng thống Trump vì còn đàm phán thuế với MỹGiới chuyên gia cho rằng khi trải thảm đỏ đón chủ tịch Trung Quốc, Việt Nam cũng cần hành động thận trọng và tránh tỏ ra ngả về phía Bắc Kinh vì việc này có nguy cơ khiêu khích nguyên thủ Mỹ trong các cuộc đàm phán về thuế đối ứng. Và tổng thống Donald Trump đã sớm cho ý kiến ngay ngày 14/04 khi chủ tịch Tập Cận Bình đến Hà Nội :
Tôi không đổ lỗi cho Trung Quốc. Tôi không đổ lỗi cho Việt Nam. Tôi đã thấy họ gặp nhau… đó là một cuộc gặp đáng yêu. Cuộc gặp giống như đang cố gắng tìm ra câu trả lời : Làm thế nào để chúng ta có thể lừa gạt Hoa Kỳ.
Thực ra, trước khi đón chủ tịch Trung Quốc, Việt Nam đã có nhiều hành động trấn an chính quyền Mỹ : mua thêm hàng hóa Mỹ (khí hóa lỏng LNG, máy bay Boeing…), đề xuất đánh thuế 0% hàng hóa của nhau. Hà Nội khẳng định thắt chặt kiểm soát đối với một số hoạt động thương mại với Trung Quốc để bảo đảm hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ với nhãn hiệu “Sản xuất tại Việt Nam”.
Đọc thêmViệt Nam : “Bạn” hay “thù” trong chính sách đánh thuế của Trump ?
Nói tóm lại, Hà Nội đang ở thế khó. Tuy nhiên, chiến lược “ngoại giao cây tre” của Việt Nam đã phát huy hiệu quả, theo nhận định với RFI Tiếng Việt ngày 18/04 của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (Pháp) :
“Việt Nam ở trong thế rất tế nhị và trong mọi trường hợp đều đòi hỏi rất nhiều kỹ năng ngoại giao. Trên thực tế, sách lược “ngoại giao tre” đã phát huy hiệu quả rất tốt và Việt Nam đã cố gắng duy trì khoảng cách cân bằng giữa một bên là Trung Quốc và bên kia là Hoa Kỳ cùng với các đồng minh của Mỹ, ít nhất là xét về góc độ địa-chính trị.
Nhưng xét về mặt kinh tế, tình hình phức tạp hơn một chút vì nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc một phần vào dòng chảy kinh tế gắn kết Việt Nam với Trung Quốc. Một trong những chỉ trích của Washington đối với Hà Nội, và được thể hiện rõ trong việc tăng thuế hải quan liên quan đến hàng hóa Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ, liên quan đến việc Mỹ cho rằng Việt Nam là “sân sau” cho các công ty Trung Quốc để lách lệnh trừng phạt của Mỹ nhắm vào sản phẩm Trung Quốc. Nói cách khác, các công ty Trung Quốc đang chuyển sản xuất đến Việt Nam để có thể xuất khẩu sản phẩm của họ từ Việt Nam, nhờ đó được hưởng lợi từ mức thuế áp dụng cho Việt Nam.
Đọc thêmLãnh đạo Việt Nam tuyên bố sẵn sàng giảm thuế xuống 0% đối với hàng nhập từ Mỹ
Và tình hình này thực sự là khó xử lý cho Hà Nội vì Việt Nam không thể ngăn cản việc thành lập các công ty Trung Quốc do những hậu quả kinh tế từ việc này. Đồng thời, về mặt ngoại giao, Hà Nội cũng không muốn bị coi là gần gũi hoặc đại diện cho lợi ích của Bắc Kinh trước Washington.
Vì vậy, tôi nghĩ Việt Nam sẽ cố gắng đàm phán với Mỹ và cố gắng nhấn mạnh rằng họ có khả năng quản lý việc thành lập các nhà máy Trung Quốc ở Việt Nam hoặc di dời các nhà máy Trung Quốc sang lãnh thổ Việt Nam.
Chúng ta nên nhớ rằng đằng sau chuyện này còn có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa Trung Quốc và Mỹ, không chỉ đơn thuần về kinh tế, mà còn về địa-chính trị và địa-chiến lược đối với khu vực này và Mỹ hiểu rằng Washington chẳng được lợi khi đẩy những nước đang có lập trường “trung lập” hoặc “trung dung” vào vòng tay của Bắc Kinh. Cho nên đẩy Hà Nội vào vòng tay của Bắc Kinh chắc chắn sẽ là một sai lầm về mặt chiến lược.
Vì vậy, tôi nghĩ rằng sẽ có các cuộc đàm phán và hai bên sẽ tìm ra được một kiểu thỏa thuận giúp cho Hà Nội tiếp tục duy trì vị thế cân bằng giữa một bên là Trung Quốc bên kia là Hoa Kỳ”.
*******
(*) Ba dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn : (1) Lào Cao - Hà Nội - Hải Phòng, (2) Lạng Sơn - Hà Nội, (3) Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng.
Mức thuế “đối ứng” 46% đối với Việt Nam là một trong những mức thuế cao nhất mà tổng thống Mỹ Donald Trump ban hành ngày 02/04/2025. Đòn thuế quan này, trên nguyên tắc có hiệu lực từ ngày 09/04 nhưng được tạm hoãn áp dụng trong 90 ngày, có thể sẽ gây tổn hại nặng nề cho tăng trưởng của Việt Nam, vì kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào xuất khẩu, trong đó Hoa Kỳ là một trong những thị trường chính.
Theo chuyên gia Chu Thanh Tuấn, Đại học RMIT Việt Nam, trong bài viết tên trang web của đại học này ngày 04/04, "các ngành xuất khẩu chủ lực, bao gồm dệt may, điện tử, da giày, thủy sản và đồ gỗ, đều phụ thuộc nặng nề vào thị trường Mỹ. Gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam hướng đến người tiêu dùng Mỹ. Việc chính quyền Trump áp thuế cao như vậy có thể làm xói mòn lợi thế cạnh tranh về giá, dẫn đến nguy cơ bị hủy đơn hàng và buộc doanh nghiệp hoặc phải chấp nhận giảm biên lợi nhuận, hoặc phải chuyển hoạt động sản xuất sang khu vực khác".
Chuyên gia Chu Thanh Tuấn nhấn mạnh, hệ quả không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp, vì thuế quan nhắm vào hàng Việt Nam xuất đi Mỹ “có thể gây gián đoạn trên toàn bộ chuỗi cung ứng, làm tăng chi phí đầu vào và làm giảm nhu cầu trên nhiều lĩnh vực trong nước; ảnh hưởng dây chuyền tới các lĩnh vực trong nước như logistics, tài chính, đóng gói và tuân thủ quy chuẩn”.
Nhưng trả lời RFI Việt ngữ ngày 09/04/2025, ông Francesco Trần Văn Liêng, Chủ tịch kiêm sáng lập viên Công ty cổ phần Ca cao Việt Nam VINACACAO, đưa ra một nhận định khác về tác động của thuế quan Mỹ:
“Thứ nhất, thuế này không phải là thuế song phương, mà mang tính đa biên rất rõ, tức là ít nhiều cả thế giới này đều bị ảnh hưởng và cả thế giới sẽ bị đẩy lên một mặt bằng lạm phát mới. Các mức giá cả sẽ cao hơn rất nhiều. Ngay cả ở Hoa Kỳ, các mức giá từ điện tử, xe hơi, xăng dầu, thực phẩm sẽ đều tăng từ 15 đến 20%. Riêng trứng gà đã tăng 56%. Điều này tạo ra một “khung kháng thể mới” cho người tiêu dùng Mỹ, có nghĩa là việc tăng giá này sẽ làm cho họ quen dần với mức giá mới cho tất cả các mặt hàng, trong đó có hàng Việt Nam.
Thứ hai, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chỉ chiếm 35% tổng lượng xuất khẩu của quốc gia, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI chiếm tới 70%. Các mặt hàng của họ thường là điện tử, điện thoại, những mặt hàng mà người ta lắp ráp ở Việt Nam để tận dụng các ưu thế về nhân công. Còn lại thì ngành dệt may bị ảnh hưởng, vì “tạm nhập tái xuất” nhiều, tức là trị giá gia tăng không cao. Ngành bị ảnh hưởng khá nhiều đó là nông sản, hải sản, như tôm, đồ gỗ, cà phê, gạo...
Nếu nhìn tổng quát thì kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế mở. Điều này có nghĩa là những “con đại bàng” lớn, như Nike, hoặc Intel, hoặc Samsung bị “trúng tên”. Mức thuế này có thể làm chùn bước một số doanh nghiệp mà từ trước đến giờ vẫn tận hưởng ưu thế về lao động.
Còn lại các mặt hàng, chủ yếu là nông sản, thì bán theo hình thức FOB ( giá tại cửa khẩu bên nước của người bán ), tức là giá xuất khẩu. Giá xuất khẩu có thể không đổi, nhưng giá vào Hoa Kỳ thì sẽ tăng. Trách nhiệm này thuộc về nhà nhập khẩu Mỹ. Họ sẽ điều chỉnh, tái phân bố chi phí mới này để trung hòa vào chuỗi cung ứng của họ, để người Mỹ, vốn đã có sức đề kháng mới về giá cả, sẽ không bị tác động nhiều bởi mức giá mới này.
Sắp tới nền kinh tế Mỹ có thể bị suy thoái, lạm phát sẽ tăng, người Mỹ sẽ phải đối phó với rất nhiều hướng, chứ không chỉ có những mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu qua. Những nhà nhập khẩu Mỹ có thể quay lại thương lượng với người bán hàng Việt Nam. Cũng có thể là hai bên sẽ thương lượng để tìm ra một mức giá hợp lý để người xuất khẩu FOB có thể gánh một phần chi phí.
Còn về phía các doanh nghiệp Việt Nam thì rõ ràng nếu họ bán giá FOB với mức như từ trước đến nay cũng được. Có thể sức mua sẽ giảm, nhưng có những mặt hàng thì Mỹ có thể không có chọn lựa nào khác, ví dụ như cà phê của Việt Nam thì quá tốt, họ không thể chuyển qua chọn cà phê Brazil, vì nếu chọn thì họ đã chọn từ lâu rồi. Tôm của Việt Nam thì rất ngon, nhưng họ có thể chọn của Thái Lan, có điều tôm của Thái Lan thì cũng bị tăng giá.
Chính phủ đã mạnh dạn thương lượng song phương để tìm ra một con đường chung cho cả hai bên. Chính phủ cũng sẽ tiếp cận với các doanh nghiệp lớn bị ảnh hưởng trực tiếp bởi mức thuế này ( hầu hết các doanh nghiệp như Samsung, Intel, Nike, sang Việt Nam đầu tư thì tìm những thị trường như thị trường Mỹ ), để có những đối sách cần thiết, giúp họ giảm bớt chi phí của thuế 46% này." ”
Trước những tác động của mức thuế 46%, Việt Nam không thể làm gì khác hơn là “năn nỉ” Hoa Kỳ nhẹ tay một chút. Hôm thứ năm tuần trước, 10/04/2025, chính phủ Việt Nam thông báo là hai nước sẽ tiến hành đàm phán về một "thỏa thuận thương mại đối ứng". Thông báo này được đưa ra sau cuộc gặp hôm trước tại Washington giữa phó thủ tướng Hồ Đức Phớc, đặc phái viên của tổng bí thư Tô Lâm, với Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer. Ban đầu, ông Tô Lâm đề nghị Mỹ tạm hoãn áp thuế trong 45 ngày, nhưng rốt cuộc coi như sẽ có đến 90 ngày để đàm phán.
Trước đó, Hà Nội đã tuyên bố sẵn sàng đàm phán để hai bên giảm thuế nhập khẩu đối với nhau xuống còn 0%, đồng thời cam kết sẽ “tiếp tục mua thêm các mặt hàng Hoa Kỳ có thế mạnh mà Việt Nam có nhu cầu, kể cả các mặt hàng liên quan an ninh - quốc phòng”.
Nhưng không chắc là những cam kết giảm nói trên sẽ đủ để Hoa Kỳ nương tay. Chiến lược gia tiền tệ kỳ cựu Bilal Hafeez, hiện là giám đốc nghiên cứu tại Macro Hive, cho biết để đưa cán cân thương mại của Hoa Kỳ từ thâm hụt xuống mức 0, các quốc gia sẽ phải tăng cường tiền tệ, kích thích nhu cầu tiêu thụ nội địa trong nước, để họ có thể mua nhiều hàng hóa của Hoa Kỳ hơn và xuất khẩu ít hơn nhiều.
Vấn đề là Việt Nam khó có thể làm những điều đó trong một thời gian ngắn. Trên trên tờ The Economist ngày 07/04/2025, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Giang ghi nhận, theo các dữ liệu mới nhất, trong 12 tháng tính đến cuối tháng 3, Việt Nam đã chỉ nhập khẩu hàng hóa trị giá 16 tỷ đô la từ Hoa Kỳ, những hàng hóa được áp dụng mức thuế trung bình là 3%.
Tuy nhiên, theo ông Francesco Trần Văn Liêng, cân bằng lại trao đổi mậu dịch với Mỹ không phải là quá khó đối với Việt Nam :
“Nếu chỉ có thâm hụt mậu dịch thì dễ giải quyết, tại vì hiện nay dư địa về hàng hóa của Mỹ cho Việt Nam còn rất lớn, như là đậu tương, gia súc, lúa mì. Lúa mì thì trước đây mình mua của Mỹ, Canada, Úc, thậm chí của Ấn Độ, thì bây giờ mình có thể ưu tiên mua của Mỹ, giảm mua từ các nước kia, đồng thời mua thêm khí hóa lỏng. Hiện nay, ô tô cũng có thể là một mặt hàng mà người Việt Nam rất là thích, nhất là ô tô Mỹ hay ô tô sản xuất tại Mỹ. Giả sử Toyota, Mercedes hay Volvo sản xuất tại Mỹ và nếu mức thuế tiêu thụ đặc biệt giảm hay thuế nhập khẩu giảm bớt, người Việt Nam sẽ thích mua những ô tô đó. Nói chung, dư địa để cân bằng cán cân thương mại là không có gì khó.”
Nhưng vấn đề là đối với Peter Navarro, cố vấn thương mại của Trump, cho dù Hoa Kỳ và Việt Nam cùng xóa bỏ thuế quan, thì thâm hụt thương mại 120 tỷ đô la vẫn còn nguyên do những "gian lận phi thuế quan". Ông Navarro cáo buộc Việt Nam trợ cấp cho hàng xuất khẩu của mình và hoạt động như một "thuộc địa" ( colony ) sản xuất hàng hóa Trung Quốc.
Tuy vậy, theo The Economist, trong một bài viết đăng trên mạng ngày 07/04, nếu không thể sớm đạt được thỏa thuận, vẫn có thể có một số tia hy vọng cho Việt Nam. Một là các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp khó có thể rời bỏ Việt Nam ngay lập tức. Các dự án của họ có chi phí cố định cao và sẽ mất nhiều năm để di dời. Họ sẽ không bỏ những dự án đó cho đến khi có một số thông tin rõ ràng về điểm đến nào có thể tốt hơn.
Mặt khác, theo ông Francesco Trần Văn Liêng, Chủ tịch VINACACAO, Việt Nam có thể thích ứng với thuế quan mới của Hoa Kỳ, vì là một nền kinh tế "mở":
“Việt Nam đã làm từ mười mấy, hai chục năm nay, tức là Việt Nam được biết là một nền kinh tế mở, có nhiều đối tác international trade ( mậu dịch quốc tế ). Như tôi nói ở trên, 35% xuất khẩu là sang Mỹ, đúng là đủ lớn, nhưng rõ ràng không phải là tất cả xuất khẩu của Việt Nam. Chẳng hạn như với đối tác châu Âu chúng ta đã có free trade agreement FTA ( hiệp định thương mại tự do ). Đó là một đối tác thương mại rất lớn. Với nhiều nước khác như Nhật Bản và Hàn Quốc, mình cũng có FTA.
Việc cải tổ kinh tế hoặc tăng độ mở của nền kinh tế thì Việt Nam đã làm từ lâu và nay có thể làm cho nó sâu sắc hơn hoặc rộng mở hơn thôi. Bản thân các công ty Việt Nam cũng hiểu là hiện nay không nên xuất khẩu thô, mà sẽ xuất khẩu hàng thương hiệu ( brand ), bởi vì người tiêu dùng sẽ trung thành với thương hiệu, chứ không trung thành với giá cả, chẳng hạn như Mercedes đã tăng giá không biết bao nhiêu lần, nhưng người ta vẫn thích Mercedes thì người ta phải chịu như thế thôi! TV cũng vậy, nếu bạn thích một nhãn hiệu TV nào thì bạn có thể trả giá cao hơn chút xít. Vấn đề này là nằm trong tầm tay của chính phủ và doanh nghiệp.
Phần lớn các doanh nghiệp vào Việt Nam để “tạm nhập tái xuất”, tức là chỉ sử dụng các nguồn lao động rẻ hoặc là đất đai, thì tôi nghĩ là chính phủ sẽ hành động nhanh và chính xác, tức là sẽ tiếp cận các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thị trường xuất khẩu Hoa Kỳ, bởi mức thuế 46% này. Chính phủ Việt Nam sẽ tìm cách hỗ trợ họ, bằng cách giảm các chi phí đầu vào, thậm chí giảm thuế nhập khẩu hoặc là giảm giá đất cũng là một cách giảm chi phí đầu vào, hoặc là delay ( hoãn lại ), tức là chưa cần bắt trả ngay các khoản đối với các doanh nghiệp mà chịu ảnh hưởng trực tiếp, đồng hành với các doanh nghiệp để giảm cú sốc. Chính phủ ra tay giúp đỡ trong ngắn hạn thôi, trong hai năm 2025 và 2026, để chờ xem chính phủ Mỹ có vượt qua được midterm election ( bầu cử giữa kỳ ) 2026 hay không. Trong cuộc bầu cử đó, chính người Mỹ sẽ hiểu rằng cái gì vô lý thì phải dừng lại, chứ không thể mà “đơn đao phó hội”, tức là một mình nước Mỹ chống cả thế giới!”.
Ấy là chưa kể một đòn mạnh vào tăng trưởng chủ yếu dựa trên xuất khẩu của Việt Nam có thể khiến đồng tiền Việt Nam giảm giá hơn nữa. Điều này sẽ thúc đẩy khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam tại các thị trường thay thế, chẳng hạn như châu Âu. Theo chuyên gia Thang Nguyen của Oxford Economics, Ngân hàng trung ương Việt Nam thông thường vẫn quản lý đồng tiền Việt Nam sao cho giá trị của nó theo sát đồng đô la - một lựa chọn phổ biến của các nền kinh tế nhỏ hơn, phụ thuộc vào thương mại -, nhưng có lẽ họ sẽ phải để đồng tiền yếu đi để ứng phó với thuế quan của Mỹ. Nhưng trớ trêu thay, một hành động như vậy có thể khiến Việt Nam sẽ lại bị Mỹ cáo buộc là nước thao túng tiền tệ, như dưới chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu tiên!
Ngày 02/04/2025, tổng thống Donald Trump tuyên bố “giải phóng” nước Mỹ khỏi 50 năm bị cả thế giới lừa đảo. Ông cáo buộc : “Bạn của chúng ta còn tệ hơn cả kẻ thù của chúng ta”. Việt Nam được ông Trump đánh giá là “nước đàm phán tài ba” và ông “thích đất nước này” nhưng vẫn quyết định đánh thuế 46%, chỉ một nửa mức 90% mà Việt Nam đánh vào hàng Mỹ theo tính toán của Nhà Trắng.
Việt Nam nằm trong nhóm các nước bị áp mức thuế cao nhất, cùng với Trung Quốc, Cam Bốt, Lào, Indonesia, Miến Điện. Theo một số chuyên gia, được trang VnExpress trích dẫn ngày 03/04, các ngành có tỷ trọng xuất cao sang Mỹ cũng là các nhóm chịu tác động lớn từ mức thuế 46% : thủy sản, nhựa, cao su, gỗ, nội thất, giấy bột, dệt may, giày dép, máy móc, thiết bị, linh kiện, điện tử...
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và hoạt động xuất khẩu chiếm đến đến 85% GDP đất nước. Tại sao Việt Nam lại bị áp mức thuế cao 46% ? Nền kinh tế và sức cạnh tranh của Việt Nam sẽ bị tác động lớn đến mức nào ? Việt Nam có thể thuyết phục được chính quyền Trump xem xét lại mức thuế ?
RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á và các thách thức kinh tế quốc tế, tổng biên tập báo mạng Asialyst chuyên về châu Á.
RFI : Ngày 02/04/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump công bố áp dụng thuế đối ứng với 180 nước trên thế giới cùng với biểu thuế đánh vào mỗi nước. Tỷ lệ này được tính như thế nào ?Hubert Testard : Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ - USTR đã công bố một tài liệu giải thích cách họ thực hiện tính toán. Đây là một tài liệu phức tạp với nhiều phương trình nên mọi thứ không thực sự rõ ràng. Nhưng điểm nổi bật trong tài liệu này là USTR không chỉ tính đến sự chênh lệch về thuế quan giữa các nước mà còn tính đến tầm quan trọng của thương mại song phương và giá cả liên quan đến hàng nhập khẩu Mỹ. Có nghĩa là họ cũng nghiên cứu xem mức thuế quan của mỗi nước làm giảm lượng hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ bao nhiêu. Cho nên đây là phép tính khá phức tạp.
Tôi cho rằng những tính toán đó rất tùy tiện vì nó bao gồm cả những đánh giá về các biện pháp phi thuế quan mà về bản chất là rất phức tạp. Ví dụ, nếu một quốc gia có những yêu cầu khá cao về an toàn thực phẩm, như trường hợp của Úc, đất nước rất khắt khe về nhập khẩu nông sản vì lý do an toàn, còn Hoa Kỳ thì coi đó là một trở ngại, sau đó quy đổi thành thuế quan. Cho nên, trên thực tế, quyết định đó rất võ đoán.
RFI : Tổng thống Trump áp mức thuế 46% đối với sản phẩm của Việt Nam. Nên giải thích như thế nào về mức thuế cao như vậy đối với Việt Nam ?Hubert Testard : Thông thường mức chênh lệch trung bình về thuế quan giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không quá cao. Và trên thực tế, thuế trung bình của Việt Nam thấp hơn một chút so với thuế của Mỹ. Trường hợp này không đúng với một số sản phẩm, ví dụ ô tô hoặc nông phẩm mà Việt Nam áp dụng khá nhiều loại thuế hải quan. Nhưng thuế hải quan của Việt Nam nhìn chung không quá cao.
Vậy phải giải thích thế nào về tỉ lệ 46% ? Tôi cho là chủ yếu do khối lượng xuất khẩu lớn của Việt Nam sang Mỹ và quy mô thặng dư thương mại của Việt Nam. Có nghĩa là Việt Nam mua rất ít sản phẩm Mỹ nhưng lại bán rất nhiều cho Hoa Kỳ. Và đó là lý do tại sao Việt Nam bị đánh thuế rất nặng. Tổng thống Trump nói đến thuế đối ứng nhưng thực ra, lập luận của chính quyền Mỹ chủ yếu dựa trên tầm mức trao đổi thương mại và quy mô của thâm hụt thương mại.
Đọc thêmTăng nhập hàng Mỹ, vận động hành lang : Việt Nam tháo gỡ nguy cơ đánh thuế của TT Trump
RFI : Ngoài ra, liệu yếu tố Trung Quốc có nằm trong quyết định áp mức thuế cao như vậy đối với Việt Nam không ? Một số nước Đông Nam Á cũng bị áp thuế cao như Việt Nam có phải do là điểm trung chuyển để tái xuất hàng hóa Trung Quốc ?Hubert Testard : Cũng có thể là có vai trò nào đó. Nhưng tôi không cho đó là yếu tố chính bởi vì không phải tất cả hàng Việt Nam xuất khẩu đều là hàng Trung Quốc đội lốt. Có rất nhiều mặt hàng xuất khẩu được sản xuất từ các nhà máy do Hàn Quốc, Nhật Bản thành lập hoặc của nhiều nước khác và cũng từ các nhà máy của Việt Nam.
Tôi không nghĩ Trung Quốc là yếu tố chính mà do thực tế là Việt Nam có thặng dư rất lớn với Hoa Kỳ. Việt Nam là nước đứng thứ 3 trên thế giới có thặng dư thương lớn với Mỹ và đó là lý do chính khiến Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề.
RFI : Trước khi tổng thống Trump công bố loạt thuế mới, đã có thông tin là một phái đoàn Việt Nam sẽ tới Hoa Kỳ ngay cuối tuần, từ ngày 06/04. Hai hãng hàng không Vietnam Airlines và Vietjet sẽ gặp Boeing còn phó thủ tướng Hồ Đức Phớc tới Washington. Việt Nam có thể đàm phán như thế nào với chính quyền Trump ?Hubert Testard : Việt Nam đã có những biện pháp về hàng xuất khẩu của Mỹ, như giảm thuế quan đối với khí tự nhiên hóa lỏng, ô tô. Việt Nam đã có nhiều động thái nhưng chưa có tác động gì cho đến nay và vẫn chưa thay đổi được điều gì. Vậy điều này được hiểu như thế nào ? Có khả năng là chính quyền Trump sẽ yêu cầu nhân nhượng nhiều hơn và giải thích với phái đoàn Việt Nam rằng như vậy là chưa đủ và Hà Nội cần phải làm nhiều hơn nữa để thay đổi tình hình. Vì vậy, sẽ còn phải chờ vào giai đoạn đàm phán.
Xin nhắc lại là vào năm 2018, trong nhiệm kỳ đầu tiên của chính quyền Trump, chính phủ Mỹ đã ban hành nhiều loại thuế quan, nhưng chủ yếu đánh vào các sản phẩm thép, nhôm và một số mặt hàng tiêu dùng. Trong thời gian đầu, tất cả đều bị đánh thuế. Tiếp theo, trong giai đoạn thứ hai, ông Trump đã đàm phán nhượng bộ và miễn trừ cho từng quốc gia. Hầu hết các nước được hưởng biện pháp này, ngoại trừ Trung Quốc.
Đọc thêmTT Mỹ Donald Trump thông báo đánh thuế 25 % nhôm và thép nhập khẩu
Vì vậy, tôi nghĩ rằng tất cả các nước đều hy vọng rằng tiến trình tương tự có thể sẽ diễn ra. Các cuộc đàm phán sẽ dẫn đến kết quả. Nhưng hiện giờ, tiêu chuẩn đặt ra cao hơn nhiều so với trước đây. Mức thuế quan 10% đã được quyết định áp dụng cho toàn thế giới, ngay cả Úc, Anh, Singapore… chẳng hạn cũng chịu mức thuế 10%. Cho nên, theo tôi, mức thuế hải quan 10% sẽ được giữ nguyên bởi vì đó là số tiền mà chính quyền Trump muốn thu hồi (thâm hụt thương mại của Mỹ năm 2024 là 1.200 tỷ đô la) để có thể tài trợ cho việc cắt giảm thuế. Sau đó là phần có thể thương lượng. Và hiện giờ, rất khó để có thể đoán chuyện gì sẽ xảy ra về phần có thể thương lượng được này.
Vấn đề hiện nay là Hoa Kỳ sẽ phải đàm phán với không biết bao nhiêu nước. Tôi cho là khả năng đàm phán của USTR không phải là vô hạn, cho nên họ có thể sẽ chọn từng quốc gia một và việc này sẽ mất thời gian. Do đó, trong thời gian đầu, các mức thuế trên 10% vẫn được áp dụng từ ngày 09/04. Tình trạng này dự kiến sẽ kéo dài trong một thời gian.
RFI : Mức thuế suất rất cao mà Mỹ áp dụng đối với Việt Nam có tác động đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nước khác ở Đông Nam Á ?Hubert Testard : Có. Tác động đầu tiên, theo tôi, sẽ là về kinh tế khi chúng ta biết rằng xuất khẩu sang Mỹ chiếm 25% GDP của Việt Nam. Cú sốc sẽ rất dữ dội, xuất khẩu sẽ giảm mạnh. Vì vậy, GDP của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Có thể thấy tác động đầu tiên sẽ là một cú sốc kinh tế, chắc chắn sẽ rất lớn đối với trường hợp của Việt Nam.
Thứ hai, xét về mặt cạnh tranh, vấn đề này khá phức tạp vì mỗi nước bị áp mức thuế khác nhau. So với Trung Quốc thì không có thay đổi nhiều vì mức thuế mà Mỹ áp dụng với Việt Nam là tương đương với Trung Quốc. Tháng 03/2025, Trung Quốc đã bị đánh thuế 20%, cho nên với mức thuế bổ sung 34% thì Trung Quốc đang chịu hơn 50%. Do đó, Việt Nam so với Trung Quốc thì không có cú sốc cạnh tranh nào.
Đọc thêmViệt Nam sẵn sàng nhập thêm nông sản Mỹ để đối phó với chính sách thuế quan mới của TT Trump
Tuy nhiên, so với các nước khác thì sức cạnh tranh của Việt Nam sẽ bị tác động. Ví dụ trong ngành dệt may, vải sợi, một số nước như Ấn Độ, Bangladesh có mức thuế thấp hơn đáng kể so với Việt Nam. Vì vậy có thể có một số tác động về việc điều chuyển hàng xuất khẩu từ nước này sang nước khác. Những công ty lớn như Nike có thể điều chỉnh lại một chút cơ sở công nghiệp của họ trong khu vực, nhưng việc này cũng cần thời gian. Tôi cũng không chắc là họ sẽ sớm tiến hành vì trước tiên họ sẽ xem xét liệu mỗi nước có thể đàm phán được điều gì.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn chuyên gia Hubert Testard, tổng biên tập báo mạng Asialyst chuyên về châu Á.
Việt Nam dưới sức ép đàm phán với “đối tác chiến lược toàn diện” MỹNgay sau tổng thống Trump thông báo biểu thuế, chính phủ Việt Nam lập tổ phản ứng nhanh, vừa trấn an công luận, vừa ghi nhận ý kiến từ doanh nghiệp, nhất là những đơn vị xuất khẩu lớn. Hai ngày sau, ngày 04/04, tổng bí thư Tô Lâm điện đàm với tổng thống Mỹ Donald Trump. Cuộc điện đàm được ông Trump đánh giá trên mang Truth Social là “rất hiệu quả” và “Việt Nam muốn cắt giảm thuế quan (đối với hàng nhập khẩu Mỹ) xuống 0% nếu họ có thể đạt được thỏa thuận với Hoa Kỳ”.
Truyền thông trong nước đánh giá đây là “bước đi đúng đắn và thông minh” vì “Việt Nam không chỉ tránh đối đầu với chính quyền tổng thống Trump”. “Bước đi này (hy vọng) giúp duy trì xuất khẩu sang Mỹ - thị trường lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch khoảng 136 tỷ đô la năm 2024 - đồng thời mở đường cho hàng hóa Mỹ, đặc biệt là nông sản và công nghệ, vào Việt Nam với giá cạnh tranh hơn”.
Đọc thêmHà Nội muốn Mỹ tăng cường đầu tư vào các ngành công nghệ cao ở Việt Nam
Tuy nhiên, quyết định nằm trong tay chính quyền tổng thống Trump. Nhiệm vụ thuyết phục người đứng đầu Nhà Trắng được giao cho phó thủ tướng Hồ Đức Phớc, đến Mỹ công tác từ 06-14/04. Nếu bị đánh thuế 46%, GDP của Việt Nam sẽ bị mất 3%, theo thẩm định của công ty Bảo Minh - BMI, được Reuters trích dẫn ngày 06/04. Và nếu bị áp mức thuế thấp nhất là 10%, GDP của Việt Nam sẽ bị mất 0,85%.
Về lâu dài, chính phủ, cũng như giới chuyên gia cho rằng Việt Nam cần “mở rộng, đa dạng sản phẩm, chuỗi cung ứng, thúc đẩy và khai thác thị trường nội địa hóa”. Theo thủ tướng Phạm Minh Chính, cú sốc lần này cũng “là cơ hội cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển nhanh nhưng bền vững, dựa vào công nghệ, đổi mới sáng tạo” và hướng đến những thị trường xuất khẩu mới.
Hôm 17/03/2025, báo chí chính thức ở Việt Nam đã đồng loạt đăng một bài viết của tổng bí thư đảng Cộng sản Tô Lâm. Việc truyền thông nhà nước phổ biến quan điểm của lãnh đạo đảng là chuyện bình thường ở Việt Nam, nhưng bài viết này đáng chú ý vì ông Tô Lâm đã không hết lời ca ngợi khu vực kinh tế tư nhân tại một đất nước mà về mặt chính thức kinh tế nhà nước vẫn nắm vai trò chủ đạo “trong một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Ngay từ năm 1986, khi bắt đầu “đổi mới”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã công nhận “kinh tế tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế”. Đến năm 2001, đảng cầm quyền ở Việt Nam tiếp tục phát triển kinh tế tư nhân “trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.” Nhưng thực ra thì đến năm 2011, tại Đại hội Đảng lần thứ 11, cụm từ "kinh tế tư nhân" mới lần đầu tiên được sử dụng chính thức, với chủ trương "hoàn thiện cơ chế, chính sách để kinh tế tư nhân trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế".
Năm 2017, Đảng ra nghị quyết nhấn mạnh cần "phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Nghị quyết này lần đầu tiên đưa ra các chỉ tiêu cụ thể về phát triển kinh tế tư nhân, như đến năm 2025 sẽ có 1,5 triệu doanh nghiệp, đóng góp khoảng 55% GDP. Tuy nhiên, những mục tiêu này đến nay vẫn chưa đạt được.
Trong bài viết mang tựa đề "Phát triển kinh tế tư nhân: Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng", tổng bí thư Tô Lâm ghi nhận: “Với gần 1 triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 51% GDP.” Nói chung, theo ông Tô Lâm, khu vực tư nhân “ngày càng thể hiện là động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia.”
Quan điểm của ông Tô Lâm là: “Một nền kinh tế cường thịnh không thể chỉ dựa vào khu vực nhà nước hay FDI, mà phải dựa vào nội lực là khu vực tư nhân vững mạnh, đóng vai trò tiên phong trong đổi mới và phát triển đất nước.”
Nhưng ông Tô Lâm nhìn nhận rằng kinh tế tư nhân ở Việt Nam “vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển và năng lực cạnh tranh.” Cụ thể, theo lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam doanh nghiệp tư nhân “còn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn tín dụng, đất đai, tài nguyên và nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các ngành công nghệ, kỹ thuật và tài chính. Trong khi đó, một số doanh nghiệp nhà nước nắm giữ nhiều tài nguyên, đất đai, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng nhưng lại chưa khai thác hiệu quả, thậm chí còn để lãng phí.”
Ấy là chưa kể “hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, chồng chéo, môi trường kinh doanh nhiều trở ngại, thủ tục hành chính phức tạp, tốn nhiều thời gian, chi phí và tiềm ẩn rủi ro. Nhiều trường hợp quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản vẫn bị xâm hại bởi sự yếu kém hoặc lạm quyền của một số cán bộ, công chức trong thực thi công vụ.”
Trong bản đánh giá về hiện trạng của khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam, đăng vào tháng 09/2021, Tổ chức Tài chính Quốc tế (International Finance Corporation - IFC), thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới, cũng đã từng nêu bật sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam :
“Quy mô và ảnh hưởng lớn của doanh nghiệp nhà nước có thể cản trở cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và mới hoạt động. Doanh nghiệp tư nhân khó tham gia và cạnh tranh đầy đủ ở nhiều thị trường do các ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhà nước. Các ngân hàng thương mại tiếp tục cho những doanh nghiệp nhà nước có kết quả hoạt động yếu kém được vay tiền trên cơ sở phi thương mại, do đó làm tăng chi phí vay trong nước của các công ty làm ăn có lợi nhuận tốt.
Các doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn về tài chính có thể nhận được hỗ trợ của nhà nước bằng việc xóa nợ và kéo dài thời gian trả nợ, hạn chế các nguồn lực lẽ ra có thể được chuyển đến các công ty tư nhân. Trong khi luật lệ, quy định hiện hành về giao đất và cho thuê đất kinh doanh, sản xuất không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ 70% đất đai dành cho sản xuất và kinh doanh”.
Trong bài viết nói trên, ông Tô Lâm còn nhìn nhận: “ Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài nhận được nhiều ưu đãi hơn so với khu vực tư nhân. Doanh nghiệp nhà nước thường thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai, vốn, tín dụng; còn doanh nghiệp nước ngoài thường được hỗ trợ về thuế, thủ tục hải quan, tiếp cận đất đai.”
Trả lời RFI Việt ngữ ngày 18/03/2025, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng chính phủ phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp cận đất đai và tiếp cận các ưu đãi như là với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài:
“Ví dụ như là một tập đoàn lớn của Hàn Quốc mà đầu tư vào một tỉnh thì tỉnh đó sẵn sàng cấp thêm đất và giảm giá đất vượt khỏi khung pháp luật của Việt Nam để giữ tập đoàn đó ở địa phương đó. Bây giờ nên áp dụng ưu đãi đó cho doanh nghiệp trong nước.
Hiện nay, vì nhiều lý do, cho nên một số địa phương ưu đãi rất lớn đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, bởi vì doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có tiềm lực lớn, có thể, trong một thời gian ngắn, phù hợp với thời gian cầm quyền của ông bí thư hay chủ tịch tỉnh, có thể đầu tư và nhanh chóng nâng cao thu nhập về thuế hay GDP, nhưng thực chất giá trị gia tăng được tạo ra ở Việt Nam thì lại không cao.
Và tôi muốn nhấn mạnh rằng doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp dân tộc, còn doanh nghiệp nước ngoài thì mang thương hiệu nước ngoài và sẽ chuyển lợi nhuận cũng như vốn đầu tư về nước họ. Doanh nghiệp tư nhân thì mang thương hiệu Việt Nam, sẽ đóng thuế và ở lại với đất nước Việt Nam.”
Một hướng phát triển khác để tạo thuận lợi cho khu vực tư nhân, theo chuyên gia Lê Đăng Doanh, đó là phải đẩy mạnh việc chuyển sang chính phủ điện tử và thực hiện công khai, minh bạch.
“Luật doanh nghiệp năm 1999 đã thực hiện sự thay đổi quan trọng đó và bây giờ cần phải tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa. Tôi nghĩ rằng để làm việc đó thì phải chuyển mạnh sang kinh tế, chính phủ điện tử, thực hiện công khai minh bạch và tinh giản tối đa các giấy phép, các thủ tục hành chính, công khai trên mạng cho mọi người biết là việc này là do ai xử lý và xử lý đến bao giờ.
Cũng về công khai minh bạch, nếu nhìn vào niên giám thống kê của Việt Nam thì phần lớn chỉ có thu, chi, tức là không nói rõ chi cho những gì, thu thì từ đâu. Trong khi đó, nếu đọc niên giám thống kê của Thụy Điển thì họ nói rất rõ, tức là nhà vua chi như thế nào, có đi chuyên cơ hay là đi máy bay thương mại. Thậm chí bữa cơm mà nhà vua tiếp khách nước ngoài thì gồm có 3 món nào, đãi rượu vang gì.
Trên cơ sở đó, tôi hy vọng là môi trường kinh doanh của Việt Nam sẽ được và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ mạnh hơn.
Hiện nay thì trước hết là con số giấy phép con hiện nay đã tăng rất nhiều.Theo báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp thì con số giấy phép con đã vượt hơn 5.000.
Rất cần lập lại một lần nữa bài học của thủ tướng Phan Văn Khải, người đã ký và bãi bỏ 258 giấy phép vào năm 2001. Tôi nghĩ là bây giờ bên cạnh việc vận dụng chính phủ điện tử và công khai minh bạch, việc giảm bớt các thủ tục hành chính, các giấy tờ là điều hoàn toàn có thể thực hiện được.
Việt Nam đã có những tiến bộ như ta đã thấy, tức là có những hãng hàng không tư nhân như Vietjet, có quy mô và hoạt động về mặt trình độ chuyên môn có thể cạnh tranh được với. Với tầm nhìn như vậy, tôi nghĩ là nên mở rộng hơn nữa sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân vào chính phủ điện tử, vào công nghệ thông tin.”
Bên cạnh đó, chuyên gia Lê Đăng Doanh còn lưu ý về chính sách thu hút nhân tài để đóng góp cho việc phát triển nền kinh tế tư nhân ở Việt Nam:
“Còn rất nhiều vấn đề mà chúng ta cần cải cách và phát triển lên. Một là chiến lược về nhân lực và chính sách đối với nhân tài, làm sao cho các nhân tài từ nước ngoài về được sử dụng ở Việt Nam sẽ được đối xử một cách tương xứng. Tôi không muốn nói là thu nhập của họ phải bằng như ở Pháp hay ở Mỹ, nhưng cũng phải là thu nhập cao đáng kể so với thu nhập bình thường ở Việt Nam, để họ có thể sống một cách thoải mái."
Trong bài viết nói trên, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm cũng đã đề ra một số giải pháp để « tạo ra một động lực đột phá » cho các doanh nghiệp tư nhân, trong đó có việc tiếp tục đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, thứ hai, bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, , tạo cơ hội cho khu vực tư nhân tiếp cận hiệu quả, công bằng các nguồn vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ.
Ngày 19/02/2025, Việt Nam tinh giản bộ máy Nhà nước, từ 18 bộ xuống còn 14 bộ và từ 4 cơ quan ngang bộ xuống 3. Tiếp theo là sáp nhập tỉnh thành, sẽ phải hoàn tất trước ngày 30/08 và đi vào hoạt động từ tháng 09. “Cuộc cách mạng” hành chính cho phép Việt Nam nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh từ năm 2018, Việt Nam được coi là nước hưởng lợi chính từ việc dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc.
Việc tinh gọn bộ máy được Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu - EuroCham, cũng như các nhà đầu tư nước ngoài, đánh giá là tiền đề để Việt Nam thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó khẳng định vị thế là trung tâm đầu tư của Đông Nam Á. Hoạt động từ năm 1998, EuroCham hiện là một trong những hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam với hơn 1.400 thành viên sử dụng hơn 150.000 lao động.
Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 06/03/2025, phó chủ tịch Jean-Jacques Bouflet phụ trách Chính sách EuroCham đề cao quyết tâm của chính quyền Việt Nam nhưng ông cũng lưu ý cần phải khẩn trương và tiến hành một cách hiệu quả.
RFI : Việt Nam tiến hành tinh giản bộ máy Nhà nước, được coi là "cuộc cách mạng lần thứ hai". Phòng Thương mại Châu Âu (EuroCham) và các thành viên đánh giá biện pháp cải cách này như thế nào ? EuroCham và các thành viên được thông tin như thế nào về những thay đổi mà quá trình này mang lại ?Phó chủ tịch EuroCham Jean-Jacques Bouflet : Các doanh nghiệp tiếp đón thông tin tương đối tích cực. Chúng tôi cũng tiến hành một cuộc điều tra, được gọi là “chỉ số tin tưởng” của các doanh nghiệp (BCI), và nhìn chung cam kết của chính phủ được coi là một bước theo hướng tốt. 43% trên tổng số các doanh nghiệp thuộc Liên Hiệp Châu Âu cho rằng về lâu dài thủ tục hành chính sẽ được đơn giản hóa, trong đó có việc thông qua các nền tảng kỹ thuật số và nhất là qua việc tinh giản bộ máy hành chính đang diễn ra. Tuy nhiên, 36% thành viên trong EuroCham vẫn bày tỏ quan ngại về những chậm trễ có thể xảy ra trong quá trình chuyển tiếp. Nhưng chúng ta cứ giữ lạc quan xem sao !
Chúng tôi được thông tin như nào ư ? Chúng tôi có được ưu ái là có một buổi làm việc với thủ tướng Việt Nam ngày 02/03. Có hơn 50 người tham gia, trong đó có đại sứ Liên Hiệp Châu Âu, cũng như đại sứ nhiều nước thành viên. Chúng tôi đối thoại với thủ tướng Phạm Minh Chính cùng hai phó thủ tướng và rất nhiều bộ ngành liên quan. Ông Chính đã trình bày về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính để kích thích đầu tư vì đây là mục tiêu chính của cuộc cải cách. Sau buổi họp đó, EuroCham đã tổ chức nhiều sự kiện để thông tin đến các thành viên.
Có thể thấy là cho đến nay đã có nhiều ý tưởng. Dĩ nhiên là sẽ còn phải chờ xem thực tế liệu những chủ trương đó có biến thành những cải cách cụ thể hay không. Nhưng dù sao cũng đã có ý tưởng.
RFI : Sau khi cải cách được thông báo, cũng như sau cuộc họp với thủ tướng Việt Nam thì EuroCham trông đợi cụ thể điều gì ?Ông Jean-Jacques Bouflet : Điểm chính của cuộc cải cách là giảm đáng kể số lượng bộ. Nhiều bộ đã được hợp nhất, ví dụ bộ Nông Nghiệp và Môi Trường, điều này cho thấy một bước đi và mong muốn đi theo hướng quá độ và chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam, hoặc ví dụ bộ Kế Hoạch Đầu Tư được gộp vào bộ Tài Chính. Tôi nhớ không nhầm là từ 18 bộ xuống còn 14 bộ. Có thể thấy mong muốn tinh giản bộ máy Nhà nước và mặt khác chính phủ cũng tìm cách phi tập trung hóa, có nghĩa là một phần các thủ tục hành chính sẽ được áp dụng ở cấp địa phương, tại các tỉnh với khoảng 60 tỉnh ở Việt Nam, và điều này sẽ cho phép chúng tôi tiếp cận gần với các nhà ra quyết định hơn.
Nói tóm lại, mục đích của đợt tinh giản bộ máy Nhà nước là giảm bớt thủ tục hành chính, khoảng 30% toàn bộ thủ tục, và thúc đẩy việc áp dụng để đẩy nhanh chính những thủ tục đó. 30% là con số ấn tượng nên chúng tôi đầy hy vọng.
RFI : Cuộc cải cách này là một điều kiện tiên quyết để Việt Nam thu hút đầu từ nước ngoài. Nhìn từ các nhà đầu tư nước ngoài, ví dụ các thành viên của EuroCham, cần phải có những điều kiện nào khác để Việt Nam có thể khẳng định vị trí trung tâm đầu tư ở Đông Nam Á như tham vọng của chính phủ Việt Nam ?Ông Jean-Jacques Bouflet : Như tôi đề cập ở trên, điều mà EuroCham trông đợi, cũng là điều kiện chính đối với chúng tôi, để kích thích đầu tư của châu Âu vào Việt Nam, vẫn là giảm thủ tục hành chính, chấm dứt những phức tạp, chồng chéo và phân chia rải rác giữa các bộ ngành, cơ quan ở cấp trung ương cũng như địa phương. Nhiều khi cứ như lạc vào rừng rậm, thủ tục tích tụ, chồng chéo và phải vượt qua một số ngưỡng. Vì vậy cuộc cải cách này thực sự là cần thiết.
Ngoài ra, như chúng ta đã biết, Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu đã ký Hiệp định Tự do Thương mại và đang trong giai đoạn triển khai. Chúng tôi cũng mong giai đoạn này triển khai này giúp giải phóng thực sự điều kiện thâm nhập thị trường, cũng như hoạt động của các doanh nghiệp châu Âu được kết trái từ đầu tư vào Việt Nam. Về điểm này, tiếc là chúng tôi vẫn chưa nhận được sự phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư vì hiệp định này phải qua hai vòng phê chuẩn của Liên Hiệp Châu Âu và của các nước thành viên. Hiện giờ vẫn còn khoảng 10 nước thành viên chưa phê chuẩn.
Còn về bản thân Hiệp định Tự do Thương mại, điều quan trọng là hiệp định phải được áp dụng triệt để và theo đúng tinh thần. Có nghĩa là cần phải tránh để việc giảm thuế quan bị vi phạm hoặc bị bù lại bằng cách tăng thuế ở trong nước đối với sản phẩm đó hoặc bằng các rào cản kỹ thuật cho trao đổi thương mại.
RFI : Các thành viên EuroCham đầu tư vào những lĩnh vực nào ở Việt Nam hiện nay, cũng như xu hướng đầu tư trong tương lai ?Ông Jean-Jacques Bouflet : EuroCham đại diện cho toàn bộ các doanh nghiệp châu Âu, ở cấp độ Liên Hiệp Châu Âu, do đó, lĩnh vực hoạt động của chúng tôi rất rộng. Chỉ riêng nội bộ EuroCham đã có khoảng 20 ủy ban chuyên ngành, từ dược phẩm, nông nghiệp, đến rượu vang, rượu mạnh hoặc điện tử cho nên mảng hoạt động rất rộng, trong lĩnh vực nhập khẩu bởi vì có rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu sang Việt Nam, cũng như sản xuất, chiếm một phần quan trọng bởi vì chúng tôi cũng có rất nhiều thành viên sản xuất ở Việt Nam, sau đó tái xuất khẩu sang Liên Hiệp Châu Âu hoặc sang các thị trường thứ ba.
Liên quan đến việc sản xuất ở Việt Nam, lĩnh vực chủ đạo vẫn là đồ điện tử. Việt Nam đang giữ vị trí quan trọng về điểm này, dường như là điện tử giữ vị trí thứ nhất về xuất khẩu, vượt qua cả nông nghiệp. Cho dù châu Âu có thể ít mạnh hơn trong lĩnh vực này ở Việt Nam nhưng còn rất nhiều cơ hội đầu tư.
Ngoài ra còn có cả quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tôn trọng môi trường hơn, vẫn được gọi là “Green Deal” và chúng tôi muốn thể hiện và khẳng định ở Việt Nam. Tôi phải nói là về điểm này, Việt Nam đã nắm được phần nào vị trí đầu tầu so với các nước đang phát triển khác trong vùng. Đó là những lĩnh vực mà chúng tôi đầu tư đặc biệt hơn. Chúng tôi có một ủy ban đặc trách “Green Growth” - tăng trưởng xanh - rất năng động. Chúng tôi đối thoại rất nhiều với chính quyền Việt Nam. Việt Nam đang hiện đại hóa lĩnh vực năng lượng bằng cách thúc đẩy các loại hình năng lượng tái tạo, cho dù chúng ta khởi động từ mức khá thấp, và tất cả các doanh nghiệp của chúng tôi tập trung, điều phối với nhau về những lĩnh vực đầy hứa hẹn như này.
RFI : Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu Ursula von der Leyen dự kiến thăm Việt Nam. Ông có nghĩ là chuyến công du sẽ sớm diễn ra không ?Ông Jean-Jacques Bouflet : Chúng tôi hy vọng bà Ursula von der Leyen sớm đến thăm chúng tôi. Tôi nghĩ Việt Nam là một nhân tố quan trọng cho thương mại quốc tế và cho hợp tác đối tác giữa các nước phát triển như Liên Hiệp Châu Âu và những nền kinh tế mới đang trỗi dậy mạnh mẽ như Việt Nam.
Tôi nghĩ là trong thời điểm phần nào xáo trộn như hiện nay, cần phải nhắc lại sự gắn bó vào hệ thống thương mại quốc tế dựa trên khuôn khổ luật pháp rõ ràng, dự đoán được và đa phương, các quy định của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) cũng như Hiệp định Tự do Thương mại như tôi đề cập ở trên. Điều này rất quan trọng ! Đúng là chuyến thăm của bà Ursula von der Leyen sẽ tượng trưng phần nào cho điểm trên. Ngoài ra, cũng đừng quên rằng Việt Nam là thị trường có 100 triệu dân, đó là đất nước có tiềm năng rất lớn và là một nhân tố chủ đạo cho việc phân bổ lao động quốc tế.
Ngoài chuyến thăm của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, chúng tôi cũng mong ủy viên thương mại châu Âu Maroš Šefčovič đến thăm để phát hành "Sách Trắng" mà chúng tôi vẫn soạn thảo hàng năm để trình bày những đề xuất với chính quyền Việt Nam nhằm cải thiện trao đổi và đầu tư giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam. Chúng tôi hy vọng năm nay ông Maroš Šefčovič đứng ra chủ trì buổi lễ này.
Có thể thấy là mọi chuyện đang đi vào quy củ với Việt Nam theo chiều hướng năng động được hình thành từ Hiệp định Tự do Thương mại ký vào năm 2019 và phê chuẩn năm 2020 và vẫn đang tiếp tục cho kết quả dù chậm nhưng chắc. Dĩ nhiên cũng phải chú ý đến bối cảnh quốc tế khó khăn hiện nay nhưng tôi tin Liên Hiệp Châu Âu phải tái khẳng định gắn kết với khuôn khổ đa phương dựa trên quy định luật pháp rõ ràng và tin cậy. Bởi vì, đối với các doanh nghiệp châu Âu chúng tôi, ở rất xa châu Âu, điều quan trọng là phải có được khuôn khổ ổn định, rõ ràng, dự đoán được chứ không phải chịu ảnh hưởng từ những sự kiện, những “rối loạn” gây bất ổn. Khi người ta đầu tư, nhất là ở nước ngoài, đó là những khoản tiền khá lớn, cần nhiều năm mới khấu hao được đầu tư, vì thế có được niềm tin như vậy là điều rất quan trọng.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch phụ trách Chính sách tại Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam EuroCham.
Ngành du lịch Việt Nam đang trở lại gần với mức của thời kỳ trước đại dịch Covid-19. Để tiếp tục thu hút du khách quốc tế, chính phủ Hà Nội thi hành một chính sách visa cởi mở hơn, thể hiện qua việc triển hạn biện pháp miễn visa 45 ngày cho công dân từ 12 quốc gia, trong đó có Pháp.
Du lịch thế giới đang trên đà phục hồi. Theo ước tính do Tổ chức Du lịch Liên Hiệp Quốc công bố, 1,4 tỷ người đã đi du lịch nước ngoài vào năm ngoái, tăng 11% so với năm 2023, trở lại với mức kỷ lục của năm 2019, trước đại dịch Covid, do nhu cầu du lịch tăng cao, đặc biệt là ở châu Âu và châu Á. Số lượng các chuyến đi quốc tế dự kiến sẽ tiếp tục tăng vào năm 2025, ở mức "3 đến 5%" so với năm 2024.
Riêng ngành du lịch Việt Nam năm 2024 đã hồi phục gần như hoàn toàn khi đón tổng cộng 17,6 triệu lượt khách quốc tế, gần bằng mức 18 triệu của năm 2019, tức là thời kỳ trước khi đại dịch Covid bùng phát. Năm 2025, Việt Nam đặt mục tiêu đón 22-23 triệu lượt khách quốc tế. Trước mắt, trong hai tháng đầu năm, gần 4 triệu lượt khách đã đến Việt Nam, tăng 30% so với cùng kỳ năm ngoái, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cho thấy Việt Nam đang trở lại thành một trong những điểm đến ưa thích của du khách từ nhiều nước.
Vào ngày 24/11/2024 tại Madeira (Bồ Đào Nha), Việt Nam đã được trao giải thưởng Điểm đến tốt nhất Châu Á tại lễ Giải thưởng Du lịch Thế giới 2024, được coi là giải Oscar của ngành du lịch toàn cầu. Đây là lần thứ sáu Việt Nam giành được danh hiệu này và là lần thứ ba liên tiếp.
Việt Nam cũng đã đặt biệt thu hút du khách từ Pháp. Tổ chức Entreprises du voyage, đại diện cho 3.500 chuyên gia về du lịch và hơn 1.600 hãng du lịch, vừa qua đã công bố kết quả khảo sát cho thấy là trong mùa đông vừa qua, Việt Nam là một trong 20 điểm đến hàng đầu của khách Pháp, tuy xếp hạng 19 nhưng với số khách tăng thêm gần 50%.
Trả lời RFI tại Hội chợ Du lịch Quốc tế Paris, khai mạc ngày 13/03/2025, ông Nguyễn Xuân Hải, giám đốc của La Palanche Voyages, chuyên tổ chức các tour du lịch cho khách nói tiếng Pháp đến Việt Nam cũng như đến các nước láng giềng Lào, Cam Bốt, Miến Điện, ghi nhận:
"Lượng khách tăng khá là nhiều. Tất nhiên còn kém một chút so với thời kỳ trước Covid, nhưng công việc thì nhiều hơn. Tại vì trước Covid, khách đi theo đoàn rất là nhiều, ví dụ như 1.000 khách thì mỗi đoàn chia ra 20 đến 30 người, 30 đoàn thì chỉ cần 30 hướng dẫn viên. Nhưng vừa rồi, do vé máy bay giá theo đoàn và giá lẻ không chênh nhau nhiều, mà khách đi lẻ thì được tự do hơn, cho nên người ta chia nhỏ ra rất nhiều.
Vì vậy hiện nay trong nước, nhất là đối với khách Pháp của chúng tôi, rất thiếu hướng dẫn viên tiếng Pháp. Nhiều khi, với những khách mua trễ, chúng tôi phải nói trước với họ là không còn hướng dẫn viên tiếng Pháp nữa, xin họ vui lòng đi với hướng dẫn viên tiếng Anh, hoặc là chúng tôi sẽ hỗ trợ từ xa qua điện thoại, có nghĩa là chỉ làm chương trình giúp và họ tự đi với tài xế của chúng tôi.
Đó là tình hình năm vừa rồi. Nói chung rất là tốt."
Với hy vọng tiếp tục duy trì sức thu hút đối với du khách quốc tế, chính phủ Hà Nội ngày 07/03 đã thông báo quyết định là công dân đến từ 12 nước, chủ yếu là châu Âu ( Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Anh Quốc và Bắc Ireland, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan ), sẽ tiếp tục được miễn thị thực đến năm 2028 với thời gian tạm trú 45 ngày tính từ ngày nhập cảnh. Trên nguyên tắc biện pháp này hết hạn kể từ ngày 15/03. Ông Nguyễn Xuân Hải, giám đốc của La Palanche Voyages, cho biết việc nâng số ngày miễn visa từ 15 lên 45 ngày đối với 12 nước, trong đó có Pháp, tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều cho du khách, cũng như cho các công ty du lịch:
"Cách đây hai năm chỉ miễn visa 15 ngày, nên tất cả các công ty chỉ làm các tour hạn chế trong 15 ngày thôi. Bây giờ thì được 45 ngày, thì khi được 45 ngày, có thể người ta đến Việt Nam chỉ 15 ngày thôi, nhưng người ta có thể tiến, lùi ngày để có được vé máy bay tốt hơn, phù hợp với khả năng chi trả của người ta hơn. Miễn visa 45 ngày là cả một bước đột phá lớn.
Hơn nữa, công ty chúng tôi là chuyên đón khách Pháp. Khách Pháp nổi tiếng là rất chịu khó đi sâu, đi xa. Trước đây, họ thường hỏi chúng tôi làm cách nào đi đến chổ này, chổ nọ. Nhưng nhìn lại chương trình thì họ thấy đi như thế thì sẽ mất những điểm bắt buộc phải qua, cho nên họ không thể bỏ qua những điểm đó để đi đến những chổ mới.
Nay có đến 45 ngày miễn visa, giống như là chúng ta đang “thừa giấy vẽ voi”. Chúng tôi sẽ có thể vẽ ra những con voi rất sinh động, đưa được khách đến những vùng xa hơn, sâu hơn, đến những nơi mà theo chúng tôi còn nguyên bản hơn, gọi là authenticité”
Nhưng ông Nguyễn Xuân Hải nêu lên một bất công đối với du khách nói tiếng Pháp đến từ hai nước láng giềng của Pháp là Bỉ và Thụy Sĩ trên vấn đề visa:
"Người Bỉ nói tiếng Pháp, người Thụy Sĩ nói tiếng Pháp, thế mà trước đây họ không được miễn visa. Thật là đáng tiếc, vì mức chi tiêu của khách Bỉ, khách Thụy Sĩ có thể cao hơn khách Pháp nhiều.
Khi có tiền nhiều, người có thể nổi hứng đi chơi bất kỳ lúc nào, mà hạn chế về visa là hạn chế rất là lớn. Rất may là từ tháng 3, Việt Nam đã miễn visa cho người Thụy Sĩ, nhưng đối với người Bỉ thì chưa.
Tất nhiên đây là vấn đề liên quan đến quan hệ quốc tế, tôi không dám đi sâu vào, nhưng tôi nghĩ chính sách visa đối Bỉ, Thụy Sĩ và các nước chung quanh nên được làm tối đa"
Đầu năm nay, công dân từ các nước Ba Lan, Cộng Hòa Séc và Thụy Sĩ cũng được miễn visa, quy định được áp dụng từ 1/3 đến 31/12/2025.
Trước đó, tại phiên họp của chính phủ ngày 5/3, thủ tướng Phạm Minh Chính đã giao cho Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchnghiên cứu chính sách visa “phù hợp”, để đa dạng hóa việc miễn visa với một số quốc gia, một số đối tượng như các tỷ phú trên thế giới.
Nhưng làm gì thì làm, mục tiêu đón 22-23 triệu lượt khách quốc tế mà Việt Nam đặt ra cho năm 2025 vẫn còn khiêm tốn so với Thái Lan. Nhờ thi hành chính sách thị thực cởi mở từ nhiều năm qua, Thái Lan vẫn là một trong những điểm đến hàng đầu của du khách quốc tế. Thái Lan hiện miễn thị thực 60 ngày cho công dân của 93 quốc gia và tăng số quốc gia được cấp thị thực tại cửa khẩu (visa on arrival) từ 19 lên 31 nước trong năm nay. Nhờ vậy mà trong năm qua, Thái Lan đã đạt được mục tiêu đón gần 37 triệu lượt khách quốc tế
Riêng thủ đô Bangkok đứng đầu thế giới về lượng khách quốc tế đến, đạt con số kỷ lục 32,4 triệu người trong năm 2024, theo báo cáo thường niên của Euromonitor International, công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu có trụ sở tại Anh.
Chính sách visa chỉ là một trong những công cụ để thu hút du khách quốc tế. Để họ quay lại nhiều lần và chi tiêu nhiều hơn, ngành du lịch Việt Nam còn phải cải thiện chất lượng dịch vụ, mang đến cho du khách các trải nghiệm tốt nhất.
Riêng giám đốc công ty La Palanche Voyages Nguyễn Xuân Hải, một người sinh trưởng ở Hà Nội và công ty cũng đặt trụ sở Hà Nội, có một góp ý về quản lý các điểm du lịch ở thủ đô Việt Nam:
"Có những việc mà người ta cứ không quản lý được thì cấm. Ví dụ như là trong quá khứ gần, đã nhiều lần Hà Nội cấm du khách đến phố gọi là “phố đường tàu”, vì lý do nguy hiểm, vì lý do này nọ. Đồng ý, nhưng cái chính là vì họ chưa quản lý được, hoặc là không quản lý được, cho nên họ cấm và đấy là một điều thiệt thòi.
Phố đường tàu là chặng mà rất nhiều du khách đến, tức là đoạn từ Hà Nội về phía bắc, tới ga Lào Cai, Lạng Sơn, là đường tàu cổ nhất Đông Dương, đi qua cầu Long Biên, một trong những cây cổ duy nhất trong Hà Nội, mà mọi người rất thích đến khám phá. Lẽ ra phải phát triển nó, quản lý nó tốt hơn, chứ không phải là cấm nó.
Tôi tính nhanh như thế này: Nếu nhìn lịch tàu thì một ngày có khoảng 10 chuyến tàu đi từ Hà Nội về phía bắc, cả đi và về nhiều lắm là 20 chuyến, mỗi chuyến đi qua phố đường tàu chỉ mất từ 5 đến 10 phút, chả đáng bao nhiêu cả để mà cấm cả một chặng phố không cho khách đi vào, làm cho chúng tôi bị hạn chế trong việc cho du khách tìm được những góc sâu, xa và đặc thù, đặc biệt hơn của Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung."
From the publisher's feed
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam

221 Listeners

15 Listeners

6 Listeners

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

1 Listeners

12 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

24 Listeners

6 Listeners

0 Listeners