Tạp chí âm nhạc

Tạp chí âm nhạc

By RFI Tiếng ViệtMusic
Download on the App Store

Tạp chí âm nhạc episodes

  • Nhạc ngoại lời Việt : Giai thoại tình khúc « Trọn đời bên anh »

    Hiếm khi nào, một bài hát tiếng Ý đoạt cùng lúc hai giải thưởng lớn tại châu Âu, để rồi trở thành một trong những ca khúc ăn khách nhất thị trường quốc tế. Đó là trường hợp của nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) hiểu theo nghĩa chưa đến tuổi yêu người, từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Trọn đời bên anh ».

    Do hai nhạc sĩ Nicola Salerno và Mario Panzeri đồng sáng tác, nhạc phẩm « Non ho l'età (per amarti) » từng được đưa đi tranh giải tại liên hoan ca khúc tiếng Ý, tổ chức tại thành phố Sanremo vào năm 1964. Vào thời bấy giờ, bài hát được cô ca sĩ Gigliola Cinquetti, khi đó mới 16 tuổi, trình diễn trực tiếp trên sân khấu đài truyền hình Ý (RAI). Còn phiên bản tiếng Pháp "Je suis à toi" (Em thuộc về anh) do ca sĩ người Ý gốc Bỉ Patricia Carli viết lời và ghi âm.

    Theo thông lệ, người đoạt giải nhất liên hoan ca khúc tiếng Ý San Remo (còn được gọi là Festival della Canzone Italiana ra đời vào năm 1951) thường được quyền ưu tiên đại diện chonước Ý nhân cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision Song Contest diễn ra vài tháng sau đó. Bất ngờ thay, bài hát tiếngÝ « Non ho l'età » giành lấy thêm giải đầu cuộc thi hát châu Âu cùng năm (1964) ở Copenhagen, thủ đô Đan Mạch.

    Ca sĩ người Ý Gigliola Cinquetti trở thành người thắng giải trẻ tuổi nhất trong lịch sử cuộc thi, mở đường cho nhiều giọng ca trẻ khác như France Gall đoạt giải Eurovision một năm sau (1965) với nhạc phẩm « Poupée de cire, poupée de son » (Búp bê không tình yêu). Mãi đến năm 1986, kỷ lục này mới được cô ca sĩ người Bỉ Sandra Kim phá vỡ do cô đoạt giải Eurovision với nhạc phẩm "J'aime la vie" ở tuổi13. 

    Gần đây hơn, chi có nhóm nhạc rock người Ý Maneskin mới lặp lại thành tích này vào năm 2021, khi giành lấy cùng lúc giải nhất tại liên hoan San Remo và tại cuộc thi hát Eurovision.

    Nhờ hai giải thưởng này, nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) sau đó đã đứng đầu bảng xếp hạng ở nhiều nước châu Âu. Bài hát được chuyển lời sang 10 ngôn ngữ khác nhau. Phiên bản tiếng Anh là « This is my prayer ». Bài này sau đó được ông hoàng Elvis ghi âm với một tựa đề khác là « Please don't stop loving me ».

    Riêng trong tiếng Pháp, Patricia Carli (đồng tác giả sau này của bài Mưa trên biển vắng) ghi âm bản nhạc này trong tiếng Pháp với tựa đề « Je suis à toi » (Em thuộc về Anh). Có lẽ cũng vì Patricia là người gốc Ý cho nên trong sự nghiệp ca hát, cô thường hay chọn phóng tác những lời ca gần gũi nhất với mình. 

    Còn trong tiếng Việt, bản nhạc từng được nữ ca sĩ Julie đặt thêm lời thành giai điệu « Trọn đời bên anh » chủ yếu dựa vào phiên bản tiếng Pháp hơn là nguyên tác tiếngÝ. Dù gì đi nữa, hiếm khi nào một giai điệu tiếng

    Ý lại thành công rực rỡ như vậy, trong nửa thế kỷ gần đây, số bài hát đoạt cả hai giải thưởng này, có thể được đếm trên đầu ngón tay.

    10 min
  • Nhạc ngoại lời Việt : 40 năm giai thoại The Lady in Red

    Tên tuổi của Chris de Burgh gắn liền với bản nhạc nổi tiếng « The Lady in Red », phát hành lần đầu tiên cách đây bốn thập niên (1986). Ngay cả những nhà phê bình không thích các bản nhạc slow rock cũng phải công nhận rằng Chris de Burgh đã sáng tác một giai điệu sau bao năm vẫn chưa lỗi thời, cho dù các trào lưu âm nhạc không ngừng thay đổi.

    Vào thời điểm Chris de Burgh cho ra mắt nhạc phẩm « The Lady in Red »(Giai nhân áo đỏ), tác giả này đã có hơn 10 năm tay nghề. Sinh ra ở Achentina nhưng lớn lên ở Ai Len, Chris de Burgh không nối nghiệp thân phụ là một viên chức ngoại giao, mà lại chọn nghề thu âm sáng tác. Ông đã phát hành album đầu tiên của mình vào năm 1974, đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng thị trường Ai Len với  đĩa đơn  « A Spaceman came travelling » vào năm 1975.  

    Tưởng chừng như thành công sự nghiệp sẽ đến sớm hơn, nhưng rốt cuộc những album phòng thu tiếp theo lại không tạo ra được nhiều dấu ấn. Tuy nhiên, Chris vẫn giữ được hợp đồng thu âm và bắt đầu gây được tiếng vang vào năm 1982, lọt vào bản xếp hạng Top 40, trên thị trường Hoa Kỳ với đĩa đơn « Don't pay the ferryman ».

    Mãi đến năm 1986, khi Chris de Burgh phát hành album phòng thu thứ tám « The Lady in Red », ông mới bất ngờ lập kỷ lục số bán, một sự thành công mà dường như không gì có thể ngăn cản nổi, bài hát giành lấy hạng đầu tại 25 quốc gia, kể cả thị trường Anh và Ai Len, đồng thời vươn lên hạng ba tại Hoa Kỳ. 

    Bản thân Chris de Burgh cũng không ngờ rằng bài hát  lại thành công vang dội đến như vậy. Trong nhiều cuộc phỏng vấn sau này, Chris de Burgh cho biết « Giai nhân áo đỏ » không phải là bài hát hay nhất trên album « Into the Light » cho nên  suýt nữa không  được chọn làm đĩa đơn để quảng bá cho album này.

    Theo lời kể của chính tác giả, bài hát này đã được ấp ủ trong một thời gian dài. Ông bắt đầu sáng tác giai  điệu như một cách  để làm lành với vợ mình sau vài lần cãi vã. Do vậy, trong bài hát mới có câu « I'll never forget the way you look tonight »  Anh sẽ không bao giờ quên, dáng em bừng sáng trong đêm. Ban đầu, bản nhạc này đáng lẽ ra được đặt tựa là « The way you look tonight »,  nhưng trước đó đã có một bài hát nổi tiếng cùng tên, từng đoạt giải Oscar dành cho nhạc phim do FredAstaire thu âm vào năm1936, rồi đến phiên  Frank Sinatra ghi âm một phiên bản khác năm 1964 với dàn nhạc của Nelson Riddle.

    Trong bộ phim truyền hình Anh « This is your life », Chris de Burgh nói rằng bài hát gợi hứng từ lần đầu tiên anh thấy vợ anh là Diane trong một bộ áo đầy nét quyến rũ màu đỏ, nhưng theo Chris bài hát không chỉ nói về môt kỷ niệm cá nhân thuở ban đầu, mà còn là gìn giữ và trân qúy tình cảm của  người bạn đời.

    Giai nhân áo đỏ « The Lady In Red » là một bản hit đình đám trên toàn cầu, được khai thác nhiều qua phim ảnh, nên trở thành một phần không thể thiếu trong  dòng văn hóa phổ  thông. Tuy nhiên, bài hát cũng đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều. Theo khảo sát của tờ báo The Observer, « The Lady in Red » từng lọt vào danh sách 10 bài hát phản cảm, nếu không nói là dễ ghét nhất những năm 1980, chủ yếu cũng vì trong mắt các nhà phê bình nhạc rock : « The Lady in Red » có những lời lẽ hơi sến, thậm chí ủy mị. 

    Ngoài đời thực, hôn nhân giữa Chris và Diane đã gặp nhiều sóng gió vào giữa những năm 1990 khi tác giả tiết lộ rằng ông đã từng có quan hệ ngoại tình. Nhưng có lẽ vì không muốn làm khổ gia đình, cho nên Chris và Diane vẫn quyết định ở lại bên nhau. Cho dù nhiều nhà phê bình nghĩ rằng bài hát này thật ủy mị, nhưng thực ra nội dung bản nhạc nói về tâm trạng của một người đàn ông khi nhận ra rằng mình nên quan tâm nhiều hơn đến người bạn đời. Có lẽ cũng vì thế « Giai nhân áo đỏ » được phát thường xuyên trong các lễ cưới và nhiều cặp tình nhân xem « The Lady in Red » trước sau gì vẫn là : khúc nhân duyên muôn đời, giai điệu của lứa đôi

    10 min
  • Nhạc Nhật lời Việt : Bản tình ca Anata "Ước gì người còn đây"

    Trong nhiều thập niên liền, bài hát "Anata" của Akiko Kosaka đã được phổ biến rộng rãi trong các chương trình truyền hình, cũng như tại các quán karaoke ở Nhật Bản. Những người thích hát bài này thường có giọng ca ngọt ngào, trong sáng. 

    Sinh trưởng tại thành phố Nishinomiya, tỉnh Hyogo, Akiko Kosaka xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ. Thân phụ cô là nhạc trưởng Tsutomu Kosaka, chuyên sáng tác và điều khiển dàn nhạc hòa tấu ở vùng Kansai. Từ thuở thiếu thời, Akiko học đàn piano với bố, rồi sau đó tốt nghiệp Nhạc viện thành phố Osaka. 

    Vào năm 1973, khi mới 16 tuổi, Akiko đã tham gia Liên hoan âm nhạc Yamaha với một bài hát do chính cô soạn nhạc và viết lời. Mang tựa đề "Anata", bài hát kể lại câu chuyện buồn của một cô gái trẻ sắp thành hôn, nhưng không may người yêu đột ngột qua đời. Một mình, cô gái hình dung trong tâm trí về hạnh phúc cuộc sống lứa đôi, giấc mộng xây tổ ấm tan vỡ khi mọi chuyện đã hết rồi, không còn ngày hôn phối.   

    Trong bản nhạc, Akiko hát câu cuối cùng một cách xúc động, bồi hồi : "Anata ga ite hoshii" (ước gì người còn ở bên ta). Lối diễn đạt trầm buồn, sâu lắng ấy đã chinh phục hàng triệu con tim người hâm mộ khi bản ghi âm ra đời.

    Tuy chưa đến tuổi trưởng thành, nhưng Akiko đã giành được Giải thưởng Lớn của liên hoan âm nhạc Yamaha. Khi được phát hành cuối năm 1973 dưới dạng đĩa đơn, bài hát này đã đứng đầu bảng xếp hạng trong 7 tuần liên tục và bán được hơn hai triệu bản, chỉ trong vài tháng. Nhờ giải thưởng này, lần đầu tiên, hai cha con Akiko cùng nhau biểu diễn trong show truyền hình của đài NHK (Kohaku Uta Gassen). Trong sự kiện này, Akiko hát live trên sân khấu, còn thân phụ Tsutomu Kosaka là nhạc trưởng điều khiển dàn nhạc giao hưởng.

    Thành danh kể từ năm 1974, Akiko trong vòng một thập niên sau đó đã phát hành 6 album và 12 đĩa đơn, trong đó có  nhiều bản nhạc ăn khách như June Bride, Happy Now hay là Again với nhóm Full Moon.

    Sau khi lập gia đình và sinh con, cô ít còn xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu, mở lớp đào tạo thanh nhạc, chuyển sang sáng tác nhạc cho ngành giải trí kể cả nhạc cho trò chơi điện tử, các show truyền hình hay các bộ phim hoạt hoạ.

    Trong vòng hai thập niên sau đó, tính từ năm 1993 trở đi, Akiko là nhà soạn nhạc nền cho nhiều bộ phim hoạt hình nhiều tập nổi tiếng như "Sally, phù thủy tí hon" cũng như ca khúc chủ đề cho "Sailor Moon, thủy thủ mặt trăng", thành công của loạt phim này cho ra đời một phiên bản nhạc kịch trên sân khấu.

    Riêng nhạc phẩm Anata, hơn ba thập niên sau ngày thành công tại liên hoan Yamaha, giai điệu này ăn khách một lần nữa khi được tái bản năm 2006 trên album phòng thu "Pianish". Ca khúc "Anata, I wish You were here" giành lấy hạng nhất trong hạng mục New Age trên thị trường Hà Lan và hạng 5 trên bản xếp hạng thị trường nhạc trực tuyến châu Âu.

    Giai điệu Anata từng được nhiều nghệ sĩ Nhật Bản ghi âm lại. Trong số các bản cover nổi tiếng có Saori Minami, Ayumi Ishida, Seiko Matsuda hay Hiromi Iwasaki và được khai thác nhiều lần trong phim quảng cáo ... Tại châu Á, bài hát này cũng thành công qua bản ghi âm của diva Đài Loan Đặng Lệ Quân. Bài hát cũng từng được tác giả Phạm Duy đặt thêm lời Việt thành nhạc phẩm "Căn nhà xinh", qua phần ghi âm của các danh ca Thanh Lan, Ngọc Lan hay Khánh Hà.

    Xây một căn gác nhỏ, không cần gì trong đó, khi lửa chưa tàn tro, bên cửa sổ ấm nồng, chùm hoa hồng tươi thắm, trong góc vườn hoa đỏ ....

    Chú chó con nho nhỏ, chơi đùa ở ngoài sân, bỏ mình ta trong mộng, thơ thân duới gốc cây, ước gì người còn đấy, trăng khuyết mong tròn đầy.

    10 min
  • Nhạc ngoại lời Việt : Cuộc tình thoáng bay, bản gốc là của ai ?

    Có những giai điệu nghe rất quen thuộc, nhưng ta không còn nhớ tác giả là ai ? Nhạc phẩm "More" nằm trong số này, bài hát đã được hàng trăm nghệ sĩ ghi âm lại, qua nhiều phiên bản phóng tác trong hơn mười ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, bản nhạc này từng được đặt lời thành nhạc phẩm "Cuộc tình thoáng bay".

    Trong nguyên tác, giai điệu này được hai nhạc sĩ người Ý Riziero Ortolani và Nino Oliviero sáng tác cho bộ phim "Mondo Cane", phát hành vào năm 1962. Do là nhạc phim, cho nên ban đầu, khúc nhạc này là một bản hoà tấu không lời. Trên album nhạc phim, đây là giai điệu bài ghi âm số 9, có tựa đề "Modelle in Blu" (Người mẫu áo xanh). Khi bộ phim được cho ra mắt khán giả, giai điệu này mới được tác giả Marcello Ciorciolini bổ sung thêm lời tiếng Ý với tựa đề "Ti guarderò nel cuore" có nghĩa là nhìn vào trong tim.

    Nhà soạn nhạc Riziero Ortolani lúc bấy giờ mới nhờ vợ ông là nữ ca sĩ Katyna Ranieri ghi âm lần đầu tiên bài này trong tiếng Ý, phát hành trên đĩa đơn vào tháng 05/1962 và sau đó được tái bản vào năm 1965 trên đĩa nhạc "Donna di fiori / Ti guarderò nel cuore".

    Mãi đến một năm sau vào tháng 04/1963, giai điệu "Ti guarderò nel cuore" mới  được phát hành trên thị trường quốc tế với phiên bản tiếng Anh "More" do Norman Newell viết lời. Steve Lawrence là người đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Anh, và vài tháng sau đến phiên Vic Dana và Al Martino. Nhờ được nhiều nghệ sĩ thu âm lại, nhạc phẩm More ngày càng trở nên quen thuộc với công chúng, để rồi sau đó thực sự trở thành một bài hát kinh điển.

    Vào năm 1964, nhạc phẩm "More" đoạt giải Grammy dành cho bài hát hay nhất trong năm và sau đó được đề cử giải Oscar trong hạng mục ca khúc nhạc phim hay nhất. Trong buôi lễ trao giải Oscar cùng năm, bài hát này đã được nghệ sĩ gốc Katyna Ranieri, vợ của nhà soạn nhạc Ortolani trình bày. Cho đến bây giờ, Katyna Ranieri vẫn là ca sĩ người Ý duy nhất được mời biểu diễn trực tiếp trên sân khấu Oscar.

    Với thời gian, "More" đã trở thành một trong những bản nhạc phim được đánh giá cao, có tầm ảnh hưởng lớn nhờ khúc nhạc hoà tấu này được sử dung nhiều lần trong phim ảnh và quảng cáo. Trong số các phiên bản ghi âm nổi tiếng với các giọng ca tên tuổi, có phiên bản swing của Frank Sinatra với phần nhạc đệm của Count Basie và do Quincy Jones hoà âm trên album "It might as well be swing" (1964). Phiên bản cool jazz được Nat King Cole trên album "Love" (1965). Andy Williams cũng đã phát hành phiên bản của mình trên album chuyên đề bao gồm các bản nhạc phim từng đoạt giải Oscar .....  Nhiều nghệ sĩ khác cũng  thành công không kém khi thu lại bản nhạc này như Tom Jones, Doris Day hay Connie Francis ..... Line Renaud hát bài này trong tiếng Pháp, Caterina Valente trình bày phiên bản song ngữ Anh-Ý, Simone de Oliveira ghi âm bằng tiếng Bồ Đào Nha ......

    Riêng trong tiếng Việt, nhạc phẩm "More/ Ti guarderò nel cuore" được tác giả Kỳ Phát chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Cuộc tình thoáng bay" và từng được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại, trong đó có bản ghi âm của Vy Vân trước năm 1975, rồi sau đó có Kiều Nga, Ngọc Huệ, Thúy Vi; Lâm Thúy Vân ..... Bản phóng tác lời Việt khác han với bản nguyên tác tiếng Ý : 

    Tim này, khi nhìn tận đáy, lắng nghe nhịp đập từng giây, thế nào rồi cũng sẽ thấy, tên người được vẽ bằng mây. Trong tim, mối tình đang viết, chợt đến như chuyện thần tiên, ẩn hiện màu tranh sóng biển, yêu từ lúc nào không biết. Hãy nhìn tận đáy tim sâu, rồi người bỗng dưng hiểu thấu, chẳng cần niệm câu thần chú, tình đến như có phép màu. Gió bay lời nói nhạt phai, chỉ còn dư âm đọng lại, muôn nốt nhạc còn rơi mãi, trong tim quyến rũ ngân dài ....

    10 min
  • Eurovision Junior : Lou Deleuze đoạt giải nhất nhờ giai điệu tràn đầy hy vọng

    Ra đời cách đây70 năm, Eurovision là cuộc thi hát truyền hình rất nổi tiếng tại châu Âu. Kể từ năm 2003, giải này còn tổ chức một phiên bản dành cho thiếu nhi gọi là Eurovision Junior. Hồi trung tuần tháng 12 vừa qua, cô ca sĩ trẻ tuổi Lou Deleuze đã đem giải thưởng này về cho nước Pháp với nhạc phẩm "Ce Monde" (Thế giới này).

    Được tổ chức hôm 13/12 vừa qua  tại thủ đô Gruzia, Lou Deleuze đã giành lấy hạng đầu trong số 18 thí sinh đến từ khắp châu Âu. Đây là lần thứ tư nước Pháp đoạt giải nhất kể từ khi cuộc thi hát truyền hình này thành lập vào năm 2003 một phiên bản dành cho các giọng ca trẻ từ 9 đến 14 tuổi.

    Năm nay 11 tuổi, Lou Deleuze sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris. Từ thời còn nhỏ, Lou đã có nhiều năng khiếu bẩm sinh. Thật vậy, Lou Deleuze lớn lên trong một môi trườnng nghệ thuật, thân phụ cô là một thợ chuyên làm đàn. Ông từng chế tạo  một chiếc đàn piano cho con gái và Lou được gia  đình cho học nhạc từ năm 7 tuổi. Cách đây 3 năm, Lou thu hút sự chú ý trên mạng khi phát hành bản cover nhạc phẩm "Papaoutai" của danh ca người Bỉ Stromae.

    Giải Eurovision Junior không phải là cuộc thi hát truyền hình đầu tiên mà Lou Deleuze tham gia. Vào năm 2024, Lou từng lọt vào vòng bán kết chương trình tuyển lựa các tài năng mới của nước Pháp (France's Got Talent).

    Vào lúc bấy giờ, Lou đã chinh phục ban giám khảo, trong đó có nữ danh ca Hélène Ségara, khi trình bày lại nhạc phẩm "Rêver" của Mylène Farmer. Tuy không đoạt giải nhất, nhưng cuộc thi này đã giúp cho cô bé Lou cảm thấy tự tin hơn, tự nhủ rằng thời cơ của mình có ngày sẽ đến.

    Mặc dù còn nhỏ tuổi, nhưng Lou Deleuze ngoài tài nghệ ca hát, còn có thêm nhiều kinh nghiệm phim trường. Cũng như thần tượng Elsa của những năm 1980, cô bé đã tham gia nhiều bộ phim truyện điện ảnh và truyền hình.

    Trong cuộc thi hát Eurovision Junior vừa qua, Lou Deleuze đã trình bày nhạc phẩm "Ce monde" (Thế giới này) do ca sĩ Pauline Thisse voi nghệ danh là Linh sáng tác. Dưới ánh đèn sân khấu Lou xuất hiện với chiếc mũ béret nho nhỏ và chiếc váy xếp xinh xắn cùng tông màu đỏ, lối diễn đạt của cô bé mang đậm dấu ấn của trường phái hiện thực lãng mạn trong dòng nhạc Pháp, giọng hát mạnh mẽ với những đoạn cảm hứng cao trào, theo phong cách của Édith Piaf và gần đây hơn nữa là Barbara Pravi.

    Giới yêu nhạc có thể nhận thấy nhiều nét gần giống với nhạc phẩm "Voilà" của Barbara Pravi, trong cách dùng nhịp valse trong điệp khúc cũng như lối sáng tác ở cung La thứ, có khả năng diễn tả "nỗi buồn" sâu sắc tha thiết hơn bất cứ cung thứ nào khác.

    Trái với những nhịp điệu nhạc pop trẻ trung vui nhộn, thường phản ánh thế giới tuổi thơ, Lou Deleuze qua nhạc phẩm "Ce monde" muốn gửi một thông điệp tràn đầy yêu thương. Một dạo khúc đầy cảm xúc tựa như một lời nhắn nhủ gửi đến tuổi trẻ thời nay, nói lên khao khát đóng góp phần mình dù thật nhỏ nhoi cách mấy, để có thể hy vọng một ngày, nhìn thấy thế giới này thực sự đổi thay.

    Phải chăng vì nỗi bất hạnh

    Thế giới này bỗng lạnh căm

    Con tim nhen nhúm âm thầm

    Trời xanh ấm lại hy vọng 

    Hãy cho ta một ngày mai

    Dù đời chẳng còn tương lai 

    Trong tay nụ hồng muôn sắc  

    Ngàn hương thơm ngát hoa nhài

    Cứ cho ta tình hoang dại

    Dù tình yêu đã nhạt phai

    Lửa nào ta sẽ thắp lại 

    Cho dù ướt đẫm sương mai

    Chân trời u ám tương lai

    Không thuộc về bất cứ ai 

    Thế giới là của chúng ta

    Hãy nhớ làm cho tươi mãi

    10 min
  • Chuyện tình đẹp nhất trong đời : 30 năm sự nghiệp của Natasha St-Pier

    Sau Fabienne Thibeault và Céline Dion, Natasha St-Pier là làn sóng thứ ba đến từ vùng Québec chinh phục thị trường quốc tế. Riêng tại Pháp, Céline Dion lập kỷ lục số bán khi hợp tác với tác giả Jean-Jacques Goldman, trong khi Natasha thành danh vào đầu những năm 2000 nhờ làm việc chung với người em trai là nhạc sĩ Robert Goldman.

    Năm nay đánh dấu đúng 30 năm sự nghiệp ca hát của cô ca sĩ vùng Québec, vì Natasha phát hành album phòng thu đầu tiên vào năm 1996, lúc cô mới 15 tuổi. Nhân dịp này, Natasha thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh nước Pháp và phát hành album phòng thu thứ 15 mang tựa đề "Ma plus belle histoire d'amour" (Chuyện tình đẹp nhất đời tôi). Giới yêu nhạc Pháp hiểu ngay đây là bản nhạc nổi tiếng mà Barbara từng viết tặng cho người hâm mộ, vì câu chuyện tình đẹp nhất trong cuộc đời nghệ sĩ, trước sau vẫn là lòng thương yêu của công chúng.

    Không phải ngẫu nhiên mà Natasha chọn bài hát của Barbara để đặt tựa cho album gần đây nhất của mình. Album này gồm những bản nhạc tiếng Pháp kinh điển, một hành trình âm nhạc xuyên qua nửa thế kỷ  để ngỏ lời tri ân những tác giả và nghệ sĩ mà cô hằng yêu mến : ngoài Barbara, còn có Piaf và các nhà soạn nhạc Michel Berger, Alain Souchon, Nino Ferrer hay Christophe.

    Những giai điệu quen thuộc ấy, Natasha từng được nghe trong gia đình từ thời còn nhỏ.  Theo cô, tiếng Pháp có một nền âm nhạc vô cùng phong phú, đa dạng. Trong buổi trình diễn, Natasha hát lại những bài ca gắn liền với kỷ niệm của nhiều thế hệ người nghe.

    Một sự lựa chọn theo Natasha không hề dễ dàng, vì có rất nhiều nhạc phẩm xứng đáng được đưa vào album này, khi chỉ giữ lại khoảng 10 bài hát, Natasha đã cố gắng đem lại sự đồng nhất, trong các bản hoà âm, phối khí.

    Khác với những bản ghi âm trước, thường dùng nhiều nhạc cụ để tạo ra quy mô hoành tráng cho dự án, album của Natasha có một lối phối khí mộc mạc thuần khiết hơn, dùng tiếng đàn đệm piano và ghi ta để làm nổi bật vẻ đẹp của lời bài hát và sức truyền cảm trong lối diễn đạt.

    Album của Natasha St Pier thực sự là một lời gọi mời cho một hành trình xuôi dòng ký ức, khám phá lại những giai điệu còn lưu lại bao dấu ấn sâu đậm qua các thế hệ. Nhiều nghệ sĩ thời trước đã tạo ra những giai điệu tuyệt vời, đẹp như mơ. Với tập nhạc của mình, Natasha hy vọng tiếp nối kéo dài những giấc mơ ấy.

    Năm nay, Natasha St-Pier đã bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc sống. Trong quá trình thực hiện tuyển tập nhạc Pháp này, cô nhận ra rằng thời gian sống  trên đất Pháp giờ dây, xấp xỉ với thời gian sinh trưởng ở Canada. Điều đó khiến Natasha quyết định nộp đơn xin nhập tịch Pháp, vào mùa thu năm 2025. Nhạc phẩm "J'ai deux amours" từng ăn khách qua giọng ca của Joséphine Baker, giờ đây trên album của Natasha tìm thấy một hơi thở mới : Dù nghìn trùng xa xôi ngăn cách diệu vợi, con tim vẫn ôm hai mối tình tuyệt vời, quê hương ngàn đời và Paris muôn lối.

    10 min
  • Tokyo Square: Thổi hồn Tây vào những bài nhạc Hoa

    Từng là một trong những nhóm nhạc Đông Nam Á đình đám nhất thập niên 80 với ca khúc “Within You'll Remain” và các bản nhạc Hoa được phối khí theo âm hưởng phương Tây, Tokyo Square dường như đã ngủ quên ngay trong chính thời kỳ hoàng kim của mình. Xích mích nội bộ, bất đồng lợi ích, rốt cuộc điều gì đã khiến nhóm nhạc tiên phong của Singapore, từng làm mưa làm gió tại thì trường âm nhạc châu Á, giờ chỉ còn là dĩ vãng ? 

    Xuất thân bình dân 

    Nhóm nhạc được thành lập bởi ca sĩ hát chính Linda Elizabeth Dana và nghệ sĩ guitar Peter Han. Sau đó năm thành viên khác gồm giọng ca nam Max Surin, đồng thời là anh họ của Elizabeth Dana, nghệ sĩ saxophone Henry Pereira, tay trống Tony Fonseca, nghệ sĩ keyboard Clarence Tan và tay bass Peter Idil gia nhập nhóm và tạo ra một đội hình hoàn chỉnh. Họ bắt đầu biểu diễn tại quán bar mang tên Rainbow, nơi đầu tiên chơi nhạc disco tại Singapore thời điểm đó.

    Đến từ Đảo quốc Sư Tử nhưng lại lấy tên là Tokyo Square, nhóm nhạc đã khiến nhiều khán giả không khỏi tò mò về nguồn gốc của cái tên này. Mỗi khi được hỏi như vậy, giọng ca nữ Linda Elizabeth Dana lại vui vẻ chia sẻ : “Thực ra hồi đó khi tìm tên, chúng tôi đã không quá nghiêm túc. Một người trong nhóm bỗng dưng nói rằng Nhật Bản đang rất nổi tiếng. Tôi cũng chẳng biết nữa, chỉ nhớ là người ấy bỗng dưng nhắc tới. Thế rồi chúng tôi bảo nhau hay lấy tên là Tokyo. Sau đó chúng tôi nghĩ rằng Tokyo Square nghe có vẻ hay, nên lúc đó quyết định chọn luôn.”

    Danh tiếng đến bất ngờ 

    Những tưởng nhóm sẽ trải qua những ngày tháng bình dị, đi hát nhạc tại các quán bar địa phương, nhưng mọi thứ bắt đầu thay đổi khi Tokyo Square thu âm ca khúc “Within You’ll Remain” (tạm dịch Vẫn mãi có em) vào năm 1985. Thực ra ca khúc này vốn do tay rock Hồng Kông Donald Ashley, người sáng lập ban nhạc Chyna, viết tặng cho vợ của mình. Tại Hồng Kông, bài hát cũng đã đạt một số thành công nhất định, tuy nhiên nó chỉ thực sự vang danh khắp châu Á sau khi nhóm Tokyo Square phối khí lại, đến nỗi nhiều người nhầm tưởng nhóm này mới là tác giả thực sự của ca khúc. Điểm đặc biệt của ca khúc là cả bài hát được chơi bằng đàn tranh réo rắt, hoà với guitar và piano, tạo ra một giai điệu hoà trộn hoàn hảo giữa phương Đông và phương Tây. 

    Điều thú vị là phiên bản “Within You'll Remain” của Tokyo Square ban đầu không hề tạo được tiếng vang tại quê nhà. Tokyo Square vẫn đi chơi nhạc mỗi tối tại các quán bar mà không hay biết rằng bài hát của mình đang trở thành một xu hướng tại Thái Lan. Chia sẻ trong bài phỏng vấn với Tropic Titbit, nữ ca sĩ Linda kể lại rằng một ngày nọ, nhiều người bạn của bà, khi đó đang làm ăn ở Thái Lan, đã gọi điện cho bà và nói : “Này, ca khúc của bạn nổi tiếng lắm. Ở đâu họ cũng phát ca khúc này. Sao ở Singapore còn chưa nghe ?”. Đến khi đó nhóm mới nhận ra bài hát của mình đang được yêu thích đến thế nào. 

    Không lâu sau, bài hát bắt đầu trở thành hiện tượng tại Singapore. Với “Within You'll Remain”, Tokyo Square đã giữ ngôi vị quán quân bảng xếp hạng âm nhạc tại Singapore suốt 5 tuần lễ liên tiếp trong năm 1986. Đĩa nhạc đã bán được đến hơn 500.000 bản.  “Within You'll Remain” còn thành công đến mức mà vào năm1987, nhóm được mời hát mở màn trong ngày Quốc khánh Singapore, nơi hơn 50.000 khán giả cùng hát vang ca khúc đó. Ở đỉnh cao danh tiếng của ban nhạc, nam ca sĩ Surin được ca ngợi như là “Hoàng tử Singapore”, với giọng hát mượt mà, bộ ria mảnh và phong cách biểu diễn lãng tử. 

    Sau đó, nhóm lần lượt cho ra các bản phóng tác lời Anh của những ca khúc tiếng Hoa phổ biến thời bấy giờ. Người yêu nhạc Việt hẳn đã quen với những bài hát như “Keep on loving you”, bản gốc là bài “Người con gái dễ bị tổn thương” của Vương Phi, với phiên bản Việt là “Người tình mùa đông”, nổi tiếng qua giọng ca trong trẻo của nữ ca sĩ Như Quỳnh. 

    Ngoài ra còn có thể kể tới bài “Caravan of life”, bản gốc là bài “Những ngày bên nhau đã qua” của Lưu Đức Hoa, còn bản Việt mang tên “Tình nhạt phai”. Hay bài “Can’t let go”, lấy từ bản gốc “Mộng uyên ương hồ điệp” của Hạo Thiên. 

    Lời nguyền “One hit wonder” 

    Tuy nhiên, tất cả các bài cover sau này đều không vượt qua khỏi cái bóng của “Within You’ll Remain”, khiến cho Tokyo Square bị gắn với cái mác “One hit Wonder”. Đây là một khái niệm đã trở nên quen thuộc trong âm nhạc nhằm ám chỉ các ca sĩ, nhạc sĩ chỉ có duy nhất một ca khúc nổi tiếng trong sự nghiệp, còn những sản phẩm sau đó đều mờ nhạt, không đạt được thành công như ca khúc ban đầu.

    Nhìn chung nguyên nhân có thể là thị hiếu âm nhạc thay đổi nhanh chóng khiến những ca khúc mới không được đón nhận, trong khi nhóm nhạc lại thiếu sáng tạo hoặc việc thử nghiệm phong cách mới thất bại. Việc  thiếu chiến lược quảng bá cũng khiến các sản phẩm khác khó nổi bật. Ngoài ra còn phải kể tới các yếu tố bên ngoài như sức khỏe, đời sống cá nhân, hay những sự kiện bất ngờ cũng có thể ngăn trở nhóm tiếp tục sản xuất nhạc, khiến họ chỉ gắn liền với một bản hit duy nhất.

    Xung đột lợi ích 

    Vậy đối với Tokyo Square, điều gì đã khiến nhóm không thể tiếp tục nối dài chuỗi ngày vinh quang của mình và bất ngờ tuột dốc khi đang trên đỉnh cao của danh vọng ? Câu trả lời nằm ở vấn đề lợi ích. Trong bài phỏng vấn với tờ The Straits Times, nữ ca sĩ Linda đã chua chát nói: “Chúng tôi chẳng có tiền bạc gì cả, chỉ có danh tiếng mà thôi.” Nam ca sĩ Surin chia sẻ thêm : “Mỗi người chúng tôi chỉ nhận được một, hai tấm séc đầu tiên rồi sau đó thì không còn gì nữa. Không phải là công ty thu âm không trả tiền cho Tokyo Square. Lỗi nằm ở chính ban nhạc.” 

    Hóa ra bản hợp đồng giữa ban nhạc và công ty thu âm chỉ do một người ký, và không có chữ ký xác nhận của các thành viên khác, vì vậy người ký kết không có nghĩa vụ pháp lý phải phân chia số tiền đó cho phần còn lại của ban nhạc. Tuy nhiên Surin không muốn nêu tên người đó. Ông nói : “Chúng tôi đã quá ngây thơ. Chúng tôi quá nôn nóng để thu âm ca khúc đầu tiên” đồng thời khẳng định giờ mọi chuyện đều đã là quá khứ. Ông cũng cho biết không oán trách gì người đó, vì “album này đã mang lại cho chúng tôi một bước ngoặt lớn và giúp cho sự nghiệp của tôi, nên dù thế nào tôi vẫn biết ơn người đó.” 

    Hiện giờ chỉ còn hai thành viên là Linda và Surin ở lại nhóm, các thành viên khác đều đã lần lượt dứt áo ra đi. Ngay cả Linda và Surin hiện giờ cũng hoạt động đơn lẻ, mỗi người một nơi. Surin hát chính tại bar Modz ở Tứ Xuyên, Trung Quốc, Dana thì yên vị tại bar Swissotel The Stamford ở Singapore. Hai người chỉ tái ngộ trên sân khấu khi có sự kiện đặc biệt. Khi được hỏi cảm thấy sao khi nhóm bị gán với cụm từ “One hit wonder”, Linda đã không ngần ngại chia sẻ rằng bà không cảm thấy có vấn đề gì, vì với bà ca hát là “đam mê, chúng tôi yêu công việc mình làm. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm hết sức có thể. Chúng tôi chưa bao giờ làm gì khác ngoài việc này. Ca hát là điều tuyệt vời nhất và là điều mà tôi vẫn hằng mơ ước”. 

    10 min
  • Nhạc ngoại lời Việt : Ai đã sáng tác nhạc phẩm « Khúc tình dối gian » ?

    Sinh thời, Claude François nhờ đồng sáng tác nhạc phẩm « Comme d'habitude » (My Way) mà hơn nửa thế kỷ sau, con cháu của nam danh ca người Pháp vẫn sống dư dả nhờ tiền tác quyền. Một cách tương tự, Luis Gardey lúc đầu chọn nghề ca hát, nhưng sau đó lại thành công vượt trội nhờ sáng tác cho các nghệ sĩ khác. Bản nhạc nổi tiếng nhất của ông « Devaneos » từng được chuyển lời Việt thành « Khúc tình dối gian ».

    Được phát hành vào năm 1981, giai điệu « Devaneos » hiểu theo nghĩa đen là những lời tán tỉnh, còn hiểu theo nghĩa bóng là lời gian dối của kẻ đa tình. Bản nhạc này trở nên rất nổi tiếng nhờ phiên bản ghi âm trong nhiều thứ tiếng của Julio Iglesias. Ông hoàng nhạc La Tinh thu bài này với tiểu tựa « O me quieres, o me dejas » hiểu theo nghĩa : yêu ta hoặc bỏ ta, chứ đừng đùa với con tim.

    Về thân thế sự nghiệp, Luis Gardey sinh trưởng tại thị trấn Quintes, vùng Asturias, phía bắc Tây Ban Nha. Từ khi còn nhỏ, ông luôn nuôi mộng trở thành ca sĩ chuyên nghiệp, chỉ cần nghe vài lần một giai điệu, ông có thể hát lại thuộc lòng. Ông bắt đầu đi hát tại các quán nhạc năm ông 15 tuổi. Đến Madrid lập nghiệp, Luis Gardey (nhờ vào sự dìu dắt của hai người thầy là Raúl Matas và José Luis Pecker) bắt đầu xuất hiện thường xuyên trong chương trình Cadena Ser trên đài phát thanh thủ đô, bước đệm quan trọng cho nhiều ca sĩ trẻ thời bấy giờ. Năm 23 tuổi, Luis Gardey lần đầu tiên thực hiện được ước mơ của mình khi giành giải nhất cuộc thi hát nhân kỳ liên hoan ca khúc Duero, dành cho các tài năng mới đến từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Quan trọng hơn nữa là giải Đĩa Vàng do Đài Truyền hình Quốc gia trao tặng vào năm 1966. Nhờ giải này, nhiều bài hát của ông Somos tu y yo, Yo que no vivo sin Ti cũng như Mi vida (phiên bản phóng tác của bài "Ma vie" của Alain Barrière) trở nên phổ biến tại châu Mỹ La Tinh từ đầu thập niên 1970.

    Trong giai đoạn khởi nghiệp, Luis Gardey đã có được những thành công bước đầu đáng kể, nhưng chính ông cũng không ngờ rằng trong thập niên sau đó, sự nghiệp của ông lại tăng thêm một bậc nhờ soạn nhạc cho các nghệ sĩ tên tuổi. Về giai thoại sáng tác bài hát « Devaneos », ông cho biết là đầu những năm 1980, ông đang bận đi diễn ở Trung Mỹ và ông dự định nghỉ ngơi một thời gian sau chuyến lưu diễn này. Phía hãng đĩa mới đề nghị với ông rằng, họ sẵn sàng thanh toán toàn bộ chi phí của kỳ nghỉ dưỡng, với điều kiện ông sáng tác nguyên một album gồm 10 ca khúc mới để phát hành vào đầu năm sau. Luis Gardey hoàn tất album này sớm hơn dự kiến và nhạc phẩm « Devaneos » được chọn làm ca khúc chủ đạo để quảng bá cho album.

    Một cách rất tình cờ, giai điệu này lại lọt vào tai của Julio Iglesias. Ông hoàng nhạc tình La Tinh đã mua lại quyền phân phối bài hát cho thị trường Bắc Mỹ và châu Âu. Bản nhạc được đưa vào album phòng thu mang tựa đề "De Niña a Mujer", tập nhạc đầu tiên của Julio phát hành trên thị trường Hoa Kỳ. Nhân một buổi ăn trưa tại Mexico, Luis Gardey nhận được trước 100.000 đô la tiền bản quyền, còn tiền hoa hồng sẽ được trả sau, dựa vào doanh thu của việc bán đĩa.

    Đó không phải là bài hát duy nhất mà Luis Gardey đã sáng tác cho Julio. Vào năm 1986, Julio Iglesias đã chọn một trong những sáng tác mới của ông làm ca khúc chủ đạo, mở đầu album « Libra ». Với tựa đề « Ni te tengo, ni te olvido » (Tim vẫn chưa có, mà hồn chưa quên) bài hát này giành lấy hạng đầu thị trường Tây Ban Nha và thị trường Hoa Kỳ trong hạng mục pop La Tinh. Trong tiếng Việt, bài này từng được phóng tác thành nhạc phẩm « Tình mãi đam mê » qua phần ghi âm của ca sĩ Hoàng Nam.

    Thành công của nhạc phẩm Devaneos (tựa tiếng Pháp là Les dérobades) cho ra đời nhiều phiên bản phóng tác trong nhiều ngôn ngữ ăn khách trên thị trường quốc tế. Riêng trong tiếng Việt, bài này có ít nhất đến ba lời khác nhau. Lời thứ nhất « Khúc tình dối gian » là của tác giả Vũ Xuân Hùng. Lời thứ nhì mang tựa đề « Bài ca tình nhớ » là của tác giả Lữ Liên qua phần ghi âm của các danh ca Tuấn Ngọc hay Kasim Hoàng Vũ. Lời thứ ba  « Và rồi nắng ra đi » là của nam ca sĩ Duy Hạnh.

    Tuy trong đời, Luis Gardey đã sáng tác khá nhiều bài hát, nhưng ít có bài nào ăn khách bằng các bản ghi âm của Julio Iglesias. Với hơn 10 triệu đĩa được bán mỗi năm chỉ trong thập niên 1980, chính ông hoàng dòng nhạc La Tinh đã giúp cho các giai điệu sâu lắng êm đềm của tác giả Luis Gardey càng trở nên khó quên, tên tuổi ông được nhiều trái tim hâm mộ biết đến.

    10 min
  • Winter Wonderland, "Mùa đông thiên đường", người tuyết dễ thương

    Vào những ngày lễ cuối năm tại châu Âu, thời tiết trở lạnh càng làm cho mọi người cảm nhận được không khí mùa Giáng Sinh. Chính trong những ngày mùa đông băng giá ấy, nhạc phẩm "Winter Wonderland" đã ra đời cách đây 90 năm. 

    Đặc điểm của giai điệu này vẫn là mặc dù ngày lễ Noël không một lần được nhắc đến trong bài hát, nhưng Winter Wonderland từ gần một thế kỷ qua, thường được xem là một trong những bài hát kinh điển vào mùa Giáng Sinh. Trong tiếng Việt, bài này mang tựa đề : Thiên Đường Mùa Đông.

    Nhạc phẩm Winter Wonderland được sáng tác vào năm 1934, do Richard Smith viết lời và do Felix Bernard soạn nhạc. Qua nhiều thập niên liền, bài hát này từng được hàng trăm nghệ sĩ thu âm lại trong nhiều ngôn ngữ, thực sự trở thành một trong những ca khúc Noël nổi tiếng nhất mọi thời đại.

    Giai thoại kể rằng tác giả Richard Smith đã có ngẫu hứng sáng tác một bài thơ, khi ông ngắm nhìn những đứa trẻ vui đùa trên tuyết, từ căn phòng của mình tại viện điều dưỡng West Mountain ở Scranton, bang Pennsylvania, nơi ông đang được điều trị bệnh lao. Từ khung cửa sổ căn phòng, tác giả nhìn ra toàn cảnh công viên Central Park tại Honesdale, phủ đầy tuyết trắng. 

    Những đứa bé đắp băng thành người tuyết, dùng khúc cây làm thành đôi tay, gắn mũ trên đầu, quàng khăn trên cổ. Từ khung cảnh ấy, ông mới hình dung ra câu chuyện của một đôi tình nhân đang dạo bước, ngắm cảnh tuyệt vời của thiên nhiên khi trời mới vào đông. Trong trí tưởng tượng của tác giả, người tuyết trở thành nhân chứng cho lời thề kết hôn của đôi nhân tình.

    Bài thơ sau đó đã được nghệ sĩ dương cầm Felix Bernard phổ nhạc và được nam ca sĩ Joey Nash thu âm lần đầu tiên vào mùa thu năm 1934 cho hãng đĩa RCA với dàn nhạc của Richard Himber chuyên biểu diễn tại khách sạn Ritz-Carlton. Vài tháng sau, nhân mùa Noël năm 1934, Guy Lombardo và dàn nhạc của ông mới thu âm phiên bản thứ nhì. Thành công của bản nhạc này vào những ngày lễ cuối năm biến "Winter Wonderland" với thời gian thành một trong những bản nhạc hàng đầu về chủ đề Giáng Sinh.

    Từ bản thu âm đầu tiên đến nhạc Noël kinh điển

    Từ giữa thập niên 1940 trở đi, hầu như năm nào cũng có thêm phiên bản thu âm mới của nhạc phẩm Winter Wonderland. Trong số những bản ghi âm lại nổi tiếng nhất, có những bản cover của Perry Como, Pat Boone, Paul Anka, Frank Sinatra, Bing Crosby hay Elvis Presley. Vào tháng 11 năm 2007, Hiệp hội ASCAP chuyên bảo vệ tác quyền tại Hoa Kỳ đã xếp nhạc phẩm Winter Wonderland vào hạng đầu danh sách các bài hát được phổ biến và phát sóng thường xuyên nhất trong những ngày lễ cuối năm, có lẽ cũng vì có rất nhiều phiên bản hoà tấu và Winter Wonderland do nói về mùa đông, cho nên thường được nghe sớm hơn các ca khúc Giáng Sinh khác. 

    Trong tiếng Pháp, phiên bản của bài Winter Wonderland là nhạc phẩm "Au royaume du bonhomme hiver" (Nơi xứ sở của người tuyết) do ca sĩ kiêm tác giả người Québec, Lucien Brien, sáng tác và thể hiện. Còn trong tiếng Việt, giai điệu này từng được tác giả Nguyễn Thảo viết lời, do Lê Vũ hòa âm phối khí và do nam ca sĩ Quý Anh trình bày.

    Trong những công viên mùa đông, những gốc thông xanh che chở những con thú nhồi bông trắng, băng tuyết xinh xắn. Tại châu Âu hay Bắc Mỹ, vào mùa này đều có những ngôi làng hay phiên chợ Noël với nhiều trò chơi như sân trượt băng, hay xích đu cầu vòng. Khi màn đêm buông xuống, ánh đèn lung linh khiến khung cảnh phiên chợ làng, càng trở nên huyền ảo.

    Dù xuất xứ từ đâu, nhưng những bài hát này đều làm bừng sáng mùa lễ hội, mang đến cho mùa đông một chút niềm vui khó quên lạ thường, trong khung cảnh diễm tuyệt thiên đường, vương quốc của người tuyết dễ thương.

    10 min
  • Bruno Mars - Chú lùn toàn năng

    Ca sỹ, nhạc sỹ, diễn viên Bruno Mars trụ vững trên đỉnh vinh quang một thập niên qua nhờ âm nhạc pop/soul/R&B, cùng chất giọng trữ tình, mượt mà. Đĩa đơn mới nhất Bruno hợp tác cùng Lady Gaga, Die with a smile (Chết trong nụ cười) leo lên hạng nhất Billboard và lập kỷ lục về lượt nghe trên kênh trực tuyến Spotify.

    Tài năng được công nhận

    Nghệ sỹ Bruno Mars sinh năm 1985 tại Hawaii Mỹ, pha trộn hai dòng máu Philipin và Puerto Rico. Anh được nuôi dưỡng trong môi trường âm nhạc từ nhỏ, mẹ là ca sỹ kiêm vũ công, cha anh là nhạc sỹ chuyên chơi nhạc Little Richard. Tuy nhiên, cuộc sống nam nghệ sỹ không phải màu hồng. Khi cha mẹ anh ly dị lúc còn nhỏ, Bruno sống lang thang phiêu bạt trên trên xe hơi. Trước khi nổi tiếng với tư cách nghệ sỹ solo, anh là nhạc sỹ sáng tác và thành viên sáng lập cho nhóm sản xuất Smeezingtons.

    Nhắc tới Bruno, khán giả nhớ ngay tới một nghệ sỹ nhỏ bé nhưng thoát ra khỏi vùng an toàn, thể hiện được nguồn năng lượng sáng tạo mạnh mẽ. Anh giành được tiếng vang đầu tiên nhờ đĩa đơn leo lên hạng nhất Nothing on you (Không ai sánh bằng em) năm 2009. Kể từ đó, Bruno liên tục nắm giữ chuỗi giải thưởng danh giá và gặt hái thành công thương mại khổng lồ: chiến thắng 16 giải Grammy gồm những giải quan trọng nhất Album của năm, Ghi âm của năm, Bài hát của năm. Nam nghệ sỹ có 9 đĩa đơn xếp hạng nhất tại bảng xếp hạng Billboard. Bruno Mars cũng là nghệ sỹ đầu tiên có trên 150 triệu lượt nghe một tháng trên kênh Spotify.

    Ba album solo của Bruno, Doo-Wops & Holigan (2010), Unorthdox Jukebox (2012), 24K Magic (2016) là ba dấu mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp của nam nghệ sỹ. Theo thời gian, tầm vóc và thành công thương mại của anh tăng trưởng đều. Trong đó, album 24K Magic được đánh giá xuất sắc nhất, hoàn toàn chinh phục Ban giám khảo Grammy năm 2016, ẵm hết các hạng mục quan trọng nhất. Rõ ràng, anh chịu ảnh hưởng lớn từ vua nhạc pop quá cố Micheal Jackson và ông hoàng rock n roll, Elvis Presley từ cách hát, vũ đạo, tiết tấu funky (nhún nhẩy), ca từ hoài cổ. Tất cả những điểm mạnh kể trên định hình phong cách Bruno Mars trở thành biểu tượng nhạc pop đương đại.

    10 năm không có album solo mới

    Gần 10 năm qua kể từ 24K Magic, Bruno không phát hành album solo mới. Điều đó không có nghĩa anh ngừng sáng tạo hay lui vào ở ẩn. Trái lại, anh chú trọng vào sản phẩm hợp tác với các nghệ sỹ tên tuổi khác và đồng thời, sáng tác đĩa đơn có hấp lực thương mại cao. Điển hình như đĩa đơn Wake up in the sky (Tỉnh giấc trên bầu trời) pha trộn hip hop, pop, soul, đồng sáng tác cùng Gucci Mane và Kodak Black. Ra mắt năm 2018, ca từ bài hát ca ngợi cảm giác tốt đẹp và tận hưởng cuộc sống. Bruno còn ghi tên mình trong sản phẩm hợp tác với Ed Sheeran, ngôi sao Anh quốc hay Cardi B rapper người Mỹ.

    Năm 2021, anh kết hợp cùng rapper Anderson Paak ra mắt album An Evening with Silk Sonic (Buổi tối cùng Silk Sonic - Âm thanh mượt mà). Album leo hạng 5 trong các bảng xếp hạng Mỹ, Canada. Nam nghệ sỹ chứng tỏ đam mê sáng tạo vượt khỏi giới hạn bản thân. Bruno chứng tỏ tư duy cởi mở khi làm nghề, khác biệt với các nghệ sỹ cùng thời: thay vì tách nhóm để hoạt động solo, anh lại tìm nghệ sỹ cùng phổ âm nhạc để hợp tác, thành lập nhóm nhỏ. Ca khúc Leave the door open (Hãy để cửa mở) dưới tư cách bộ đôi Silk Sonic xếp hạng nhất tại Mỹ. Thành công này cho thấy khán giả ưa chuộng gu âm nhạc của Bruno Mars. Ở góc độ nghệ sỹ, Bruno có trực giác nhạy bén, nắm bắt được thị hiếu số đông công chúng. Giới phê bình nhìn nhận anh như chú tắc kè hoa, có độ phủ lớn với đa thể loại âm nhạc, nhưng thế mạnh đi đôi với gu âm nhạc khá cũ, quen thuộc.

    Sức hút của Chết trong nụ cười (Die with a smile)

    Die with a smile, đĩa đơn phát hành tháng 8 năm 2024 nhanh chóng trở thành hiện tượng trên Spotify và bảng xếp hạng Billboard. Ca khúc đánh dấu sự hợp tác thành công mỹ mãn giữa Bruno và Lady Gaga, dành được giải Grammy Trình diễn Pop nhóm/bộ đôi xuất sắc nhất. Tác phẩm được sản xuất theo phong cách soft rock, ballad khoe được sự ăn ý và hòa hợp của bộ đôi. Năm 2016, nam nghệ sỹ và Lady Gaga có dịp hợp tác biểu diễn chung trên sân khấu thời trang Victoria Secret. Tám năm sau, tháng 6 năm 2024, Bruno gợi ý muốn hợp tác cùng Lady Gaga một ca khúc hoặc trình diễn chung trên sân khấu Las Vegas Residency. Cả hai nghệ sỹ hiện thực hóa mong mỏi bấy lâu khi Bruno giới thiệu cho Gaga bản nhạc anh đang viết dở. Rất nhanh chóng, Lady Gaga hoàn toàn bị chinh phục bởi giai điệu của sản phẩm anh thai nghén. Cả hai nghệ sỹ dành tặng nhau lời có cánh trên mạng xã hội trong quá trình sản xuất. Chỉ trong vòng hai tháng, bộ đôi trình làng ca khúc hợp tác đầu tiên, Die with a smile. Không nghi ngờ, cơn bão lời khen ập đến với bộ đôi từ cả phía khán giả lẫn giới phê bình.

    If the world was ending, I'd wanna be next to you ; If the party was over and our time on Earth was through ; I'd wanna hold you just for a while and die with a smile.

    Nếu thế giới này kết thúc, anh chỉ muốn được gần bên em ; Nếu bữa tiệc đã tàn và thời gian còn lại trên Trái đất sắp qua đi ; Anh chỉ muốn ôm em trong giây lát và chết trong nụ cười.

    Tờ New York Times nhận xét “bản nhạc dance chậm rãi, lãng mạn trong ngày tận thế cho cả hai cơ hội khoe khoang nốt cao nhất bằng giọng ngực (belting )”. Thêm một lần nữa, Bruno Mars chứng tỏ anh là “chú lùn” tài hoa, nắm được thị hiếu nghe nhạc đại chúng và kỹ năng biểu diễn với mức thẩm thấu cao. Anh biết chơi rất nhiều nhạc cụ trong đó có guitar, piano, keyboard, trống, bass, ukulele, trống conga. Tuy nhiên, lắm tài thường đi đôi nhiều tật, anh từng có tai tiếng liên quan tàng trữ cocaine hay nợ nần 50 triệu đô với sòng bạc MGM Las Vegas. Tuy nhiên, MGM Las Vegas bác bỏ tin đồn nợ nần. Lý do cát xê 90 triệu đô/năm biểu diễn tại MGM hoàn toàn có thể xóa được món nợ như tin đồn.

    Bruno Mars được bình chọn là Top 20 ngôi sao nhạc pop vĩ đại nhất thế kỷ 21 do nhiều tạp chí uy tín như Times, Billboard. Tài năng thuộc loại hiếm của “chú lùn” được minh chứng trên nhiều  phương diện nhạc sỹ, nghệ sỹ biểu diễn. Anh là người tạo nên kỳ tích chuỗi bản hit thành công thương mại.  

    (Theo People, Billboard, New York Times)

    10 min

About Tạp chí âm nhạc

From the publisher's feed

Góc vườn âm nhạc của RFI

More shows like Tạp chí âm nhạc

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

222 Listeners

Tạp chí tiêu điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí tiêu điểm

0 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

KHO TRUYỆN CỔ TÍCH - CMDD Audio by CHÚ MÈO ĐI DÉP

KHO TRUYỆN CỔ TÍCH - CMDD Audio

14 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

Sunhuyn Podcast by Sunhuyn

Sunhuyn Podcast

62 Listeners

Kiến thức tâm linh và đời sống | Tâm Linh Toàn Thư by Tâm Linh Toàn Thư

Kiến thức tâm linh và đời sống | Tâm Linh Toàn Thư

0 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners

Âm nhạc Trong Suốt by Trong Suốt

Âm nhạc Trong Suốt

0 Listeners