
Sign up to save your podcasts
Or


Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 22 Kinh Pháp Hoa (Chúc Lụy)
Phẩm Chúc Lụy (Phó Chúc) là phần Phật phó chúc Kinh Pháp Hoa cho các Bồ tát địa dũng và đại chúng, nhấn mạnh việc hộ trì, truyền bá kinh trong đời mạt pháp đầy ác trược. Phật khuyến khích các Bồ tát dùng thần lực bảo vệ người trì kinh, tránh ác ma quấy nhiễu, và khẳng định công đức vô lượng của việc thọ trì. Phẩm này củng cố sứ mệnh phổ độ chúng sinh qua Kinh Pháp Hoa, khuyến khích niềm tin kiên cố, thực hành nhẫn nhục, dẫn đến thành Phật và cứu độ muôn loài.
Toàn văn phẩm thứ 22: Chúc Lụy
Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật từ pháp tòa dậy, hiện sức thần thông lớn, dùng tay phải xoa đầu vô lượng các vị Bồ tát Ma ha tát mà làm lời nói này:
Ta ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức a tăng kỳ kiếp tu hành đạo Bồ đề khó được này, nay phó chúc cho các ông. Các ông phải một lòng thọ trì đọc tụng rộng nói kinh điển này cho người khác, khiến tất cả chúng sanh khắp đều nghe biết.
Vì sao? Vì Như Lai có lòng từ bi lớn, chẳng keo tiếc, cũng không khiếp nhược, hay đem Phật trí, Phật nhãn, Phật lực cho chúng sanh. Các ông ở đời vị lai phải dùng sức thần thông lớn của Như Lai mà trang nghiêm đó, hộ trì đọc tụng rộng nói kinh điển này, chớ để thiếu sót. Vì sao? Vì kinh Pháp Hoa này là thuốc hay tốt của chư Phật Như Lai, dùng đó tự trị cùng trị người khác. Nếu có chúng sanh nghe kinh này thời được xa lìa già bệnh chết khổ, được giải thoát.
Bấy giờ, các vị Bồ tát nghe Phật nói đó, đều rất vui mừng khắp thân sung sướng, càng thêm cung kính, cúi đầu chấp tay nhìn Phật mà bạch Phật rằng:
Chúng con sẽ vâng lời Phật dạy, cúi mong Phật chớ lo.
Các vị Bồ tát Ma ha tát ba lần đồng thanh bạch Phật rằng:
Chúng con sẽ vâng lời Phật dạy, cúi mong Phật chớ lo.
Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật khiến các phân thân Phật ở mười phương đều trở về bổn quốc mà bảo rằng:
Các Phật an ổn trở về bổn độ, tháp của Phật Đa Bảo cũng như cũ.
Nói lời đó rồi, mười phương phân thân chư Phật đều trở về bổn quốc, tháp Đa Bảo cũng như cũ.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 21 Kinh Pháp Hoa (Như Lai Thần Lực)
Phẩm Như Lai Thần Lực mô tả sức thần thông của chư Phật, khi Phật và các phân thân Phật dùng lưỡi rộng dài che phủ tam thiên đại thiên thế giới, phóng quang minh, và các hiện tượng kỳ diệu để chứng thực Kinh Pháp Hoa. Phật phó chúc kinh cho các Bồ tát địa dũng, nhấn mạnh việc hộ trì và truyền bá kinh trong đời mạt pháp, mang lại công đức vô lượng, giúp chúng sinh thành Phật. Phẩm này khẳng định uy lực của kinh, khuyến khích niềm tin và thực hành, dẫn đến giác ngộ.
Toàn văn phẩm thứ 21: Như Lai Thần Lực
Lúc bấy giờ, các vị Bồ tát Ma ha tát từ dưới đất vọt ra đông hơn số cát tám sông Hằng, ở giữa hư không chấp tay làm lễ mà bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Cúi mong Phật thọ ký cho chúng con được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ở cõi khác.
Lúc đó, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo các vị Bồ tát Ma ha tát:
Lành thay! Lành thay! Các thiện nam tử! Nay chính phải lúc các ông phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Tức thời các vị Bồ tát Ma ha tát đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay một lòng nhìn dung nhan Phật mà bạch Phật rằng:
Sau khi Phật diệt độ, chúng con sẽ ở cõi nước phương khác rộng nói kinh điển này, thọ trì đọc tụng giải nói viết chép.
Bấy giờ, ở trước các vị Bồ tát, Đức Thế Tôn tự nói tên mình mà bảo rằng:
Các thiện nam tử! Có Bồ tát Ma ha tát tên Di Lặc, cũng thọ ký của Phật: Đời vị lai sẽ thành Phật hiệu Di Lặc.
Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Chúng con cũng sau khi Phật diệt độ ở cõi nước phương khác rộng nói kinh điển này, thọ trì đọc tụng giải nói viết chép.
Bấy giờ, các vị Bồ tát Ma ha tát đồng thanh nói kệ rằng:
Chớ lo chúng con sẽ
Thọ trì kinh điển này
Sau khi Phật diệt độ
Ở cõi nước phương khác
Vì sao? Vì chúng con
Cũng tự nguyện ở đó
Thọ trì đọc tụng kinh
Giải nói kinh Pháp Hoa
Chúng con được sức mạnh
Trí huệ lớn của Phật
Nếu biết chúng sanh kia
Có lòng tin thanh tịnh
Dùng sức trí huệ Phật
Phân biệt biết lòng tin
Theo sức mà vì nói
Kinh này trọn đầy đủ
Như hư không vô biên
Công đức chẳng lường được
Vì vậy chúng con nguyện
Ở cõi nước phương khác
Đồng thời được cúng dường
Vô lượng chư Phật thảy
Cúi mong Phật chứng tri
Chớ nghi lòng chúng con.
Bấy giờ, Đức Phật biết lòng niệm sâu xa của các vị Đại Bồ tát mà bảo đại chúng:
Các ông thấy chăng? Các vị Đại Bồ tát này vô lượng vô biên bất khả tư nghì ở cõi Ta Bà này mà thọ trì kinh Pháp Hoa.
Bấy giờ, Đức Phật phóng bạch hào tướng quang minh, chiếu khắp phương Đông mười tám nghìn cõi nước, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Sắc Cứu Cánh. Ở trong cõi này thấy sáu nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa các vị Bồ tát Ma ha tát, mỗi mỗi vị tự hóa độ chúng sanh, cũng thấy sáu nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa các vị Bồ tát Ma ha tát thọ trì kinh Pháp Hoa mà diễn nói cho người.
Bấy giờ, Đức Phật bảo đại chúng:
Các ông thấy cõi Ta Bà các vị Đại Bồ tát đông nhiều như thế chăng? Nếu có người đếm trải qua nghìn muôn ức kiếp cũng chẳng hết được. Những vị Đại Bồ tát này đã ở chỗ ta lâu dài trồng căn lành, tu hành đạo Bồ tát, thường khéo tu Phạm hạnh. Khéo hay ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức các nghĩa, tên họ cũng hay khéo hay, hay vào hay xuất, hay biết căn tánh của chúng sanh, hay hiểu ý người khác, thường nói pháp thậm thâm, diễn âm thanh vi diệu.
Các thiện nam tử! Các vị Đại Bồ tát này do ta giáo hóa thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nay ta thọ ký cho các ông, đời vị lai các ông sẽ thành Phật.
Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và phân thân chư Phật ở mười phương đều duỗi lưỡi dài rộng đến Phạm thiên cung, từ miệng phóng vô lượng vô số quang minh sắc, mỗi mỗi quang minh đều hiện trăm nghìn sắc. Các bảo tháp đều từ dưới đất vọt lên trụ giữa hư không, các tháp đó đều dùng vô lượng tràng phan, anh lạc, linh báu mà nghiêm sức. Các bảo tháp đều vang ra tiếng khen ngợi Phật rằng: "Hay thay! Hay thay! Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni! Hay nói kinh Pháp Hoa đại thừa giáo Bồ tát pháp, Phật sở hộ niệm. Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói."
Lúc đó, các vị Đại Bồ tát vì kính trọng Phật mà phát nguyện: "Chúng con sẽ rộng nói kinh này ở cõi khác, vì chúng con được sức thần của Phật."
Bấy giờ, Đức Phật biết lòng các vị Đại Bồ tát, bảo các Tỳ kheo:
Các vị Đại Bồ tát số đông vô lượng, ở cõi Ta Bà này mà thọ trì kinh Pháp Hoa. Sau khi ta diệt độ, các ông nếu thấy các vị Bồ tát thọ trì đọc tụng kinh này, nên biết đó là gần Phật vậy.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Nếu muốn nói kinh này
Nên bỏ lòng ghen ghét
Sau khi ta diệt độ
Nếu cầu Phật đạo vậy
Thường phát nguyện lớn này
Làm sứ giả của Phật
Gần gũi không dua nịnh
Chẳng ưa hàng Thanh văn
Cũng chẳng ghét ác nhân
Chuyên tu thiền định vậy
Dùng trí huệ phương tiện
Hộ trì tâm chư Phật
Ở trước vô lượng Phật
Được thọ ký tối thượng
Làm đại từ bi phụ
Khắp đầy các cõi nước
Phân biệt diễn nói pháp
Vì các chúng sanh vậy
Biết chúng sanh tánh dục
Dùng các nhân duyên nói
Các thứ thí dụ vậy
Khiến đều được hoan hỷ
Hoặc dùng kệ ngợi khen
Hoặc nói bổn sanh sự
Bổn sự cùng nhân duyên
Vô lượng các nghĩa dụ
Khai ngộ các chúng sanh
Suốt ngày lẫn suốt đêm
Thường dùng pháp tu hành
Thường ở trong tam muội
Tu vô lượng trí huệ
Nghe pháp từ chư Phật
Cúng dường các vật báu
Thiên kim và bách dược
Thiên y cùng các thực
Vô lượng các bảo cụ
Đầy dẫy các kho tàng
Cúng dường các Đức Phật
An trụ diệu pháp địa
Mà nói kinh Pháp Hoa
Công đức chẳng lường được.
Nếu có người ác tâm
Dùng拳 đánh hoặc mắng
Dao gậy mà não hại
Thường ôm lòng nhẫn nhục
Lại nếu thấy người được
Đạo quả A la hán
Sanh lòng tin thanh tịnh
Làm các việc cúng dường
Ở trong tám mươi ức
Kiếp số đẹp trang nghiêm
Dùng đó cúng dường rồi
Mà được thấy chư Phật
Công đức người như thế
Chẳng bằng Bồ tát mới
Phát tâm ở đời mạt
Thọ trì kinh Pháp Hoa
Công đức hơn trên kia
Vô lượng vô biên vậy
Huống lại người thọ trì
Đọc tụng hiểu nghĩa kinh
Công đức rất vô thượng
Dùng tay mà sờ đến
Cũng chẳng kịp được vậy
Nếu biên chép cúng dường
Rải hoa hương trang nghiêm
Dùng chiên đàn trầm thủy
Hương bột mà đốt thắp
Nếu cúng dường như thế
Cũng chẳng kịp được vậy
Dầu ở đời ác trược
Thọ trì kinh này vậy
Nhẫn nhục không sân hận
Công đức rất lớn lao
Như ta nói ở trên
Dùng lưỡi rộng dài đó
Phóng vô lượng quang minh
Trải trăm nghìn năm vậy
Nếu có người ở trước
Đức Phật mà nói kinh
Nghe rồi được hoan hỷ
Đó là tướng thứ nhất
Ở chỗ ở tôn trọng
Thường ưa ngồi thiền định
Cùng với người hiền lành
Phân biệt nghĩa kinh vậy
Đó là tướng thứ hai
Ra khỏi pháp hội rồi
Đến chỗ khác nói kinh
Dù chỉ chốc lát nghe
Cũng được hoan hỷ vậy
Đó là tướng thứ ba
Có người hay thọ trì
Phân loại các kinh điển
Sau khi Phật diệt độ
Vì bốn chúng mà nói
Đó là tướng thứ tư
Thường một lòng nghĩ Phật
Vì vậy được cúng dường
Nghe kinh Pháp Hoa này
Mà sanh lòng hoan hỷ
Đó là tướng thứ năm
Ở đời mạt pháp sau
Hay nói kinh Pháp Hoa
Vì nói cho người khác
Khiến tin hiểu thọ trì
Đó là tướng thứ sáu.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 20 Kinh Pháp Hoa (Thường Bất Khinh Bồ Tát)
Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát kể về vị Bồ tát trong quá khứ luôn lễ lạy và nói với mọi người: "Tôi không dám khinh các ngài, các ngài đều sẽ thành Phật", dù bị mắng nhiếc, đánh đập. Qua đó, Phật dạy về hạnh nhẫn nhục, tôn trọng Phật tánh bình đẳng trong mọi chúng sinh, và công đức của việc tin nhận Kinh Pháp Hoa sẽ dẫn đến thành Phật, khuyến khích hành giả thực hành từ bi, không khinh khi ai, vì tất cả đều có tiềm năng giác ngộ.
Toàn văn phẩm thứ 20: Thường Bất Khinh Bồ Tát
Bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Bồ tát và đại chúng:
Các ông có nghe vô lượng công đức của Bồ tát Ma ha tát chăng? Nếu có người thọ trì kinh Pháp Hoa, dù chỉ một kệ bốn câu, đọc tụng thông lợi, tư duy nghĩa thú, thời đồng thời được sáu căn thanh tịnh. Các thiện nam tử! Sáu căn thanh tịnh đó có công đức lớn.
Bấy giờ, Đức Phật vì muốn khiến đại chúng được lợi ích, liền nói phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát.
Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp, có Phật hiệu Vân Lôi Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Cõi nước tên Quang Minh Trang Nghiêm Kiếp, kiếp tên Hỷ Kiến.
Trong pháp của Vân Lôi Âm Vương Phật, có vị Tỳ kheo tên Thường Bất Khinh. Vì sao tên Thường Bất Khinh? Vì vị Tỳ kheo đó phàm gặp Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, liền lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: "Tôi sâu kính các ngài, chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì các ngài đều hành Bồ tát đạo, sẽ được thành Phật."
Vị Tỳ kheo đó chẳng chuyên đọc tụng kinh điển, chỉ hành lễ lạy, nhẫn đến ở xa thấy hàng tứ chúng, cũng đặc biệt đến lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: "Tôi chẳng dám khinh các ngài, vì các ngài sẽ thành Phật."
Trong hàng tứ chúng có kẻ sanh lòng giận sân, ý chẳng sạch, mắng nhiếc rằng: "Ông Tỳ kheo vô trí này từ đâu đến, tự nói tôi chẳng khinh ông, mà lại thọ ký chúng ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chúng ta đâu cần thọ ký như thế."
Trải qua nhiều năm thường bị mắng nhiếc, chẳng sanh lòng giận, thường nói lời đó: "Các ngài sẽ thành Phật." Khi nói lời đó, những kẻ đó hoặc dùng gậy cây đánh đập, hoặc dùng ngói đá ném ném, bèn tránh xa mà vẫn cao tiếng nói: "Tôi chẳng dám khinh các ngài."
Mạng chung đến lúc, ở giữa hư không được nghe Vân Lôi Âm Vương Phật trước nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cùng hàng tứ chúng đồng được nghe, liền được sáu căn thanh tịnh, hoan hỷ được sức thần thông, thọ mạng dài lâu, lại vì chúng sanh phân biệt diễn nói kinh điển này.
Những kẻ mắng nhiếc vị Bồ tát đó, được gặp nghìn Phật, rộng nói kinh này, công đức đầy đủ, cũng được sáu căn thanh tịnh. Các ông nên biết vị Tỳ kheo đó thời là thân ta, còn những kẻ mắng nhiếc thời là các ông trong hội này.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Ta nhớ đời quá khứ
Vô lượng vô số kiếp
Có Phật hiệu Vân Lôi
Âm Vương ra ở đời
Vì người trời nói pháp
Bốn đế cùng mười hai
Nhân duyên sáu Ba la
Mật cùng Đại thừa kinh
Vì cầu Phật đạo nên
Ta ở trong pháp đó
Thường hành lễ lạy nói
Các ngài đều thành Phật
Lúc đó có kẻ giận
Mắng nhiếc cùng đánh đập
Ta nhẫn chẳng sanh sân
Trải nhiều năm như thế
Mạng chung được nghe kinh
Pháp Hoa sáu căn sạch
Vì lòng từ bi lớn
Nhẫn những việc khó nhẫn
Những kẻ mắng ta đó
Nay ở trong hội này
Chính là Bồ tát chúng
Năm trăm vị ở đây
Và các tứ chúng khác
Nam nữ đồng nghe pháp
Ở đời vị lai thảy
Được sáu căn thanh tịnh
Vì người mà diễn nói
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Bấy giờ, năm trăm vị Bồ tát trong hội được thọ ký, hoan hỷ nhảy nhót, từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lễ chân Phật mà bạch Phật rằng:
Chúng con ở đời quá khứ thường bị mắng nhiếc, nay được nghe kinh Pháp Hoa, mỗi mỗi chúng con được công đức vô lượng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết lòng các Bồ tát đó, liền bảo rằng:
Lành thay! Các ông nay được lợi ích lớn, được sáu căn thanh tịnh.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 19 Kinh Pháp Hoa (Pháp Sư Công Đức)
Phẩm Pháp Sư Công Đức mô tả công đức vô lượng của những người thọ trì, đọc tụng, giảng nói Kinh Pháp Hoa, được gọi là Pháp sư. Phật dạy rằng người Pháp sư sẽ được sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) thanh tịnh, tăng trưởng trí huệ, thấy biết xa rộng, vượt qua phàm tình, và được chư Phật hộ niệm. Phẩm này khuyến khích hành giả trở thành Pháp sư, nhấn mạnh lợi ích của việc truyền bá kinh, giúp chúng sinh giác ngộ, và khẳng định Kinh Pháp Hoa mang lại phúc lợi hiện tại lẫn vị lai.
Toàn văn phẩm thứ 19: Pháp Sư Công Đức
Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Thường Tinh Tấn Bồ tát Ma ha tát:
Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, người đó sẽ được tám trăm công đức mắt, một nghìn hai trăm công đức tai, tám trăm công đức mũi, một nghìn hai trăm công đức lưỡi, tám trăm công đức thân, một nghìn hai trăm công đức ý.
Những công đức đó trang nghiêm sáu căn, đều khiến thanh tịnh. Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó dùng nhục nhãn cha mẹ sanh thanh tịnh, thấy trong tam thiên đại thiên thế giới, trong ngoài núi Tu Di, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, cùng các núi khác, rừng lớn, sông lớn, biển lớn, cho đến dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh. Các chúng sanh trong đó cùng nghiệp báo chỗ thọ sanh thảy đều thấy biết. Dầu chưa được thiên nhãn mà nhục nhãn thế lực như thế.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Nếu ở trong đại chúng
Dùng lòng không sợ sệt
Có thể vì nói được
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Ông nghe công đức đó
Như ta nay sẽ nói
Người đó được tám trăm
Công đức mắt thù thắng
Do công đức trang nghiêm
Nhục nhãn rất thanh tịnh
Dùng nhục nhãn cha mẹ
Sanh mà thấy khắp nơi
Núi rừng sông biển cả
Dưới đến A tỳ ngục
Trên đến Hữu Đảnh trời
Trong đó các chúng sanh
Thảy đều thấy hết thảy
Dầu chưa được thiên nhãn
Nhục nhãn lực như thế.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm công đức tai. Dùng tai thanh tịnh đó nghe tất cả các thứ tiếng trong tam thiên đại thiên thế giới, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh, trong đó các thứ tiếng: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trâu, tiếng khóc, tiếng buồn, tiếng trống, tiếng chuông, tiếng ốc, tiếng tù và, tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng tiêu, tiếng hát, tiếng ca, tiếng nam, tiếng nữ, tiếng đồng tử, tiếng đồng nữ, tiếng pháp, tiếng phi pháp, tiếng khổ, tiếng vui, tiếng phàm phu, tiếng Thánh nhân, tiếng khả ý, tiếng bất khả ý, thảy đều được nghe hết. Dầu chưa được thiên nhĩ mà dùng sức tai cha mẹ sanh tự nhiên nghe như thế.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Tai cha mẹ sanh ra
Thanh tịnh chẳng ô nhiễm
Dùng tai thường nghe biết
Ba nghìn thế giới tiếng
Tiếng trời, người, địa ngục
Ngạ quỷ, súc sanh thảy
Voi ngựa xe trâu dê
Tiếng bán buôn kỹ nhạc
Tiếng trống tù và chuông
Tiếng cười tiếng nói thảy
Tiếng nam nữ đại tiểu
Tiếng pháp phi pháp thảy
Tiếng khổ tiếng vui mừng
Tiếng phàm tiếng Thánh thảy
Hoặc khả hoặc bất khả
Thảy đều nghe hết thảy
Lại nghe các trời tiếng
Ca hát âm thanh vang
Cùng nghe nam nữ trời
Ca hát tiếng âm nhạc
Hoặc ở trên núi non
Ca hát tiếng âm thanh
Các loài chim như ca
Lăng già, mạng mạng thảy
Các thứ tiếng như thế
Thảy đều nghe hết thảy
Dưới địa ngục khổ đau
Vô lượng các thứ tiếng
Ngạ quỷ đói khát bức
Cầu thực phát tiếng lớn
A tu la các loại
Ở biển nói tiếng lớn
Các thứ tiếng như thế
Người hay trì kinh này
Ở gần mà nghe thảy
Dầu chưa được thiên nhĩ
Nhưng dùng tai tự nhiên
Nghe biết như thế đó
Tai công đức thù thắng.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được tám trăm công đức mũi. Dùng mũi thanh tịnh đó ngửi tất cả các mùi trong tam thiên đại thiên thế giới, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh: mùi chiên đàn, mùi đa ma la bạt, mùi hương hoa sen, mùi hoa ưu bát la, mùi hoa bà sư, mùi hoa mạn đà la, mùi hương bột, mùi hương xoa, mùi hương đốt, mùi hương hoa, mùi hương trái, mùi nhân sinh, mùi nam nữ, mùi cỏ cây rừng rú, mùi voi, mùi ngựa, mùi trâu, mùi dê, mùi xe, mùi thuốc, mùi dầu, thảy đều ngửi biết, không lầm lẫn. Dầu chưa được Bồ tát pháp tánh mũi mà mũi có thế lực như thế.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Mũi người đó thanh tịnh
Trong thế giới này đây
Tất cả các thứ mùi
Thơm thối thảy đều ngửi
Chiên đàn đa ma la
Đa ma diệp hương thảy
Các thứ hoa quả mùi
Và các mùi chúng sanh
Mùi nam nữ đại tiểu
Người nói pháp xa ngửi
Biết chỗ ở của đó
Chuyển luân đại đế vương
Tiểu vương cùng quyến thuộc
Ngửi mùi biết chỗ ở
Các thứ trân bảo tốt
Như châu báu Như ý
Voi ngựa bảy báu thảy
Ngửi mùi biết chỗ ở
Trên thân Phật trang nghiêm
Chuỗi anh lạc ngửi mùi
Biết chỗ ở của đó
Các trời ở trên đỉnh
Cung điện cùng vườn cây
Ngửi mùi biết chỗ ở
Hoặc ngửi các hương thơm
Hoặc ngửi các hoa đẹp
Hoặc ngửi các trái cây
Hoặc ngửi các thuốc hay
Hoặc ngửi mùi chúng sanh
Thảy đều biết chỗ ở
Như Lai ở mười phương
Nói pháp độ chúng sanh
Ngửi mùi biết chỗ ở
Dầu chưa được Bồ tát
Pháp tánh mũi thanh tịnh
Mà mũi có thế lực
Thường ngửi biết như thế.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm công đức lưỡi. Nếu có ngon xấu, khả ý bất khả ý, hoặc đắng hoặc chát, hoặc mặn hoặc lạt, hoặc ngọt hoặc cay, hoặc thô hoặc tế, thảy ở trên lưỡi đều hóa thành vị cam lồ thượng diệu. Nếu ở trong chúng dùng lưỡi diễn nói, thảy đều hoan hỷ tín thọ. Dầu chưa được Bồ tát vô ngại biện tài mà lưỡi có thế lực như thế.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Người đó lưỡi công đức
Hay phát tiếng vi diệu
Khiến trong đại chúng sanh
Lòng đều nhu nhuyễn vui
Dùng lời nhu nhuyễn hay
Giải thích các kinh điển
Diễn nói nghĩa sâu xa
Khiến thảy đều hoan hỷ
Các trời rồng thần thảy
A tu la ca lầu
La khẩn na la thảy
Cũng cung kính nghe theo
Lại nếu dùng lưỡi nói
Khiến các chúng sanh thảy
Đều được vui mừng lớn
Trời mưa hoa mạn đà
La cùng chiên đàn hương
Và các thứ hương bột
Cùng các thứ trân bảo
Đẹp đẽ để cúng dường
Người nói pháp cùng Tăng
Và các trời đại lực
Cung điện cùng vườn cây
Thảy đều đến nghe pháp
Phật biết lòng sâu đó
Nên hộ trì ủng hộ
Mưa pháp khiến vui mừng
Một phen người đó nói
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Dù chỉ trong giây lát
Công đức như thế đó
Huống người rộng nói hết.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được tám trăm công đức thân. Thân đó thanh tịnh như lưu ly sạch, chúng sanh ưa nhìn. Do thân thanh tịnh nên trong tam thiên đại thiên thế giới chúng sanh sanh tử, hoặc xấu hoặc đẹp, hoặc tốt hoặc xấu, hoặc khổ hoặc vui, thảy hiện trong thân, cùng núi Thiết Vi, Đại Thiết Vi, Tu Di, các núi, thảy đều hiện trong đó, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh, các chúng sanh và nghiệp nhân quả thảy hiện trong đó. Dầu chưa được thân kim cương mà thân thanh tịnh như thế.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Người trì kinh Pháp Hoa
Thân rất là thanh tịnh
Như lưu ly sạch trong
Chúng sanh ưa nhìn ngắm
Lại trong thân thanh tịnh
Hay hiện tất cả việc
Chỉ dùng thân sạch đó
Vì chúng mà thị hiện
Các việc trong ba cõi
Hoặc khổ hoặc vui mừng
Như Lai biết rõ hết
Mà vì chúng thị hiện
Người trì kinh Pháp Hoa
Công đức thân như thế
Dầu chưa được pháp thân
Vô lậu kim cương sắc
Mà thân có thế lực
Thanh tịnh sáng sạch vậy.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó sau khi Như Lai diệt độ, thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm ý công đức. Dùng ý căn thanh tịnh như thế, dù nghe một kệ, một câu thảy thâm nhập vô lượng vô biên nghĩa lý. Hiểu nghĩa lý như thế rồi, có thể diễn nói một câu, một kệ đến tháng, bốn tháng, nhẫn đến một năm. Các pháp trong ngoài mà ý căn nghe thảy không trái không sai.
Nếu nói thế tục sách vở, trị thế ngôn từ, các việc nuôi sống, cũng đều thuận theo chánh pháp. Trong tam thiên đại thiên thế giới sáu loài chúng sanh, tâm hành như thế nào, tâm tướng như thế nào, tâm tưởng như thế nào, dùng ý căn thanh tịnh đó thảy biết hết. Dầu chưa được vô lậu trí mà ý căn thanh tịnh có thế lực như thế.
Thường Tinh Tấn! Người Pháp sư này dùng ý căn thanh tịnh nghe các pháp, thảy đều không trái không sai, tùy chỗ nghi mà vì đó phân biệt.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Ý căn người đó sạch
Sáng sạch không cấu uế
Dùng ý biết các pháp
Từ sơ đến rốt ráo
Thảy đều biết hết thảy
Phân biệt không sai lầm
Tùy nghi mà diễn nói
Đều thuận chánh pháp vậy
Sau khi ta diệt độ
Nếu có người hay nói
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Ý căn người đó sạch
Dù chỉ nghe một câu
Thâm nhập vô biên nghĩa
Diễn nói trong một tháng
Bốn tháng một năm thảy
Trong thế giới này đây
Tất cả các chúng sanh
Trời rồng quỷ thần thảy
Người cùng phi nhân loại
Ở trong sáu đường đó
Tâm tưởng như thế nào
Do công đức ý căn
Đều khiến biết hết thảy
Vô lượng chư Phật mười phương
Trang nghiêm công đức thành
Nghe kinh mà tùy hỷ
Cũng biết hết thảy đó
Lại nghe một kệ kinh
Phân biệt vô biên nghĩa
Thuận pháp thứ lớp nói
Một tháng bốn tháng năm
Khi nói pháp như thế
Trong thế giới này đây
Trong ngoài các chúng sanh
Trời rồng người quỷ thần
Số đông bao nhiêu đó
Tâm hành như thế nào
Đều khiến biết hết thảy
Vì thọ trì kinh này
Được ý căn thanh tịnh
Dầu chưa được vô lậu
Mà hay biết như thế
Người trì kinh này được
Công đức ý căn đó
Dùng đó rộng phân biệt
Không có chút sợ sệt
Như sư tử rống vang
Nói kinh Pháp Hoa này
Như gió thổi mây nhỏ
Mà hay tan hết thảy
Khéo biết các pháp tướng
Biết thứ lớp Niết bàn
Mười phương đất chấn động
Ma chúng lòng sợ hãi
Vô lượng chư Như Lai
Nói kinh Pháp Hoa này
Người hay kính thọ trì
Ở đời mạt pháp sau
Được công đức như thế
Như trên đã nói rồi.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 18 Kinh Pháp Hoa (Tùy Hỷ Công Đức)
Phẩm Tùy Hỷ Công Đức nhấn mạnh công đức vô lượng của những người nghe Kinh Pháp Hoa và sanh lòng tùy hỷ (vui theo), dù chỉ nghe một phần nhỏ. Phật dùng các ví dụ để minh họa rằng công đức từ việc tùy hỷ, truyền bá kinh cho người khác vượt trội hơn bố thí vật chất hay cúng dường. Phẩm này khuyến khích hành giả không chỉ nghe mà còn chia sẻ kinh với người khác, tạo chuỗi công đức liên tục, dẫn đến thành tựu Phật quả, khẳng định sức mạnh của niềm vui và lòng tin trong việc tu hành.
Toàn văn phẩm thứ 18: Tùy Hỷ Công Đức
Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh Pháp Hoa này mà tùy hỷ, được bao nhiêu phước?
Liền nói kệ hỏi rằng:
Sau khi Thế Tôn diệt
Nếu có người nghe kinh
Mà sanh lòng tùy hỷ
Được phước đức bao nhiêu?
Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ tát:
Di Lặc! Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc người trí khác, hoặc lớn hoặc nhỏ, nghe kinh này mà tùy hỷ, ra khỏi pháp hội đến chỗ khác, hoặc ở trong Tăng già lam, hoặc chỗ vắng vẻ, hoặc trong thành phố, đường sá, làng xóm, hoặc nói cho cha mẹ, quyến thuộc, thiện hữu tri thức theo chỗ mình hiểu mà nói, những người đó nghe rồi đều tùy hỷ.
Lại có người nghe rồi lại đến chỗ khác nói, người kia nghe rồi cũng tùy hỷ, như thế truyền mãi đến người thứ năm mươi. Di Lặc! Công đức tùy hỷ của người thứ năm mươi nay ta sẽ nói, ông lắng nghe kỹ.
Ví như trong bốn trăm muôn ức a tăng kỳ thế giới sáu loài chúng sanh, hình sắc, hình tướng, hình lượng, hình mạo khác nhau, hoặc ưa sắc đẹp, hoặc ưa hình dáng, hoặc ưa thể chất, hoặc ưa oai nghi, những chúng sanh đó, nếu có người dùng các món vui để bố thí, thời người đó được phước rất nhiều.
Di Lặc! Nếu có người đem phước đó bố thí đầy bốn trăm muôn ức a tăng kỳ thế giới chúng sanh, được phước cũng nhiều, nhưng không bằng công đức tùy hỷ của người thứ năm mươi nghe kinh Pháp Hoa một bài kệ bốn câu mà tùy hỷ, phần trăm, phần nghìn, phần muôn ức, một phần nhỏ cũng không bằng kịp. Vì sao? Vì kinh Pháp Hoa này là chỗ chư Phật Như Lai bí mật, ở trong các kinh là bậc nhất, nếu có người nghe mà tùy hỷ ngợi khen, công đức vô lượng.
Di Lặc! Người thứ năm mươi nghe kinh Pháp Hoa tùy hỷ, công đức còn vô lượng, huống là người thứ nhất nghe mà tùy hỷ, công đức càng vô thượng vô lượng vô biên.
Di Lặc! Nếu có người vì kinh này đến Tăng già lam nghe kinh Pháp Hoa, trong khoảng giây lát nghe mà tùy hỷ ngợi khen, công đức người đó ở đời sau sẽ được sanh vào nhà giàu sang, hình dung đẹp đẽ, các căn thông lợi, trí huệ biện tài. Lại sanh chỗ nào cũng được mọi người kính trọng, chẳng bị khinh khi, miệng thường nói lời vui vẻ, nếu làm Tỳ kheo thời được A la hán quả, đủ tám giải thoát.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Nếu người ở pháp hội
Nghe thọ mạng Phật dài
Dù chỉ trong giây lát
Tùy hỷ công đức đó
Nay ta sẽ nói rõ
Ông nên lắng nghe kỹ
Giả sử có người dạy
Đầy dẫy khắp mười phương
Các loài sáu đường sanh
Hình tướng khác nhau thảy
Dùng các món vui đẹp
Bố thí đầy kiếp số
Được phước rất lớn lao
Nhưng không bằng người nghe
Kinh điển này tùy hỷ
Phần muôn một chẳng kịp
Huống người đầu tùy hỷ
Nếu người khuyên một người
Dẫn đến khiến nghe pháp
Mà nói kinh này hay
Nên nghe trong giây lát
Người đó được công đức
Ở đời sau được sanh
Vào nhà giàu sang tốt
Hình dung đẹp đẽ lạ
Các căn rất thông lợi
Trí huệ biện tài giỏi
Sinh chỗ nào cũng được
Mọi người đều kính trọng
Chẳng bị ai khinh khi
Miệng hay nói vui vẻ
Nếu có xuất gia tu
Được quả A la hán
Đủ tám giải thoát lớn
Công đức lớn như thế
Huống nhiều khuyên người nghe
Nếu người ở pháp hội
Nghe kinh Pháp Hoa này
Một kệ hay một câu
Hoặc một niệm tùy hỷ
Như thế đến người thứ
Năm mươi đều tùy hỷ
Công đức người thứ năm
Mươi vô lượng vô biên
Chẳng thể thí dụ kịp
Huống người đầu pháp hội
Nghe mà tùy hỷ vậy
Lại nếu có người nghe
Tùy hỷ mà nói cho
Quyến thuộc cùng thân hữu
Truyền mãi đến năm mươi
Công đức người sau cùng
Nay ta sẽ nói rõ
Ví như nạn đói lớn
Trải qua vô số năm
Lúa thóc rất khó được
Giá rất là đắt đỏ
Có người cầm vàng đến
Nước khác mua được gạo
Gạo lẫn cát sạn đất
Nửa ngon nửa xấu vậy
Lúc đó có quốc vương
Đến làm Chuyển luân vương
Người đó đem gạo xấu
Dâng vương được quả báo
Làm vương tử giàu sang
Huống đem gạo tốt dâng
Như Lai cũng như vậy
Là vua trong ba cõi
Tự tại chẳng bị chướng
Vì lòng đại bi thương
Hiện ở đời ác trược
Vì kẻ phước mỏng cạn
Mà nói kinh Pháp Hoa
Nếu người hay thọ trì
Đó là gạo tốt vậy
Người thứ nhất nghe kinh
Tùy hỷ mà truyền nói
Đó là vương tử vậy
Truyền mãi đến năm mươi
Công đức người sau cùng
Cũng hơn người bố thí
Vô lượng các trân bảo
Như trên đã nói rồi
Chẳng thể nghĩ bàn kịp
Huống người đầu pháp hội
Nghe mà tùy hỷ vậy
Nếu người khuyên nhiều người
Làm cho đều nghe kinh
Công đức người đó được
Sau khi mạng chung rồi
Đồng với Đà la ni
Sanh một chỗ với Phật
Trí huệ rất sáng suốt
Biện tài trăm nghìn muôn
Ức kiếp không thể kể
Hơi thở như hương chiên
Đàn từ miệng bay ra
Thường nói kinh Pháp Hoa
Công đức lớn như thế
Huống người đầu tùy hỷ.
Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát nói kệ khen rằng:
Thế Tôn nói pháp hay
Lâu nay chưa từng có
Công đức như trên nói
Rất lớn vô lượng vậy
Nếu có người nghe rồi
Tùy hỷ không nghi lầm
Ta nói người đó chắc
Thường gặp Phật không nghi.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 17 Kinh Pháp Hoa (Phân Biệt Công Đức)
Phẩm Phân Biệt Công Đức mô tả công đức vô lượng của những ai nghe Phật thọ mạng dài lâu trong phẩm trước và phát tâm hoan hỷ, tin nhận Kinh Pháp Hoa. Phật dùng các ví dụ về số lượng kiếp, chúng sinh để minh họa công đức từ việc nghe, tin, nói, viết kinh, thậm chí chỉ một niệm hoan hỷ cũng mang lại phước báo lớn lao, dẫn đến thành Phật. Phẩm này khuyến khích hành giả siêng năng tu tập, khẳng định giá trị tối thượng của Kinh Pháp Hoa trong việc tích lũy công đức và giác ngộ.
Toàn văn phẩm thứ 17: Phân Biệt Công Đức
Bấy giờ, đại hội nghe Phật nói thọ mạng kiếp số lâu xa như thế, được lợi ích lớn chưa từng có. Đức Thế Tôn biết lòng đại chúng đều sanh lòng hoan hỷ sâu xa, liền bảo Ngài Di Lặc Bồ tát rằng:
Di Lặc! Khi ta nói thọ mạng của Như Lai lâu xa như thế, có sáu trăm tám mươi muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh được Vô sanh pháp nhẫn.
Lại có nghìn lần Bồ tát Ma ha tát được Vô sanh pháp nhẫn, được nghe pháp tổng trì. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ tát được nhạc thuyết vô ngại biện. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ tát được trăm nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ đà la ni môn.
Lại có bốn thế giới vi trần số Đại Bồ tát được bốn vô ngại trí. Lại có ba thế giới vi trần số Đại Bồ tát được ba vô ngại trí. Lại có hai thế giới vi trần số Đại Bồ tát được hai vô ngại trí. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ tát được một vô ngại trí. Lại có bốn tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát đầy đủ tám bộ Đại thừa pháp tạng. Lại có bốn tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát được bốn vô lượng tâm. Lại có ba tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát trụ địa A duy việt chí. Lại có hai tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát trụ địa Bất thối chuyển. Lại có tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát trụ địa Hoan hỷ. Lại có tám thế giới vi trần số Đại Bồ tát được Đà la ni môn. Lại có bốn thế giới vi trần số Đại Bồ tát được bốn vô ngại biện.
Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu đi nhiễu ba vòng, chấp tay mà bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Lời nói sâu xa đó chưa từng có, khiến chúng sanh được công đức lớn. Bạch Thế Tôn! Như Lai thọ mạng dài lâu như thế, các chúng sanh nghe rồi, hoặc tin hoặc chẳng tin, được công đức bao nhiêu?
Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ tát:
Di Lặc! Khi ta nói thọ mạng Như Lai lâu xa, có sáu trăm tám mươi muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh được Vô sanh pháp nhẫn. Lại có nghìn lần Bồ tát Ma ha tát được nghe pháp tổng trì. Lại có một thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát được lạc thuyết vô ngại biện. Lại có một thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát được trăm nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ các đà la ni môn.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Ta nhớ kiếp quá khứ
Vô lượng vô số kiếp
Có Phật ra ở đời
Hiệu Đại Thông Trí Thắng
Trước khi Phật xuất gia
Đã có mười sáu con
Vì Phật ra ở đời
Cùng thầy đi nghe pháp
Vì cầu Phật đạo nên
Đều theo Phật xuất gia
Những đồng tử thuở trước
Siêng tu hành Phật đạo
Nay đều được hiện tiền
Và được thọ ký rồi
Ta ở các cõi xấu
Nói pháp cho chúng sanh
Dùng các việc nhân duyên
Dẫn dắt khiến vào đạo
Từ ta thành Phật rồi
Thường ở cõi Ta Bà
Thọ mạng vô lượng kiếp
Thường trụ chẳng diệt độ
Các ông chớ tin vậy
Vì chưa hết khổ gốc
Từ lâu phát nguyện rằng
Nguyện khiến các chúng sanh
Đầy đủ khắp mười phương
Đều được vui như ta
Ta hiện thần thông lực
Trong a tăng kỳ kiếp
Thường ở núi Kỳ Xà
Và các trụ xứ khác
Chúng nghe ta nói pháp
Thấy thời kiếp thiêu đốt
Các khổ đầy dẫy khắp
Chư thiên và nhân loại
Cùng các loài bần khổ
Vì đó ta phương tiện
Hiện tướng Niết bàn đây
Mà nói các pháp thật
Các ông nay đã thấy
Ta thường trụ nơi này
Dùng sức thần thông vậy
Khiến chúng điên đảo kia
Dầu gần mà chẳng thấy
Tất cả thấy thân ta
Nghe pháp tin thọ vậy
Vì những kẻ hạ căn
Hiện thân diệt độ đây
Nếu chưa trừ được dục
Chẳng nói thọ mạng thật
Đến lúc dục hết rồi
Mới hiện thọ mạng thật.
Phật nói lời như thế
Công đức chẳng lường được
Ví như có người nói
Phật nay nhập Niết bàn
Nghe rồi chẳng kinh sợ
Mà sanh lòng hy hữu
Được công đức vô lượng
Như trên đã nói rồi
Lại các thiện nam tử
Sau khi ta diệt độ
Người hay thọ trì kinh
Đọc tụng kinh Pháp Hoa
Công đức của người đó
Nay ta sẽ phân biệt
Ở trong năm mươi kiếp
Giả sử có chúng sanh
Hoan hỷ trong khoảng khảy
Móng tay mà tin kính
Công đức người đó nhiều
Hơn người thí cúng dường
Vô lượng cõi thế giới
Voi ngựa cùng thất bảo
Và các thứ xe cộ
Da dê và các tòa báu
Vợ con cùng tôi tớ
Bố thí cầu công đức
Công đức người hoan hỷ
Tin kính trong chốc lát
Nhiều hơn người bố thí
Gấp trăm nghìn muôn ức
Lần người kia công đức
Nếu lòng rất vui mừng
Tin Phật thọ mạng dài
Công đức chẳng lường được
Ví như hư không đông
Tây nam bắc bốn phía
Trên dưới không ngằn mé
Công đức cũng như thế
Vô lượng vô biên vậy
Huống lại người thọ trì
Đọc tụng hiểu nghĩa kinh
Và theo kinh tu hành
Kiêm khiến người khác tu
Công đức rất nhiều hơn
Nếu ở trước tháp miếu
Tượng vẽ và các hoa
Kỹ nhạc cùng hợp chưởng
Cung kính mà ngợi khen
Hoặc có người khuyến người
Làm nhạc hoặc vui cười
Vì cúng dường kinh điển
Chốc lát phát âm thanh
Người đó ở đời sau
Được thành Phật trí huệ
Nếu ở trong đời mạt
Có người hay thọ trì
Kinh điển này thời phước
Nhiều hơn người kia lắm
Nếu có người thọ trì
Kinh điển này rồi đem
Tặng cho người khác nữa
Hoặc khiến người sao chép
Công đức chẳng lường được
Huống lại người cúng dường
Kinh điển bằng hoa hương
Chuỗi ngọc cùng hương bột
Hương xoa hương đốt thảy
Lọng phan cùng tàn cái
Các thứ âm nhạc hay
Hoặc đốt các đèn dầu
Đèn mỡ đèn hương thắp
Cúng dường kinh điển này
Công đức vô lượng vậy
Đời ác có kinh này
Nếu người hay thọ trì
Hoặc Bồ tát hoặc Phật
Ta sanh lòng vui mừng
Những người như thế đó
Biết là sứ giả Phật
Vì lợi ích chúng sanh
Đến ở cõi Ta Bà
Để nghe kinh Pháp Hoa
Một phen nghe rồi vui
Công đức vô lượng vậy
Huống ở trong đại chúng
Vì người phân biệt nói
Theo đó mà thọ trì
Công đức hơn trên nữa
Nếu người vì kinh này
Khuyên một người khiến nghe
Mà nói kinh vương này
Mãi mãi được thù thắng
Người đó được nghe rồi
Lần lần cũng được nghe
Công đức người đó được
Sau khi mạng chung rồi
Sanh lên trời Đao Lợi
Ba mươi hai tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Từ đó mạng chung rồi
Sanh chỗ trời Diệm Ma
Ba mươi bốn tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Từ đó mạng chung rồi
Sanh chỗ trời Đâu Suất
Ba mươi sáu tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Từ đó mạng chung rồi
Sanh chỗ trời Hóa Lạc
Ba mươi tám tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Từ đó mạng chung rồi
Sanh chỗ trời Tha Hóa
Bốn mươi tướng tốt đẹp
Quyến thuộc hai mươi lăm
Lại người đó công đức
Sanh Phạm Chúng thiên vương
Bốn mươi hai tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Từ đó mạng chung rồi
Sanh Phạm Phụ thiên vương
Bốn mươi bốn tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Từ đó mạng chung rồi
Sanh Đại Phạm thiên vương
Bốn mươi sáu tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Lại người đó công đức
Sanh Quang Âm thiên vương
Bốn mươi tám tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Từ đó mạng chung rồi
Sanh Biến Tịnh thiên vương
Năm mươi tướng tốt đẹp
Quyến thuộc hai mươi lăm
Từ đó mạng chung rồi
Sanh Quảng Quả thiên vương
Năm mươi hai tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Từ đó mạng chung rồi
Sanh Tịnh Cư thiên vương
Năm mươi bốn tướng tốt
Quyến thuộc hai mươi lăm
Như thế lần tăng lên
Cho đến diệt kiếp không
Sanh chỗ Sắc Cứu Cánh
Đầy đủ trăm nghìn công
Đức trí huệ biện tài
Vì trời nói pháp vậy
Nếu có người phân biệt
Khuyến phát các chúng sanh
Vào trong pháp tạng này
Công đức vô lượng vậy
Nếu người đọc tụng kinh
Giải nói nghĩa thú kinh
Công đức rất nhiều hơn
Không thể tính kể được
Nếu người ở trong tháp
Xây bằng thất bảo đẹp
Cao rộng rất trang nghiêm
Mà cúng dường kinh điển
Công đức vô lượng vậy
Huống lại người siêng năng
Xây tháp cùng Tăng phòng
Dùng các thứ trang nghiêm
Xá lợi Phật cúng dường
Hoặc khiến người khác làm
Hoặc sanh lòng tùy hỷ
Ngợi khen mà ca tụng
Công đức người đó được
Trong trăm nghìn muôn ức
Kiếp số không thể nói
Công đức người như thế
Như hư không mười phương
Vô lượng vô biên vậy
Nếu người tin sâu nhân
Quả thọ mạng Phật dài
Thấy Phật thường ở núi
Kỳ Xà cùng Tăng chúng
Nói kinh Pháp Hoa đây
Lại thấy nghìn muôn ức
Cõi nước nhiều như cát
Sông Hằng các chúng sanh
Có Phật đạo sáu thông
Công đức người đó được
Vô lượng rất lớn lao
Vô số a tăng kỳ
Kiếp vẫn làm Phạm vương
Huống lại người tin nhận
Thọ trì kinh điển này
Bỏ pháp lệnh quốc vương
Quyên thuộc cùng ngũ dục
Tùy sức mình có thể
Làm các việc cúng dường
Công đức người đó được
Nếu ở đời mạt pháp
Có người hay nói kinh
Một phen nghe như thế
Hoan hỷ mà tin nhận
Công đức hơn người kia
Trừ Phật không ai kể
Huống lại người thọ trì
Đọc tụng hiểu nghĩa kinh
Người đó ở trên đầu
Mang Phật chẳng ai hơn
Nếu dùng miệng vì nói
Hoặc khiến người khác nghe
Hoặc tự tay sao chép
Hoặc khiến người sao chép
Dùng hoa hương chuỗi ngọc
Hương đốt hương bột thảy
Lọng phan tàn cái tốt
Cúng dường sách kinh điển
Hoặc sanh lòng tùy hỷ
Dùng các việc ngợi khen
Trong chốc lát như thế
Công đức vô lượng vậy
Nếu có người nghe kinh
Hoan hỷ mà tin nhận
Công đức vô lượng vậy
Như trên đã phân biệt
Huống lại ở đời mạt
Thọ trì đọc tụng kinh
Và vì người diễn nói.
Bấy giờ, Đức Phật lại bảo Ngài Di Lặc Bồ tát rằng:
Di Lặc! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe Phật thọ mạng dài lâu mà sanh một niệm tin hiểu, công đức chẳng hạn lượng.
Ví như có người trồng một hạt giống, từ hạt giống đó sanh cây đại thọ, cành lá sum suê, công đức người đó cũng lại như thế, vô lượng vô biên.
Nếu có người tin Phật thọ mạng chẳng phải pháp sanh diệt, thấy như hư không thường trụ, thấy Phật thường ở núi Kỳ Xà Quật cùng các Đại Bồ tát và Thanh văn chúng vây quanh nói kinh Pháp Hoa, lại thấy cõi Ta Bà đất bằng lưu ly trong ngoài sáng sạch, công đức người đó cũng vô lượng.
Như thế, người ở đời mạt pháp nghe kinh này mà sanh lòng tin hiểu, công đức chẳng thể kể xiết.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 16 Kinh Pháp Hoa (Như Lai Thọ Lượng)
Phẩm Như Lai Thọ Lượng là phần cốt lõi của Kinh Pháp Hoa, nơi Đức Phật tiết lộ thọ mạng của Ngài là vô lượng kiếp, không phải chỉ sinh ra và nhập diệt trong kiếp này. Việc Phật thị hiện sinh, thành đạo, thuyết pháp và nhập Niết bàn chỉ là phương tiện để giáo hóa chúng sinh, giúp họ tránh kiêu mạn và siêng năng tu hành. Phẩm này khẳng định tính vĩnh cửu của Phật tánh và pháp nhất thừa, khuyến khích niềm tin kiên cố vào Kinh Pháp Hoa, dẫn đến giác ngộ và giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.
Toàn văn phẩm thứ 16: Như Lai Thọ Lượng
Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Đại Bồ tát và đại chúng:
Các thiện nam tử! Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Lại bảo đại chúng:
Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Lại bảo đại chúng rằng:
Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Bấy giờ, đại chúng Bồ tát với Ngài Di Lặc làm thượng thủ chấp tay bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.
Như thế ba lần bạch rồi lại bạch rằng:
Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết các vị Bồ tát ba lần khôn thôi mà bảo rằng:
Các ông lắng nghe kỹ lời bí mật cùng thần thông của chư Phật. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai chỉ vì một nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời. Các ông cho rằng chư Phật Như Lai chỉ vì diệt độ chúng sanh mà hiện ra ở đời chăng? Chẳng phải vậy. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai vì khiến chúng sanh khai Phật tri kiến khiến cho thanh tịnh mà hiện ra ở đời; vì chỉ bày Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì ngộ Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì nhập Phật tri kiến đạo mà hiện ra ở đời. Các thiện nam tử! Đó là chư Phật Như Lai chỉ vì một việc nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời.
Các thiện nam tử! Ví như có thế giới Tam thiên Đại thiên nhiều như số cát sông Hằng, lấy đó làm hạt giống, có người nghiền nát làm vi trần, qua phương Đông trải qua nghìn thế giới mới rớt một hạt vi trần, cứ như thế qua phương Đông rớt hết số vi trần đó. Các ông nghĩ sao? Số thế giới đó có thể nghĩ bàn tính kể biết được chăng?
Di Lặc Bồ tát thảy đều bạch Phật:
Bạch Thế Tôn! Số thế giới đó vô lượng vô biên, chẳng phải toán số hay thí dụ có thể biết được. Những thế giới đó đều là do Bồ tát thừa A duy việt chí mà cũng chẳng có thể biết được ngằn mé. Vì sao? Vì các vị Bồ tát đó còn chưa được Vô sanh pháp nhẫn.
Phật bảo các vị Bồ tát:
Các thiện nam tử! Nay ta nói rõ cho các ông: Số thế giới đó nếu nghiền nát làm vi trần, chẳng phải pháp vi trần, số đó như vi trần. Mỗi một vi trần là một kiếp, từ ta thành Phật đến nay lại hơn số đó trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp. Từ đó đến nay ta thường ở cõi Ta Bà này thuyết pháp giáo hóa, cùng ở nơi khác trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi nước dẫn dắt lợi ích chúng sanh.
Các thiện nam tử! Trong khoảng đó ta nói Phật Nhiên Đăng v.v... và nói trong đó có Phật nhập Niết bàn, đều là phương tiện phân biệt. Các thiện nam tử! Nếu có chúng sanh đến chỗ ta, ta dùng Phật nhãn xem căn tánh lợi độn của đó mà độ thoát, chỗ chỗ tự nói danh tự khác nhau, tuổi lớn nhỏ, cũng lại hiện nói ta sẽ nhập Niết bàn, lại dùng các phương tiện nói pháp vi diệu độ thoát chúng sanh khổ.
Các thiện nam tử! Như Lai thấy chúng sanh ưa pháp nhỏ, đức mỏng cấu nặng, vì những người đó mà nói: Ta lúc trẻ xuất gia được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng thật từ ta thành Phật đến nay lâu xa như thế, chỉ dùng đó giáo hóa chúng sanh khiến vào Phật đạo, làm các phương tiện như thế.
Các thiện nam tử! Kinh điển của Như Lai nói ra đều là vì độ thoát chúng sanh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc thị hiện việc, hoặc biểu thị lời nói, hoặc thí dụ việc đã có, hoặc thí dụ việc chưa có. Các lời nói ra đều là chơn thật không hư dối.
Vì sao? Vì Như Lai biết rõ tướng của chúng sanh, tánh dục gì, chứa gì trong lòng, dùng các nhân duyên, thí dụ, lời lẽ, sức phương tiện mà theo nghi nói pháp như mục đích điều phục của Như Lai không hề sai lầm.
Các thiện nam tử! Như Lai làm việc lợi ích cho thế gian đều đã viên mãn. Chỗ thọ mạng của ta nay đã hết, lúc nhập Niết bàn đã đến, thời phải nên dặn bảo các Tỳ kheo: Thường siêng tu hành, theo Phật pháp mà tu hành, được thấy tánh chân thật, mau đến đạo tràng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Từ ta thành Phật đạo
Trải qua số kiếp đông
Vô lượng trăm nghìn muôn
Ức a tăng kỳ số
Thường nói pháp giáo hóa
Vô số muôn ức chúng
Dẫn vào Phật đạo vậy
Từ đó vô số kiếp
Vì độ các chúng sanh
Phương tiện hiện Niết bàn
Mà thật chẳng diệt độ
Thường trụ đây nói pháp
Ta thường trụ cõi này
Dùng các sức thần thông
Khiến chúng sanh điên đảo
Dầu gần mà chẳng thấy
Chúng thấy ta diệt độ
Rộng cúng dường xá lợi
Tất đều sanh lòng nhớ
Mà sanh tâm khát ngưỡng
Chúng sanh đã thuần tin
Chất trực ý nhu nhuyễn
Một lòng muốn thấy Phật
Chẳng tiếc thân mạng mình
Thời ta và Tăng chúng
Đồng ra nơi Linh Thứu
Lúc đó ta vì chúng
Nói pháp thật bất diệt
Như hư không thường trụ
Chẳng sanh cũng chẳng diệt
Vì độ kẻ ít đức
Ta hiện sức thần thông
Trải qua a tăng kỳ
Kiếp số có chúng sanh
Nói Phật nhập Niết bàn
Mà chẳng nghe pháp này
Chẳng biết việc Phật làm
Nếu người tu thiện pháp
Ý nhu nhuyễn chất trực
Thời ta đều nói rằng
Thọ mạng Phật rất dài
Lâu xa mới gặp Phật
Vì độ chúng sanh vậy
Như vị lương y kia
Trí huệ thông đạt sáng
Khéo pha chế thuốc hay
Cứu trị các chứng bệnh
Người đó có nhiều con
Mười người hoặc trăm nghìn
Vì có việc nhân duyên
Qua nước khác xa xôi
Các con uống thuốc độc
Thuốc phát cuồng loạn ngã
Lúc đó cha trở về
Các con đều nghịch độc
Hoặc mất tâm bản tánh
Hoặc chưa mất tâm tánh
Xa thấy cha trở về
Đều rất vui mừng lớn
Quỳ lạy hỏi thăm rằng
Lành thay nay cha về
Chúng con ngu tự uống
Thuốc độc nay cầu xin
Cha cứu cho sống lại
Cha thấy các con khổ
Theo các sách phương thuốc
Tìm các vị thuốc hay
Sắc hương đều đầy đủ
Đem cho con mà bảo
Thuốc hay này sắc đẹp
Hương thơm vị ngon ngọt
Các con cầm mà uống
Mau trừ khổ chẳng còn
Những con chưa mất tâm
Thấy thuốc hay vui uống
Bệnh thảy đều trừ hết
Còn những kẻ mất tâm
Vui mừng cha trở về
Cũng cầu xin chữa trị
Mà chẳng chịu uống thuốc
Vì sao? Vì độc thấm
Sâu mất tâm bản tánh
Thuốc hay sắc hương tốt
Nói chẳng phải thuốc hay
Cha nghĩ những con này
Bị độc khổ sở nhiều
Thấy ta rất vui mừng
Cầu xin chữa mà lại
Chẳng chịu uống thuốc hay
Nay ta lập phương tiện
Khiến chúng uống thuốc này
Bèn nói rằng: Ta nay
Đã già nua suy yếu
Chết đây đã đến rồi
Thuốc hay tốt này đây
Nay để lại cho các con
Cầm lấy chớ lo không
Lành mạnh, nói rồi liền
Qua nước khác sai sứ
Về bảo các con rằng
Cha các ngươi đã mất
Các con nghe cha chết
Lòng rất buồn khổ lớn
Khóc lóc mà nghĩ rằng
Nếu cha chúng ta còn
Thương xót chỉ dạy ta
Nay ta mất cha rồi
Cô khổ nơi hoang vắng
Tự biết mồ côi khổ
Không nơi nương tựa nữa
Thường nghĩ nhớ cha già
Mới biết thuốc hay tốt
Sắc hương vị đều tốt
Liền cầm mà uống ngay
Bệnh thảy đều trừ hết
Cha nghe con lành bệnh
Liền trở về cho thấy
Các thiện nam tử nghĩ
Vị lương y như thế
Có tội hư vọng chăng?
Đại chúng đáp: Không vậy.
Phật nói: Ta cũng thế
Thành Phật đến nay vậy
Vô lượng vô biên trăm
Nghìn muôn ức na do
Tha a tăng kỳ kiếp
Vì lợi ích chúng sanh
Dùng sức phương tiện nói
Ta sẽ nhập Niết bàn
Cũng lại không ai nói
Phật nói lời hư vọng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Từ ta được thành Phật
Trải qua các kiếp số
Vô lượng trăm nghìn muôn
Ức a tăng kỳ đông
Thường nói pháp giáo hóa
Vô lượng ức chúng sanh
Khiến vào đạo Phật vậy
Từ đó vô số kiếp
Vì độ chúng sanh nên
Phương tiện hiện Niết bàn
Mà thật chẳng diệt độ
Thường trụ đây nói pháp.
Ta thường trụ cõi này
Dùng sức thần thông vậy
Khiến chúng điên đảo kia
Dầu gần mà chẳng thấy.
Chúng thấy ta diệt độ
Rộng cúng dường xá lợi
Tất đều sanh lòng nhớ
Mà sanh tâm khát ngưỡng.
Chúng sanh đã thuần tín
Chất trực ý nhu nhuyễn
Một lòng muốn thấy Phật
Chẳng tiếc thân mạng mình.
Thời ta cùng Tăng chúng
Đồng ra nơi Linh Thứu.
Lúc đó ta vì chúng
Nói pháp thật bất diệt
Như hư không thường trụ
Chẳng sanh cũng chẳng diệt.
Vì độ kẻ ít đức
Hiện sức thần thông vậy
Trải qua a tăng kỳ
Kiếp số có chúng sanh
Nói Phật nhập Niết bàn
Mà chẳng nghe pháp này
Chẳng biết việc Phật làm.
Nếu người tu thiện pháp
Ý nhu nhuyễn chất trực
Thời ta đều nói rằng
Thọ mạng Phật rất dài.
Lâu xa mới gặp Phật
Vì độ chúng sanh vậy
Như vị lương y kia
Trí huệ thông đạt sáng
Khéo pha chế thuốc hay
Cứu trị các chứng bệnh.
Người đó có nhiều con
Mười người hoặc trăm nghìn
Vì có việc nhân duyên
Qua nước khác xa xôi.
Các con uống thuốc độc
Thuốc phát cuồng loạn ngã
Lúc đó cha trở về
Các con đều nghịch độc
Hoặc mất tâm bản tánh
Hoặc chưa mất tâm tánh
Xa thấy cha trở về
Đều rất vui mừng lớn
Quỳ lạy hỏi thăm rằng
Lành thay nay cha về
Chúng con ngu tự uống
Thuốc độc nay cầu xin
Cha cứu cho sống lại.
Cha thấy các con khổ
Theo các sách phương thuốc
Tìm các vị thuốc hay
Sắc hương đều đầy đủ
Đem cho con mà bảo
Thuốc hay này sắc đẹp
Hương thơm vị ngon ngọt
Các con cầm mà uống
Mau trừ khổ chẳng còn.
Những con chưa mất tâm
Thấy thuốc hay vui uống
Bệnh thảy đều trừ hết
Còn những kẻ mất tâm
Vui mừng cha trở về
Cũng cầu xin chữa trị
Mà chẳng chịu uống thuốc.
Vì sao? Vì độc thấm
Sâu mất tâm bản tánh
Thuốc hay sắc hương tốt
Nói chẳng phải thuốc hay.
Cha nghĩ những con này
Bị độc khổ sở nhiều
Thấy ta rất vui mừng
Cầu xin chữa mà lại
Chẳng chịu uống thuốc hay
Nay ta lập phương tiện
Khiến chúng uống thuốc này
Bèn nói rằng: Ta nay
Đã già nua suy yếu
Chết đây đã đến rồi
Thuốc hay tốt này đây
Nay để lại cho các con
Cầm lấy chớ lo không
Lành mạnh, nói rồi liền
Qua nước khác sai sứ
Về bảo các con rằng
Cha các ngươi đã mất.
Các con nghe cha chết
Lòng rất buồn khổ lớn
Khóc lóc mà nghĩ rằng
Nếu cha chúng ta còn
Thương xót chỉ dạy ta
Nay ta mất cha rồi
Cô khổ nơi hoang vắng.
Tự biết mồ côi khổ
Không nơi nương tựa nữa
Thường nghĩ nhớ cha già
Mới biết thuốc hay tốt
Sắc hương vị đều tốt
Liền cầm mà uống ngay
Bệnh thảy đều trừ hết.
Cha nghe con lành bệnh
Liền trở về cho thấy.
Các thiện nam tử nghĩ
Vị lương y như thế
Có tội hư vọng chăng?
Đáp: Không.
Phật nói: Ta cũng thế
Thành Phật đến nay vậy
Vô lượng vô biên trăm
Nghìn muôn ức na do
Tha a tăng kỳ kiếp
Vì lợi ích chúng sanh
Dùng sức phương tiện nói
Ta sẽ nhập Niết bàn
Cũng lại không ai nói
Phật nói lời hư vọng.
Như lương y khéo phương tiện
Vì chữa con cuồng loạn
Thật còn mà nói chết
Chẳng ai nói hư vọng
Ta cũng cha chúng sanh
Cứu khổ nạn vô cùng
Vì phàm phu điên đảo
Thật còn mà nói diệt
Vì thường thấy ta đây
Mà sanh lòng kiêu mạn
Buông lung đắm ngũ dục
Đọa vào các ác đạo
Ta thường biết chúng sanh
Hành đạo hay chẳng hành
Theo đó đáng được độ
Vì nói các pháp vậy
Tùy thời nên nói gì
Chỉ nghĩ một việc này
Làm sao khiến chúng sanh
Mau vào đạo vô thượng
Mà mau thành Phật thân.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 15 Kinh Pháp Hoa (Tùng Địa Dũng Xuất)
Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất kể về vô số Bồ tát từ dưới đất vọt ra, đại diện cho Phật tánh tiềm ẩn trong chúng sinh, sẵn sàng hộ trì Kinh Pháp Hoa sau khi Phật diệt độ. Phật tiết lộ rằng Ngài đã giáo hóa những vị Bồ tát này từ vô lượng kiếp, nhấn mạnh tính vĩnh cửu của Phật thọ mạng và pháp nhất thừa. Phẩm này khẳng định sứ mệnh của các Bồ tát địa dũng trong việc truyền bá kinh, khuyến khích niềm tin vào sức mạnh nội tại và sự bất diệt của Phật pháp, giúp chúng sinh nhận ra khả năng thành Phật.
Toàn văn phẩm thứ 15: Tùng Địa Dũng Xuất
Lúc bấy giờ, các vị Đại Bồ tát ở cõi nước phương khác đông hơn số cát của tám hằng hà sa, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay mà bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ, chúng con cũng nguyện ở cõi Ta Bà rộng nói kinh điển này, thọ trì đọc tụng giải nói viết chép.
Bấy giờ, Phật bảo các vị Đại Bồ tát chúng:
Thôi đi các thiện nam tử! Chẳng cần các ông hộ trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta Bà của ta tự có sáu muôn hằng hà sa các vị Đại Bồ tát, một vị Đại Bồ tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, những vị này có thể sau khi ta diệt độ mà hộ trì đọc tụng rộng nói kinh điển này.
Phật nói lời đó rồi, ở cõi Ta Bà Tam thiên Đại thiên thế giới đất đều rúng nứt mà vô lượng nghìn muôn ức Đại Bồ tát đồng thời vọt ra. Các vị Bồ tát đó đều thân sắc vàng tía, đủ ba mươi hai tướng, vô lượng quang minh, trước kia đều trụ ở dưới hư không cõi Ta Bà này, các vị Bồ tát nghe tiếng nói của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà từ dưới đến.
Mỗi mỗi vị Bồ tát đều là bậc Đại sĩ chúng, đều đem quyến thuộc nghìn muôn ức số như số cát sáu sông Hằng, hoặc có vị đem năm sông Hằng, bốn sông Hằng, ba sông Hằng, hai sông Hằng, một sông Hằng quyến thuộc Bồ tát. Hoặc có vị đem số cát nửa sông Hằng, một phần ba, một phần bốn cho đến một phần muôn ức na do tha. Hoặc đem nghìn muôn ức na do tha quyến thuộc, hoặc đem muôn ức quyến thuộc, hoặc đem nghìn ức, muôn ức, muôn, nghìn quyến thuộc, hoặc đem năm trăm, bốn trăm, ba trăm, hai trăm, một trăm, năm mươi, bốn mươi, ba mươi, hai mươi, mười, năm, bốn, ba, hai, một đệ tử. Hoặc có vị Bồ tát riêng một thân không quyến thuộc ưa thích độc hành.
Các vị như thế thứ lớp mà tính số đông vô lượng vô biên, giả sử dùng toán số thí dụ cũng chẳng biết được. Các vị Bồ tát này từ dưới đất vọt ra rồi, đều đến chỗ tháp bảy báu ở giữa hư không của Đa Bảo Như Lai và Thích Ca Mâu Ni Phật, đến rồi đầu mặt lễ chân hai Đức Phật, lại đến chỗ các Đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu ở mười phương, đều làm lễ, đi nhiễu bên hữu ba vòng, chấp tay cung kính dùng các lời khen Bồ tát mà ngợi khen. Rồi đứng một bên chiêm ngưỡng dung nhan hai Đức Thế Tôn, trải qua năm mươi tiểu kiếp.
Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật im lặng thọ nhận, và các Phật ở mười phương cũng im lặng thọ nhận, trong năm mươi tiểu kiếp, hàng tứ chúng cho là như một ngày ăn cơm. Do sức thần của Phật khiến cho đại chúng đều thấy các vị Đại Bồ tát đầy dẫy trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi nước ở hư không mười phương.
Trong các vị Bồ tát này có bốn vị đạo sư: vị thượng thủ tên Thượng Hạnh, vị thứ hai tên Vô Biên Hạnh, vị thứ ba tên Tịnh Hạnh, vị thứ tư tên An Lập Hạnh. Bốn vị Bồ tát này ở trong chúng làm bậc thượng thủ sang nhất, ở trước đại chúng đều chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan Đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Phật có được ít bệnh ít khổ, an ổn khoái lạc chăng? Những người đáng độ dễ độ chăng? Chẳng làm Phật mệt mỏi chăng?
Bấy giờ, bốn vị Đại Bồ tát mà nói kệ rằng:
Thế Tôn được an vui
Ít bệnh ít phiền não
Giáo hóa các chúng sanh
Được dễ không mệt mỏi
Và lại chúng sanh kia
Thọ giáo hóa dễ dàng
Chẳng làm Thế Tôn sanh
Lòng mệt mỏi vậy thay.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở trong đại chúng Bồ tát mà nói rằng:
Đúng vậy! Đúng vậy! Các thiện nam tử! Như Lai an ổn ít bệnh ít khổ, các chúng sanh dễ độ dễ hàng, chẳng làm ta mệt mỏi. Vì sao? Vì các chúng sanh đó đời đời thọ hóa của ta và chư Phật mười phương, cúng dường tôn trọng chưa từng gián đoạn. Lại các chúng sanh đó chẳng hành sáu pháp Ba la mật, đã ở trong sáu pháp Ba la mật có người đã thành tựu, có người chưa thành tựu, đối với pháp Đại thừa tự nhiên có lòng tin hiểu.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói lời đó rồi, đại chúng Bồ tát đồng thanh nói lớn rằng:
Hay thay! Hay thay! Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói lời chân thật.
Bấy giờ, các vị Đại Bồ tát nói kệ khen rằng:
Hay thay! Hay thay!
Thế Tôn đại anh hùng
Các chúng sanh Ta Bà
Dễ độ chẳng làm mệt
Vì đời đời thọ hóa
Của Phật và mười phương
Tôn trọng và cúng dường
Chưa từng có gián đoạn
Đã ở trong sáu độ
Hoặc thành hoặc chưa thành
Đối với Đại thừa pháp
Tự nhiên lòng tin hiểu.
Bấy giờ, các vị Bồ tát nói kệ rồi, bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói chúng con an ổn, chúng con cũng an ổn.
Bấy giờ, ở trong chúng có vị Đại Bồ tát tên Di Lặc cùng tám nghìn hằng hà sa các vị Bồ tát đều nghĩ rằng: Chúng ta từ xưa đến nay chưa từng nghe thấy hàng Đại Bồ tát chúng như thế từ dưới đất vọt ra đến trước Thế Tôn.
Lúc đó, Di Lặc Đại Bồ tát biết lòng nghĩ của tám nghìn hằng hà sa các vị Bồ tát, lại muốn tự giải lòng nghi của mình mà chấp tay hướng Phật bạch rằng:
Bạch Thế Tôn! Các vị Đại Bồ tát này vô lượng nghìn muôn ức số đông như thế, từ đâu mà đến?
Bấy giờ, Di Lặc Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Vô lượng nghìn muôn ức
Đại chúng Bồ tát đây
Từ xưa chưa từng nghe
Từ đâu mà đến vậy
Không danh không họ tộc
Từ nước nào mà đến
Bạch Thế Tôn Đại Thánh
Cúi mong giải nghi chúng.
Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Di Lặc Bồ tát rằng:
Lành thay! Lành thay! A Dật Đa! Ông hay hỏi Phật việc nghĩa lợi lớn như thế. Các ông nên biết các vị Đại Bồ tát vô lượng vô số như thế từ dưới kẽ nứt đất cõi Ta Bà vọt ra, các ông chưa từng thấy biết. Vì sao? A Dật Đa! Các vị Đại Bồ tát này là do ta giáo hóa khiến phát lòng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ta ở cõi này hóa độ dạy bảo, các vị Bồ tát này lòng ưa pháp ta, theo ta tu hành, thường ở gần ta chưa từng ưa thích nói nhiều việc thế gian.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Các vị Bồ tát này
Vô lượng vô số đông
Các ông nay nên biết
Từ đâu mà đến vậy
Ta mới thành Phật đạo
Mà các vị Bồ tát
Đã từ lâu phát tâm
An trụ pháp bất tư
Ta dùng sức phương tiện
Giáo hóa khiến phát tâm
Những vị Đại Bồ tát
Là đệ tử của ta
Vì cõi này của ta
Tự có Bồ tát chúng
Sau khi ta diệt độ
Mới hộ trì kinh điển
Số đông như vậy đó
Sau khi ta diệt độ
Các vị Bồ tát thảy
Vì nói kinh Pháp Hoa
Mà du hành các nước
Số đông sáu muôn hằng
Vì cầu Phật đạo vậy
Những vị Bồ tát này
Thường ở dưới đất này
Đọc tụng các kinh điển
Vui thích phân biệt nghĩa
Chuyên tâm tư duy pháp
Dõng mãnh ý chí bền
Chẳng ưa nói nhiều việc
Ở trong hư không dưới
Siêng tu sức tinh tấn
Thường trì kinh Pháp Hoa
Vui nói pháp vô ngại
Ở nơi chỗ vắng vẻ
Siêng hành không lười mỏi
Trải vô lượng nghìn muôn
Ức kiếp trụ nơi đó
Hoặc ngồi hoặc kinh hành
Thường lạc pháp như thế
Siêng cầu Phật đạo vậy.
Bấy giờ, ở giữa hư không, Đức Đa Bảo Thế Tôn và vô lượng các vị Phật phân thân ở mười phương đến chứng minh, đều khen Phật rằng:
Hay thay! Hay thay! Thích Ca Mâu Ni Phật! Mau nói kinh Pháp Hoa này khiến chúng tôi được nghe lâu.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 14 Kinh Pháp Hoa (An Lạc Hạnh)
Phẩm An Lạc Hạnh dạy về bốn pháp an lạc mà Bồ tát cần an trú để thuyết giảng Kinh Pháp Hoa trong đời ác trược sau khi Phật diệt độ: hành xứ (nơi hành đạo), thân cận xứ (nơi thân cận), khẩu hạnh (lời nói an lạc), và ý hạnh (tâm đại bi). Những pháp này giúp Bồ tát tránh chướng ngại, giữ tâm an ổn, từ bi, không phân biệt, không mong cầu, dẫn đến việc thuyết pháp hiệu quả, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh, khẳng định Kinh Pháp Hoa là pháp tối thượng.
Toàn văn phẩm thứ 14: An Lạc Hạnh
Lúc bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi Đại Bồ tát bạch Phật rằng:
Thế Tôn! Các vị Bồ tát này rất là ít có, vì kính thuận Phật nên phát thệ nguyện lớn: ở nơi đời ác sau, hộ trì đọc nói kinh Pháp Hoa này.
Thế Tôn! Các vị Đại Bồ tát ở đời ác sau, thế nào mà có thể nói kinh này?
Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi:
Nếu vị Bồ tát ở đời ác sau muốn nói kinh này, phải an trụ trong bốn pháp.
Một, an trụ nơi Hành xứ và nơi Thân cận xứ của Bồ tát, thời có thể vì chúng sanh mà diễn nói kinh này.
Văn Thù Sư Lợi! Thế nào gọi là chỗ Hành xứ của Đại Bồ tát? Nếu vị Đại Bồ tát an trụ trong nhẫn nhục hòa dịu khéo thuận mà không vụt chạc lòng cũng chẳng kinh sợ, lại ở nơi pháp không phân biệt mà quán tưởng như thực của các pháp cũng chẳng vin theo, chẳng phân biệt, đó gọi là chỗ Hành xứ của Bồ tát.
Thế nào gọi là chỗ Thân cận của Đại Bồ tát? Vị Đại Bồ tát chẳng gần gũi quốc vương, vương tử, đại thần, quan trưởng, chẳng gần gũi các ngoại đạo phạm chí, Ni kiền tử,... và chẳng gần những kẻ viết sách thế tục ca ngâm; sách ngoại đạo cùng với phái Lộ Già Da Đà, phái Nghịch Lộ Già Da Đà, cũng chẳng gần gũi những kẻ chơi hung hiểm đâm nhau, đánh nhau, và bọn Na la,... bày các cuộc chơi biến hiện. Lại chẳng gần gũi bọn hàng thịt và kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, săn bắn chài lưới, hạng người sống với nghề ác, những người như thế hoặc có lúc lại đến thời.
Bồ tát vì nói pháp không có lòng mong cầu. Lại chẳng gần gũi những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hạng người cầu quả Thanh văn, hoặc ở trong phòng, hoặc chỗ kinh hành, hoặc ở trong giảng đường chẳng cùng ở chung, hoặc có lúc những người đó lại đến, Bồ tát theo cơ nghi nói pháp không lòng mong cầu.
Văn Thù Sư Lợi! Lại vị Đại Bồ tát chẳng nên ở nơi thân người nữ cho là tướng có thể sanh tư tưởng dục nhiễm mà vì nói pháp, cũng chẳng ưa thấy. Nếu vào nhà người chẳng cùng với gái nhỏ, gái trinh, gái góa,... chung nói chuyện, cũng lại chẳng gần năm giống người bất nam để làm thân hậu. Chẳng riêng mình vào nhà người, nếu lúc có nhân duyên cần riêng mình vào thời chuyên một lòng niệm Phật. Nếu vì người nữ nói pháp thời chẳng hở răng cười, chẳng bày hông, ngực, nhẫn đến vì pháp mà còn chẳng thân hậu, huống lại là việc khác. Chẳng ưa nuôi đệ tử Sa di ít tuổi và các trẻ nhỏ, cũng chẳng ưa cùng chúng nó đồng một thầy. Thường ưa ngồi thiền ở chỗ vắng tu nhiếp tâm mình.
Văn Thù Sư Lợi! Đó gọi là Chỗ thân cận ban đầu.
Lại nữa, vị Đại Bồ tát quán sát Nhất thiết pháp không như thật tướng chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng chuyển, như hư không, không có thật tánh, tất cả lời nói phô dứt, chẳng sanh, chẳng xuất, chẳng khởi, không danh, không tướng, thực không chỗ có, không lường, không ngằn, không ngại, không chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sanh cho nên nói, thường ưa quán sát pháp tướng như thế đó gọi là Chỗ thân cận thứ hai của vị Đại Bồ tát.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Nếu có vị Bồ tát
Ở trong đời ác sau
Lòng không hề sợ sệt
Muốn nói kinh pháp này
Nên trụ vào Hành xứ
Và trụ Thân cận xứ.
Thường xa rời quốc vương
Và con của quốc vương
Quan đại thần, quan lớn
Kẻ chơi việc hung hiểm
Cùng bọn Chiên đà la
Hàng ngoại đạo phạm chí
Cùng chẳng ưa gần gũi
Hạng người tăng thượng mạn
Hàng học giả tham chấp
Kinh, luật, luận Tiểu thừa
Những Tỳ kheo phá giới
Danh tự A la hán
Và những Tỳ kheo ni
Ưa thích chơi giỡn cười
Các vị Ưu bà di
Tham mê năm món dục
Cầu hiện tại diệt độ
Đều chớ có gần gũi.
Nếu những hạng người đó
Dùng tâm tốt mà đến
Tại chỗ của Bồ tát
Để vì nghe Phật đạo
Bồ tát thời nên dùng
Lòng không chút sợ sệt
Chẳng có niệm mong cầu
Mà vì chúng nói pháp.
Những gái góa, gái trinh
Và các kẻ bất nam
Đều chớ có gần gũi
Để cùng làm thân hậu.
Cũng chớ nên gần gũi
Kẻ đồ tể cắt thái
Săn bắn và chài lưới
Vì lợi mà giết hại
Bán thịt để tự sống
Buôn bán sắc gái đẹp
Những người như thế đó
Đều chớ có gần gũi.
Các cuộc chơi giỡn dữ
Hung hiểm đâm đánh nhau
Và những dâm nữ thảy
Trọn chớ có gần gũi.
Chớ nên riêng chỗ khuất
Vì người nữ nói pháp
Nếu lúc vì nói pháp
Chẳng được chơi giỡn cười
Khi vào xóm khất thực
Phải dắt một Tỳ kheo
Nếu không có Tỳ kheo
Phải một lòng niệm Phật
Đây thời gọi tên là
Hành xứ, Thân cận xứ.
Dùng hai xứ trên đây
Có thể an lạc nói.
Lại cũng chẳng vịn theo
Pháp thượng, trung và hạ
Hữu vi hay vô vi
Thực cùng pháp chẳng thực
Cũng chẳng có phân biệt
Là nam là nữ thảy
Lại chẳng được các pháp
Chẳng biết cũng chẳng thấy
Đây thời gọi tên là
Hành xứ của Bồ tát.
Tất cả các món pháp
Đều không, chẳng chỗ có
Không có chút thường trụ
Vẫn cũng không khởi diệt
Đây gọi là Thân cận
Chỗ người trí hằng nương.
Chớ đảo điên phân biệt
Các pháp có hoặc không
Là thực, chẳng phải thực
Là sanh chẳng phải sanh,
Ở an nơi vắng vẻ
Sửa trao nhiếp tâm mình
An trụ chẳng lay động
Như thể núi Tu Di
Quán sát tất cả pháp
Thảy đều không thực có
Dường như khoảng hư không
Không có chút bền chắc.
Chẳng sanh cũng chẳng xuất
Chẳng động cũng chẳng thối
Thường trụ một tướng thể
Đó gọi là Cận xứ.
Nếu có vị Tỳ kheo
Sau khi ta diệt độ
Vào được Hành xứ đó
Thời lúc nói kinh này
Không có lòng e sợ
Vị Bồ tát có lúc
Vào nơi nhà tịnh thất
Lòng nghĩ nhớ chân chính
Theo đúng nghĩa quán pháp.
Từ trong thiền định dậy
Vì các bậc quốc vương
Vương tử và quan, dân
Hàng Bà la môn thảy
Mà khai hóa diễn bày
Rộng nói kinh điển này
Tâm vị đó an ổn
Không có chút khiếp nhược.
Văn Thù Sư Lợi này!
Đó gọi là Bồ tát
An trụ trong sơ pháp
Có thể ở đời sau
Diễn nói kinh Pháp Hoa.
Lại Văn Thù Sư Lợi! Sau khi Đức Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp muốn nói kinh này, phải trụ nơi hạnh an lạc, hoặc miệng tuyên nói hoặc lúc đọc kinh đều chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển; chẳng khinh mạn các Pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở, tốt xấu của người khác. Ở nơi hàng Thanh văn cũng chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng kêu tên khen ngợi điều tốt của người đó. Lại cũng chẳng sanh lòng oán hiềm, vì khéo tu lòng an lạc như thế, nên những người nghe pháp không trái ý. Có chỗ gạn hỏi, chẳng dùng pháp Tiểu thừa đáp, chỉ dùng pháp đại thừa mà vì đó giải nói làm cho được bậc Nhất thiết chủng trí.
Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Vị Bồ tát thường ưa
An ổn nói kinh pháp
Ở nơi chỗ thanh tịnh
Mà sắp đặt sàng tòa
Dùng hương dầu xoa thân
Tắm gội các bụi dơ
Mặc y mới sạch sẽ
Trong ngoài đều sạch thơm
Ngồi an nơi pháp tòa
Theo chỗ hỏi vì nói.
Nếu có vị Tỳ kheo
Cùng với Tỳ kheo ni
Các hàng Ưu bà tắc
Và hàng Ưu bà di
Quốc vương và vương tử,
Các quan cùng sĩ dân
Dùng pháp nghĩa nhiệm mầu
Vui vẻ vì họ nói
Nếu có người gạn hỏi
Theo đúng nghĩa mà đáp
Nhân duyên hoặc thí dụ
Giải bày phân biệt nói
Dùng trí phương tiện này
Đều khiến kia phát tâm
Lần lần thêm đông nhiều
Vào ở trong Phật đạo.
Trừ lòng lười biếng trễ
Cùng với tưởng giải đãi
Xa rời các ưu não
Tâm từ lành nói pháp
Ngày đêm thường tuyên nói
Giáo pháp vô thượng đạo
Dùng các việc nhân duyên
Vô lượng món thí dụ
Mở bày dạy chúng sanh
Đều khiến chúng vui mừng
Y phục cùng đồ nằm
Đồ ăn uống thuốc thang
Mà ở nơi trong đó
Không có chỗ mong cầu
Chỉ chuyên một lòng nhớ
Nhân duyên nói kinh pháp
Nguyện ta thành Phật đạo
Khiến mọi người cũng vậy
Đó là lợi lành lớn
Là an vui cúng dường
Sau khi ta diệt độ
Nếu có vị Tỳ kheo
Có thể diễn nói được
Kinh Diệu Pháp Hoa này
Lòng không chút ghen hờn
Không các não chướng ngại
Cũng lại không ưu sầu
Và cùng mắng nhiếc thảy
Lại cũng không sợ sệt
Không dao gậy đánh đập
Cũng không xua đuổi ra
Vì an trụ nhẫn vậy
Người trí khéo tu tập
Tâm mình được dường ấy
Thời hay trụ an lạc
Như ta nói ở trên
Công đức của người đó
Trong nghìn muôn ức kiếp
Tánh kể hay thí dụ
Nói chẳng thể hết được.
Lại Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt mà thụ trì đọc tụng kinh điển này, chớ ôm lòng ghen ghét dua dối, cũng chớ khinh mắng người học Phật đạo, vạch tìm chỗ hay dở của kia. Nếu hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc cầu Thanh văn, hoặc cầu Duyên giác, hoặc cầu Bồ tát đạo, đều không được làm não đó, khiến cho kia sanh lòng nghi hối mà nói với người rằng: Các người cách đạo rất xa, trọn không thể được bậc nhất thiết chủng trí.
Vì sao? Vì các người là kẻ buông lung, biếng trễ đối với đạo. Lại cũng chẳng nên hí luận các pháp có chỗ giành cãi. Phải ở nơi tất cả chúng sanh, khởi tưởng đại bi, đối với các Đức Như Lai sanh tưởng như cha lành, đối với các Bồ tát, tưởng là bậc đại sư, với các Đại Bồ tát ở mười phương phải thâm tâm lễ lạy, với tất cả chúng sanh đều bình đẳng nói pháp. Vì thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều.
Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp muốn diệt nếu thành tựu được hạnh an lạc thứ ba đây, thời lúc nói pháp này không ai có thể não loạn, được bạn lành đồng học cùng đọc tụng kinh này, có đại chúng lại đến nghe thọ, nghe rồi hay trì, trì rồi hay tụng, tụng rồi hay nói, nói rồi hay viết cùng khiến người viết.
Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Muốn nói kinh pháp này
Mà trụ nơi an lạc
Ở chỗ vắng lặng lẽ
Chẳng ưa ngủ nhiều lắm
Cũng chẳng ưa thân cận
Hàng vua chúa quan quyền
Cũng chớ nên gần gũi
Hàng quan nhỏ thấp hèn
Dâm nữ cùng bất nam
Thảy đều chớ gần gũi
Cũng chớ nên gần gũi
Hàng đồ tể cắt thái
Săn bắn chài lưới thảy
Vì lợi giết hại sanh
Những người buôn bán thịt
Và kẻ bán sắc nữ
Thảy đều chớ gần gũi
Để cầu lòng an lạc
Khéo nói pháp nhiệm mầu
Chẳng sanh lòng vui mừng
Vì được mặc y tốt
Ăn ngon cùng thuốc thang
Cũng chớ có tư tưởng
Sợ không đủ dùng thảy
Chỉ một lòng nghĩ nhớ
Rộng nói chẳng sai lầm
Nguyện thành Phật đạo quả
Khiến người cũng như vậy
Đó thời là lợi lớn
An vui cúng dường vậy.
Lại Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát ở đời mạt pháp sau, lúc pháp muốn diệt, người thọ trì kinh này, đối với người xuất gia, kẻ tại gia, sanh lòng đại bi, đối với kẻ chẳng phải Bồ tát sanh lòng từ bi nghĩ rằng: Những người này rất là thiệt thòi, Phật phương tiện theo cơ nghi nói pháp mà chẳng hay nghe, chẳng hay biết, chẳng hay tỉnh, chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng giải. Những người này tuy chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng giải kinh này, khi ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác sẽ ở chỗ khác dùng sức thần thông, sức trí huệ dắt dẫn đó khiến trụ trong pháp này.
Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát sau khi Như Lai diệt độ nếu thành tựu pháp thứ tư này, thời lúc nói pháp không có lỗi lầm, thường được Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, quốc vương, vương tử, đại thần, nhân dân, Bà la môn, cư sĩ,... cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen. Các trời ở hư không vì nghe pháp thường theo hầu đó. Nếu ở nơi thôn xóm, thành ấp, rừng vắng, có người đến muốn gạn hỏi, các trời vì pháp thường theo hầu hộ vệ đó, khiến người nghe đều vui mừng. Vì sao? Vì kinh này được sức niệm của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Văn Thù Sư Lợi! Như trong vô lượng vô số kiếp ở các cõi nước mười phương, nhẫn đến tên kinh Pháp Hoa còn chưa từng nghe huống là thấy thọ trì đọc tụng.
Văn Thù Sư Lợi! Ví như vị vua có sức mạnh xoay chuyển bánh xe, đánh dẹp các giặc thù rồi, tùy công thưởng cho các binh sĩ: hoặc thưởng voi, ngựa, xe, cộ, hình tượng trang nghiêm thân mình, ruộng đất nhà cửa, thôn ấp, thành quách, hoặc thưởng y phục, các món trân bảo, vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, tôi tớ, xe ngựa, kiệu cáng. Duy có viên ngọc sáng trên mão chẳng đem cho đó, vì sao? Vì viên ngọc ấy chỉ có một viên ở trên đầu vua, nếu đem cho đó thời quyến thuộc của vua tất lấy làm lạ.
Văn Thù Sư Lợi! Như Lai cũng vậy, dùng sức thiền định trí huệ được nước pháp, thống trị ba cõi, mà các ma vương chẳng chịu hàng phục, các vị hiền thánh là tướng quân của Như Lai cùng với ma chiến đấu, kẻ có công thời lòng vui mừng, ở trong đại chúng bốn bộ nói các kinh điển khiến lòng chúng vui, dùng tam minh, lục thông, các sức thần thông, các sức thiền định giải thoát, các pháp bất cộng, khiến chúng hoan hỷ, lại dùng vô lượng các pháp khiến vào Phật huệ. Nhưng chưa từng nói kinh Pháp Hoa này.
Văn Thù Sư Lợi! Như vị Luân vương thấy trong hàng binh sĩ kẻ rất có công mới lòng rất vui mừng đem viên ngọc khó cho mà lâu nay ở trên mão chẳng khinh tiện cho, nay mới cho đó. Như Lai cũng vậy, ở trong đại tam thiên thế giới làm vua pháp lớn, dùng pháp giáo hóa tất cả chúng sanh, thấy hiền thánh quân cùng ngũ ấm ma, phiền não ma, tử ma chiến đấu có đại công lực, diệt ba độc, ra ba cõi, phá lưới ma, thời Như Lai rất vui mừng đem kinh Pháp Hoa khiến tất cả chúng sanh được bậc Nhất thiết chủng trí mà các Đức Phật ba đời khó nói nay mới nói đó.
Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là lời nói bậc nhất của Như Lai, ở trong các lời nói thời là rất sâu, rốt sau mới ban cho, như vị vua kia lâu có viên ngọc sáng rốt sau mới cho. Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là tạng bí mật của chư Phật Như Lai, ở trong các kinh thời là bậc nhất, Phật lâu dài hộ trì chẳng khinh tiện nói, hôm nay mới đem phó chúc cho các ngươi.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Thường hành pháp nhẫn nhục
Từ bi thương chúng sanh
Mới đem kinh bí mật
Ta cất dấu lâu nay
Phó chúc cho người khác.
Người ấy ở đời mạt
Đối với kinh điển này
Nói với xuất gia nhân
Và kẻ cầu Đại thừa
Ngươi nếu có thể trì
Đọc tụng hiểu nghĩa kinh
Theo đúng pháp tu hành
Đó gọi là chân thật
Thân cận Phật tử vậy.
Sau khi ta diệt độ
Người nào hay thọ trì
Đọc tụng kinh điển này
Thời ở trước Phật nói
Ta có nguyện lực lớn
Khiến kinh lưu bố rộng
Người ấy lúc mạng chung
Được nghìn Phật tiếp tay
Chớ có lòng sợ sệt
Sau khi mạng chung rồi
Được sanh lên trời Đâu
Chỗ của Đế Thích vương
Ba mươi ba vị trời
Cùng trăm nghìn thiên nữ
Tấu kỹ nhạc muôn thứ
Cùng các việc vui chơi
Đều đến để hầu hạ
Được sanh lên trời đó
Trí huệ vui thần thông
Rộng độ các chúng sanh
Trong vô lượng cõi nước
Lần lần tu Phạm hạnh
Mau thành quả Bồ đề
Người ấy ở cõi này
Khéo biết tướng sanh tử
Và các pháp môn khác
Như trong kinh này nói
Có nghìn muôn ức Bồ tát
Dùng các món thí dụ
Diễn bày phân biệt kinh
Mà hay tự thanh tịnh
Theo người trí tu hành
Lại ở vô lượng kiếp
Hay phân biệt các pháp
Ở trong các chúng sanh
Biết căn tánh lợi độn
Dùng phương tiện khéo hay
Khiến đều được hoan hỷ
Như biển lớn nước mặn
Tất cả đều một vị
Kinh Pháp Hoa như vậy
Dùng một vị mưa pháp
Khắp đầy cả thế gian
Theo sức chịu đựng được
Mà nói các pháp nghĩa
Như biển lớn nước mặn
Tất cả đều một vị
Kinh Pháp Hoa như vậy
Hay sanh trí huệ sạch
Trong nghìn muôn ức kiếp
Rộng nói các pháp môn
Thảy đều được thành Phật
Nay ta nói như vậy
Để khiến các ngươi biết
Kinh Pháp Hoa này đây
Mở bày Phật chủng tánh
Như mây lớn mưa xuống
Khắp các cõi thế gian
Sấm vang chớp sáng chói
Mát mẻ khắp nơi nơi
Che phủ cả đại địa
Như người khát đến suối
Thấy nước trong mát lạnh
Nhưng chưa thể uống được
Chia cát tìm nước suối
Thấy nước trong mát lạnh
Liền uống được no lòng
Bồ tát cũng như vậy
Đã xa lìa sanh tử
Được pháp nhẫn vô sanh
Sau khi được an ổn
Ở trong đời vị lai
Được thành bậc Chánh giác
Dùng các món thần thông
Vui đùa trong mười phương
Rộng độ các chúng sanh.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 12 Kinh Pháp Hoa (Đề Bà Đạt Đa)
Phẩm Đề Bà Đạt Đa là phần quan trọng trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kể về việc Đức Phật tiết lộ rằng Đề Bà Đạt Đa – kẻ từng hại Phật – chính là thiện tri thức giúp Ngài thành đạo, và ông ta cũng sẽ thành Phật trong tương lai. Phẩm này còn kể chuyện Long Nữ tám tuổi thành Phật nhanh chóng, nhấn mạnh tính bình đẳng của Phật tánh: bất kỳ ai, dù ác nhân, phụ nữ hay trẻ em, đều có thể thành Phật nếu tin nhận và hành trì Kinh Pháp Hoa, vượt qua mọi chướng ngại.
Toàn văn phẩm thứ 12: Đề Bà Đạt Đa
Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Bồ tát và hàng trời, người, bốn chúng:
Ta ở trong vô lượng kiếp về thời quá khứ cầu kinh Pháp Hoa không có lười mỏi. Trong nhiều kiếp thường làm vị quốc vương phát nguyện cầu đạo Vô thượng Bồ đề, lòng bất thối chuyển. Vì muốn đầy đủ Lục độ Ba la mật nên siêng làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc, bố thí voi, ngựa, bảy báu, nước thành, vợ, con, tôi tớ, bạn bè, cho đến đầu, mắt, tủy, óc, thân, thịt, tay, chân, chẳng tiếc thân mạng.
Thuở đó, nhân dân trong đời sống lâu vô lượng, vua vì mến pháp nên thôi bỏ ngôi vua, giao việc trị nước cho thái tử. Đánh trống ra lệnh cầu pháp khắp bốn phương:
Ai có thể vì ta nói pháp Đại thừa, thời ta sẽ trọn đời cung cấp hầu hạ.
Khi ấy có vị tiên nhơn đến thưa cùng vua rằng:
Ta có pháp Đại thừa tên là kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nếu đại vương không trái ý ta, ta sẽ vì đại vương mà tuyên nói.
Vua nghe lời vị tiên nhơn nói, vui mừng hớn hở, liền đi theo vị tiên nhơn để cung cấp việc cần dùng: hoặc hái trái, gánh nước, hoặc lượm củi, nấu ăn cho đến dùng thân mình làm giường ghế, thân tâm không biết mỏi. Thuở đó theo phụng thờ vị tiên nhơn trải qua một nghìn năm, vì trọng pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ cho tiên nhơn không thiếu thốn.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Ta nhớ kiếp quá khứ
Vì cầu pháp Đại thừa
Dầu làm vị quốc vương
Chẳng ham vui ngũ dục
Đánh chuông rao bốn phương
Ai có pháp Đại thừa
Nếu vì ta giải nói
Thân sẽ làm tôi tớ.
Giờ có tiên Trường Thọ
Đến thưa cùng Đại vương
Ta có pháp nhiệm mầu
Trong đời ít có được
Nếu có thể tu hành
Ta sẽ vì ông nói.
Khi vua nghe tiên nói
Sanh lòng rất vui đẹp
Liền đi theo tiên nhơn
Cung cấp đồ cần dùng
Lượm củi và rau trái
Theo lời cung kính dâng
Lòng ham pháp Đại thừa
Thân tâm không lười mỏi,
Khắp vì các chúng sanh
Siêng cầu pháp mầu lớn
Cũng không vì thân mình
Cùng với vui ngũ dục
Nên dầu làm vua lớn
Siêng cầu được pháp này
Do đó được thành Phật
Nay vẫn vì ông nói.
Phật bảo các Tỳ kheo rằng:
Thuở ấy, vua đó thời chính thân ta, còn tiên nhơn đó nay chính là ông Đề Bà Đạt Đa. Do nhờ ông thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa làm cho ta đầy đủ Lục độ Ba la mật, từ bi hỷ xả, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi món đẹp, thân sắc vàng tía, mười trí lực, bốn món vô sở úy, bốn món nhiếp pháp, mười tám món bất cộng, thần thông đạo lực, thành bậc chánh đẳng chánh giác rộng độ chúng sanh, tất cả công đức đó đều là nhân thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa cả.
Phật bảo hàng tứ chúng:
Qua vô lượng kiếp về sau, ông Đề Bà Đạt Đa sẽ được thành Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cõi nước đó tên là Thiên Đạo, lúc Thiên Vương Phật trụ ở đời hai mươi trung kiếp, rộng vì các chúng sanh mà nói pháp mầu, hằng hà sa chúng sanh được quả A la hán, vô lượng chúng sanh phát tâm Duyên giác, hằng hà sa chúng sanh phát tâm vô thượng đạo, được vô sanh nhẫn đến bậc Bất thối chuyển.
Sau khi Đức Thiên Vương Phật nhập Niết bàn, Chánh pháp trụ lại đời hai mươi trung kiếp, toàn thân xá lợi dựng tháp bằng bảy báu, cao sáu mươi do tuần. Các hàng trời nhân dân đều đem hoa đẹp, hương bột, hương xoa, hương đốt, y phục, chuỗi ngọc, tràng phan, lọng báu, kỹ nhạc, ca tụng để lễ lạy cúng dường tháp đẹp bằng bảy báu đó. Vô lượng chúng sanh được quả A la hán, vô lượng chúng sanh ngộ Bích chi Phật, bất khả tư nghì chúng sanh phát tâm Bồ đề đến bậc Bất thối chuyển.
Đức Phật bảo các Tỳ kheo:
Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Đề Bà Đạt Đa, sanh lòng trong sạch kính tin chẳng sanh nghi lầm, thời chẳng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, được sanh ở trước các Đức Phật trong mười phương, chỗ người đó sanh ra thường được nghe kinh này. Nếu sanh vào cõi nhân thiên thời hưởng sự vui thắng diệu, nếu sanh ở trước Phật thờì từ hoa sen hóa sanh.
Bấy giờ, ở hạ phương vị Bồ tát theo hầu Đức Đa Bảo Như Lai tên là Trí Tích bạch với Đức Đa Bảo Phật nên trở về bổn quốc. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Trí Tích rằng:
Thiện nam tử! Chờ giây lát, cõi đây có Bồ tát tên Văn Thù Sư Lợi có thể cùng ra mắt nhau luận nói pháp mầu rồi sẽ về bổn độ.
Lúc đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi ngồi hoa sen nghìn cánh lớn như bánh xe, các vị Bồ tát cùng theo cũng ngồi hoa sen báu, từ nơi cung rồng Ta Kiệt La trong biển lớn tự nhiên vọt lên trụ trong hư không, đến núi Linh Thứu, từ trên hoa sen bước xuống đến chỗ Phật, làm lễ xong, qua chỗ Trí Tích cùng hỏi thăm nhau rồi ngồi một phía.
Ngài Trí Tích Bồ tát hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:
Ngài qua cung rồng hóa độ chúng sanh số được bao nhiêu?
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:
Số đó vô lượng không thể tánh kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải tâm lường được, chờ chừng giây lát sẽ tự chứng biết.
Ngài Văn Thù nói chưa dứt lời, liền có vô số Bồ tát ngồi hoa sen báu từ biển vọt lên đến núi Linh Thứu trụ giữa hư không. Các vị Bồ tát này đều là của Ngài Văn Thù Sư Lợi hóa độ, đủ hạnh Bồ tát đều chung luận nói Lục độ Ba la mật. Những vị mà trước kia là Thanh văn ở giữa hư không nói hạnh Thanh văn nay đều tu hành Nghĩa không của Đại thừa.
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với Ngài Trí Tích rằng:
Tôi giáo hóa ở nơi biển việc đó như thế.
Lúc ấy, Ngài Văn Thù Sư Lợi nói kệ khen rằng:
Đại trí đức mạnh mẽ
Hóa độ vô lượng chúng
Nay trong hội lớn này
Và tôi đều đã thấy
Diễn nói nghĩa thật tướng
Mở bày pháp nhứt thừa
Rộng độ các chúng sanh
Khiến mau thành Bồ đề.
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:
Ta ở biển chỉ thường tuyên nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Ngài Trí Tích hỏi Ngài Văn thù sư lợi rằng:
Kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có vậy có chúng sanh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:
Có con gái của vua rồng Ta Kiệt La mới tám tuổi mà căn tánh lanh lẹ, có trí huệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào thiền định, rõ thấu các pháp.
Trong khoảnh sát na phát tâm Bồ đề được bậc Bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sanh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ đề.
Trí Tích Bồ tát nói rằng:
Tôi thấy Đức Thích Ca Như Lai ở trong vô lượng kiếp làm những hạnh khổ khó làm, chứa nhiều công đức để cầu đạo Bồ đề chưa từng có lúc thôi dứt: Ta xem trong cõi Tam thiên Đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hạt cải, mà không phải là chỗ của Bồ tát bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh, vậy sau mới được thành đạo Bồ đề, chẳng tin Long nữ đó ở trong khoảng giây lát chứng thành bậc chánh giác.
Nói luận chưa xong, lúc đó con gái của Long vương bỗng hiện ra nơi trước đầu mặt lễ kính Phật rồi đứng một phía nói kệ khen rằng:
Thấu rõ tướng tội phước
Khắp soi cả mười phương
Pháp thân tịnh vi diệu
Đủ ba mươi hai tướng
Dùng tám mươi món tốt
Để trang nghiêm Pháp thân
Trời, người đều kính ngưỡng
Long thần thảy cung kính
Tất cả loài chúng sanh
Không ai chẳng tôn phụng
Lại nghe thành Bồ đề
Chỉ Phật nên chứng biết
Tôi nói pháp Đại thừa
Độ thoát khổ chúng sanh.
Bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất nói với Long nữ rằng:
Ngươi nói không bao lâu chứng được đạo vô thượng, việc đó khó tin.
Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành Vô thượng Chánh giác?
Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: một, chẳng được làm Phạm Thiên vương; hai, chẳng được làm Đế Thích; ba, chẳng được làm Ma vương; bốn, chẳng được làm Chuyển luân thánh vương; năm, chẳng được làm Phật.
Thế nào thân gái được mau thành Phật?
Lúc đó, Long nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi Tam thiên Đại thiên đem dâng Đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long nữ nói với Trí Tích Bồ tát cùng tôn giả Xá Lợi Phất rằng:
Tôi hiến châu báu, Đức Thế Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?
Đáp:
Rất mau.
Long nữ nói:
Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó.
Đang lúc đó cả chúng hội đều thấy Long nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát, liền qua cõi Vô Cấu ở phương Nam, ngồi tòa sen báu thành bậc chánh đẳng chánh giác, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi món đẹp, khắp vì tất cả chúng sanh trong mười phương mà diễn nói pháp mầu.
Khi ấy trong cõi Ta Bà hàng Bồ tát, Thanh văn, trời, rồng, bát bộ, nhơn cùng phi nhơn đều xa thấy Long nữ kia thành Phật khắp vì hàng nhơn, thiên trong hội đó mà nói pháp, sanh lòng vui mừng đều xa kính lạy, vô lượng chúng sanh nghe pháp tỏ ngộ được bậc Bất thối chuyển, vô lượng chúng sanh được lãnh lời thọ ký thành Phật. Cõi Vô Cấu sáu điệu vang động, cõi Ta Bà ba nghìn chúng sanh phát lòng Bồ đề mà được lãnh lời thọ ký.
Trí Tích Bồ tát và ngài Xá Lợi Phất tất cả trong chúng hội yên lặng mà tin nhận đó.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
From the publisher's feed
Kinh A Di Đà 1 phẩm 7 phút
Kinh Kim Cang 32 phẩm 30 phút
Kinh Tâm Kinh 1 phẩm 1…
Kinh Pháp Hoa 28 phẩm 3–4 giờ
Kinh Địa Tạng 13 phẩm 2 giờ
Kinh Lăng Nghiêm 10 quyển 4–5 giờ
Kinh Hoa Nghiêm 80 quyển 40 ngày tụng
Kinh Niết Bàn 40 quyển 20 ngày tụng