
Sign up to save your podcasts
Or


Teheran và Washington cùng theo đuổi một giấc mơ : tránh được một cuộc khủng hoảng dầu hỏa. Trong một tuần lễ, giá dầu trên thế giới tăng thêm 9 % trước nguy cơ Trung Đông bị đẩy vào chiến tranh. Trước mắt Teheran không dám chận eo biển Ormuz nơi 30 % dầu khí Trung Đông đi qua. Washington thừa biết trước bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, Israel tấn công nhà máy dầu của Iran làm tiêu tan mọi hy vọng đắc cử của Kamala Harris, ứng viên đảng Dân Chủ.
Iran là một trong ba giếng dầu lớn nhất trên thế giới và cho dù từ 2018 dầu hỏa Iran bị Hoa Kỳ mạnh tay trừng phạt, năm 2023 mỗi ngày Teheran vẫn sản xuất hơn 3 triệu thùng dầu, (chiếm 3 % sản lượng của thế giới). Một nửa trong số đó là để phục vụ thị trường nội địa, với 86 triệu dân. Nửa còn lại là để xuất khẩu. Trung Quốc là khách hàng lớn nhất mua dầu hỏa của Iran.
Sự kiện Teheran bắn 200 tên lửa sang lãnh thổ Israel trong đêm 01/10/2024 bắt buộc Nhà Nước Do Thái phải trả đũa với khả năng các cơ sở dầu hỏa của Iran có thể là mục tiêu tấn công, bởi dầu khí chiếm 41 % kim ngạch xuất khẩu của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran. Dù vậy kịch bản hai nước thù nghịch trong khu vực là Iran và Israel lao vào một cuộc chiến đã không làm dấy lên một cơn « sốt dầu hỏa » trong những ngày tiếp theo đó.
Mỹ muốn tránh « một cơn sốt dầu »Phải đợi đến khi từ Washington tổng thống Biden cho biết « đang thảo luận về khả năng Israel đánh vào các nhà máy dầu » của Iran, giá dầu mới tăng thêm 7 % trong phiên giao dịch hôm 03/10/2024. Chưa đầy 24 giờ sau, chủ nhân Nhà Trắng cải chính rằng để trả đũa Iran, « Israel có nhiều phương án khác ngoài việc nhắm vào các cơ sở năng lượng » của đối phương. Trong phiên giao dịch ngày 07/10/2024 giá dầu trên thế giới vượt ngưỡng 80 đô la một thùng -thấp hơn 130 đô la/thùng khi Nga đánh Ukraina hồi tháng 2/2022.
Giới trong ngành nói đến hiện tượng « thị trường dầu hỏa thế giới thêm căng » nhưng đồng loạt cho rằng trong hoàn cảnh hiện tại, không thể coi đây là một cuộc khủng hoảng dầu lửa như kịch bản từng xảy ra hồi thập niên 1970.
Giám đốc tạp chí đầu tư Investir của Pháp, François Monnier trên đài phát thanh tư nhân Radio Classique giải thích :
« Giá dầu hỏa đã được nhân lên gấp 4 lần khi nổ ra chiến tranh Kippour (năm 1973). Dưới tác động cuộc Cách Mạng Hồi Giáo Iran năm 1979 giá dầu nhân lên gấp đôi. Hiện tại dầu hỏa được cho là vẫn ổn định cho dù có tăng thêm 7 % trong tuần qua. Nhiều lý do giải thích khách biệt so với hồi thập niên 1970 : một là giới trong ngành không tin rằng thế giới rơi vào cảnh khan hiếm dầu. Bản thân Ả Rập Xê Út chủ trương giảm bớt lượng sản xuất vì không tin rằng chiến tranh leo thang tại Trung Đông. Hai là ngay cả trong trường hợp tình hình ở Trung Đông có xấu đi thì đừng quên rằng thế giới có thể trông cậy vào dầu đá phiến của Mỹ. Trong một chục năm, thị phần dầu hỏa của Hoa Kỳ trên thế giới đang từ 10 % tăng vọt lên thành 20 %. Dầu hỏa của Mỹ giảm thiểu vai trò và ảnh hưởng của khối OPEC. Sau cùng kinh tế toàn cầu đang trong giai đoạn tăng trưởng chậm khiến mức cung cao hơn mức cầu ».
Trên đài phát thanh Canada- Ottawa, chuyên gia về năng lượng Ivan Cliche, đại học Montréal cho rằng, bầu cử tổng thống Mỹ mới là yếu tố quyết định đối với thị trường dầu hỏa thế giới hiện nay :
« Phản ứng của thị trường trong tình trạng bất an. Hoa Kỳ sắp bầu lại tổng thống. Mọi người đều biết là luôn có một mối liên hệ giữa giá xăng dầu tại Mỹ với tỷ lệ được lòng dân của ứng cử viên tổng thống trong chính quyền mãn nhiệm. Nếu giá dầu tăng mạnh, điều đó không tốt cho ứng viên bên đảng Dân Chủ là bà Kamala Harris. Tuy nhiên có hai yếu tố cần theo dõi chặt chẽ : một là liệu Israel có tấn công vào các nhà máy dầu của Iran hay không. Năng lượng bảo đảm gần 50 % thu nhập cho Iran. Đánh vào dầu hỏa và khí đốt của nước này có nghĩa là trực tiếp tấn công vào kinh tế và qua đó làm suy yếu Iran. Điểm thứ hai là thị trường đang hồi hộp chờ đợi xem rằng Teheran có đóng cửa eo biển Ormuz hay không. Đây là nơi từ 15 đến 20 % sản xuất dầu hỏa trên thế giới phải đi qua. Trong hai trường hợp này, tình hình sẽ thực sự trở nên phức tạp ».
Trả lời báo Le Monde, chuyên gia về Iran, Thierry Coville, thuộc Viện Quan Hệ Chiến Lược của Pháp IRIS cho rằng, Teheran sẽ « chỉ đóng cửa eo biển Ormuz trong trường hợp bất khả kháng, vì biện pháp này sẽ có nhiều hậu quả tai hại với bản thân Iran » : Vịnh Ba Tư là một trong những cửa ngõ quan trọng của giao thương quốc tế, và là ngả duy nhất đưa năng lượng của Ả Rập Xê Út, Irak, Iran và cả Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, cũng như Kowei ra thế giới bên ngoài. Ngay cả trong chiến tranh Iran-Iran thập niên 1980 eo biển Ormuz vẫn là vùng « bất khả xâm phạm ».
Giới hạn từ chính sách cấm vận dầu IranTheo thống kê của tổ chức OPEC, khối các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa, mà Iran là một trong số các sáng lập viên, năm 2023 nhờ xuất khẩu dầu hỏa, Teheran thu về 41 tỷ đô la. Cũng Iran năm ngoái thông báo đầu tư 18 tỷ đô la nhằm « nâng cao khả năng sản xuất » tại 6 giếng dầu ở các khu vực miền nam và tây nam. Iran đề ra mục tiêu « cung cấp thêm đến gần 400.000 thùng dầu một ngày ».
Vậy Mỹ và Israel có thể siết chặt thêm các biện pháp trừng phạt nhắm vào xuất khẩu dầu hỏa của Iran để cô lập thêm chế độ của giáo chủ Khamenei hay không ? Đầu tháng 2/2024 chính quyền biden đã ban hành thêm một loạt các biện pháp « trừng phạt kinh tế » nhắm vào Iran với lý do Teheran vi phạm lệnh trừng phạt của cộng đồng quốc tế, « rửa tiền và bán dầu hỏa cho một số đối tác có liên hệ với Trung Quốc, Nga và Syria (…) chủ yếu là để tài trợ lực lượng đặc nhiêm Quds của Iran ». Giáo sư Ivan Cliche, đại học Montréal không tin rằng trừng phạt và cấm vận dầu hỏa Iran là những công cụ thích hợp nhất :
« Ban hành thêm lệnh cấm vận Iran vẫn là một công cụ Mỹ có thể sử dụng, nhưng rõ ràng là biện pháp này dù đã được áp dụng từ nhiều năm nay nhưng không đem lại hiệu quả mong muốn. Điểm chính ở đây là thị trường dầu hỏa thế giới đang trong tình trạng sản xuất dư thừa. Cung cao hơn cầu. Do vậy các thành viên trong khối OPEC muốn áp đặt quota để giữ giá ở quãng từ 80 đến 90 đô la một thùng dầu. Ngoài ra, nhiều nước sản xuất và xuất khẩu không thuộc khối OPEC -như là Mỹ cũng có khả năng cung cấp thêm dầu cho thế giới. Nói cách khác, về trung hạn, thị trường dầu hỏa thế giới không lo thiếu dầu. Ả Rập Xê Út có thể sản xuất thêm từ một đến một triệu rưỡi thùng dầu mỗi ngày để lấp vào chỗ trống. Nhưng trong những tháng sắp tới, giá cả trên thị trường còn tùy thuộc vào lượng dầu tiêu thụ mỗi ngày. Nếu cứ như hiện tại và không có điều bất ngờ xảy ra, thì tôi nghĩ là thị trường sẽ khá ổn định trong những tháng tới ».
Cũng trên đài phát thanh Canada, giáo sư quan hệ quốc tế Miloud Chennoufi, học viện quân sự Canada đưa ra một giải thích mang tính chính trị cho thấy Hoa Kỳ hoàn toàn không mặn mà trước khả năng Israel đánh mạnh vào tử huyệt của Iran là xăng dầu, với hy vọng lật độ chế độ trong tay giáo chủ Khamenei, cho dù đây là giấc mơ mà Benjamin Netanyahu đã ấp ủ để cố giữ chiếc ghế thủ tướng Israel :
« Có khả năng là Israel sẽ đáp trả bằng các biện pháp quân sự. Ngoài ra, đến nay các biện pháp trừng phạt Iran đã khá khắt khe. Siết chặt thêm trừng phạt thì sẽ bóp ngạt kinh tế của nước này và càng cô lập chế độ Teheran. Nhưng tình hình hiện tại đã rất nghiêm trọng. Sẽ nghiêm trọng hơn nữa nếu Israel và Teheran tuyên chiến và rất có thể là Mỹ sẽ can thiệp. Tuy nhiên Hoa Kỳ căn cứ vào một số yếu tố để xử lý hồ sơ Trung Đông. Kinh tế là một trong số những yếu tố đó. Tôi không nghĩ rằng tất cả mọi người chấp nhận để cho giá dầu hỏa tăng vọt tức là chấp nhận khả năng eo biển Ormuz bị đóng cửa hay giao thương bị gián đoạn ở Hồng Hải và kênh đào Suez do tác động của phe Houthi hồi giáo Yemen. Nói cách khác, nếu có chiến tranh với Iran, thì vế kinh tế sẽ trở thành một vấn đề khó giải quyết đối với Mỹ. Thêm vào đó nếu như Israel can thiệp vào Iran với mục tiêu lật đổ chế độ, thì điều đó làm gợi lại kinh nghiệm của Hoa Kỳ với Irak và đó là điều không hay bởi vì Mỹ cũng đã từng hứa hẹn xây dựng một chế độ mới cho người dân Irak và để rồi đã bị sa lầy tại quốc gia này ».
Đầu tháng 2/2024 chính quyền Biden đã ban hành thêm một loạt các biện pháp « trừng phạt kinh tế » nhắm vào Iran với lý do Teheran vi phạm lệnh trừng phạt của cộng đồng quốc tế, « rửa tiền và bán dầu hỏa cho một số đối tác có liên hệ với Trung Quốc, Nga và Syria (…) chủ yếu là để tài trợ lực lượng đặc nhiêm Quds của Iran ».
Jean Christophe Caffet, kinh tế trưởng cơ quan bảo hiểm ngoại thương của Pháp COFACE ghi nhận : Nga là bên duy nhất có lợi trong trường hợp eo biểu Ormuz bị đóng cửa, bởi đây là kịch bản duy nhất đẩy giá dầu lên cao và điều đó có lợi cho Matxcơva đang cần tài trợ chiến tranh Ukraina. Nhưng « ảnh hưởng của Nga tại Trung Đông khá hạn chế ».
Hơn một năm sau loạt khủng bố 7/10 trên lãnh thổ Israel, khủng hoảng ở Trung Đông đang lan rộng. Israel phong tỏa rồi oanh kích Gaza, mở thêm mặt trận tại Liban nhắm vào lực lượng vũ trang Hezbollah được Teheran yểm trợ. Cũng Israel tiêu diệt thủ lĩnh chính trị của phong trào Hamas khi Ismael Haniyeh khi ông này đang có mặt tại thủ đô Teheran và là khách mời của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran đến dự lễ tuyên thệ nhậm chức của tân tổng thống Iran Massoud Pezeshkian hồi tháng 7/2024. Trong nửa năm, Iran đã hai lần trực tiếp tấn công Israel nhưng theo giới phân tích, Washington đang nắm giữ một phần chìa khóa để trả lời câu hỏi Trung Đông có bị đẩy vào chiến tranh hay không.
Điều may mắn hơn cả trước mắt là ở thời điểm này, cả Iran lẫn Hoa Kỳ cùng muốn tránh một « cuộc chiến » Iran-Israel : Teheran biết tiềm năng quân sự không đủ để đối chọi với Nhà nước Do Thái và không chắc là chế độ có thể tồn tại nếu phải lao vào chiến tranh. Ở góc đài bên kia, Israel muốn « giải quyết dứt điểm » mối đe dọa Iran, một quốc gia được cho là « sắp » có vũ khí nguyên tử. Nhưng Israel không thể tấn công Iran nếu không có vũ khí của Hoa Kỳ.
Ngót một tháng trước bầu cử tổng thống Mỹ chính quyền Biden bằng mọi giá cần khống chế đồng minh Netanyahu tránh đổ thêm dầu vào chảo lửa Trung Đông. Nếu thất bại và để nổ ra một cuộc khủng hoảng về dầu hỏa, giá dầu tăng gấp đôi, gấp ba so với hiện tại, thì coi như Joe Biden trả lại chìa khóa Nhà Trắng cho ứng cử viên Cộng Hòa Donald Trump.
Hơn bao giờ hết, Teheran đang kỳ vọng nhiều vào Washington.
Làm thế nào để thu hút đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp Pháp và quốc tế về các vùng ngoại ô « nhạy cảm » ? Đó là mục đích Diễn Đàn Kinh Tế FEB đầu tiên tổ chức ngày 17 và 18/09/2024 tại quận 16 Paris, Pháp. Trong 5 năm liên tiếp, trong khối Liên Âu, Pháp là nước thu hút nhiều nhất đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo báo cáo của cơ quan Ernest&Young công bố đầu tháng 5/2024, nhưng chỉ có 5 % các dự án hướng về các vùng ngoại ô kém phát triển.
Theo Viện Thống Kê Quốc Gia Pháp INSEE tính đến cuối 2023 trên toàn quốc có 5,4 triệu dân, tương đương với 8 % dân số, sống tại hơn 1.500 khu thuộc « Những khu vực ưu tiên trong chính sách phát triển thành phố -quartier prioritaire de la politique de la ville QPV».
Đây là những nơi tỷ lệ thất nghiệp cao hơn từ 2 đến 3 lần so với mức trung bình trên toàn quốc ; gần 25 % giới trẻ từ 16 đến 25 tuổi bỏ học và không có việc làm ; 44 % sống dưới ngưỡng nghèo khó và một nửa có thu nhập thấp hơn so với mức lương tối thiểu ở Pháp.
Đài Quan Sát Quốc Gia về Chính Sách Phát Triển Thành Phố -OPV ghi nhận, hơn 70 % dân cư tại ở những QPV là công nhân và tầng lớp thợ thuyền ; gần 22 % là người nhập cư và để so sánh thì trên toàn quốc, trung bình người nhập cư chiếm 12,9 % dân số. Đây cũng là nơi, tập trung nhiều gia đình một mẹ, đông con.
Vùng Seine – Saint Denis, ngoại ô phía bắc Paris, là nơi tập trung 25 % các khu cần ưu tiên phát triển, mà ngôn ngữ thông thường hay gọi là các vùng « ngoại ô thuộc diện nóng » với nhiều vấn đề : « hai phần ba sống trong các khu nhà do xã hội trợ cấp, dân chúng tại đây khó hội nhập vào thị trường lao động và 1 người trên 5 thất nghiệp, 68 % là công nhân thợ thuyền và phần lớn trong số ấy dù có việc làm vẫn mang nợ chồng chất ».
Trở ngại thứ nhì đối với những khu vực nhạy cảm này là hình ảnh những khu phố « mất an ninh ». Trong quá khứ, Pháp trải qua nhiều cuộc « khủng hoảng ở các vùng ngoại ô » như hồi 2005 hay gần đây nhất là năm 2023 khi một số các ngoại ô nghèo « bốc cháy », thanh niên đốt phá trường học, siêu thị, ngân hàng hay cơ quan môi giới tìm việc làm cho người thất nghiệp… Những hình ảnh đó càng tạo nên thành kiến không tốt đẹp về những vùng cần tạo công việc làm cho thanh niên, cần mở thêm trường học, mở thêm phòng khám bệnh, mở thêm những nơi sinh hoạt cho giới trẻ.
Thay đổi cách nhìn về những QPVDo vậy sáng lập viên của Diễn Đàn Kinh Tế FEB ông Azis Senni đề ra mục tiêu làm thay đổi cách nhìn của các doanh nhân về những vùng ngoại ô nhậy cảm. Là cột trụ trong bản tổ chức mời gần 100 lãnh đạo các tập đoàn đủ cỡ và các chính khách cấp vùng, cấp quốc gia đến tham dự sự kiện, Aziz Senni nhấn mạnh : trên 1.580 QPV không chỉ là một gánh nặng về mặt xã hội hay kinh tế như mọi người lầm tưởng mà đây còn là một trong những khu vực có nhiều tiềm năng, bảo đảm 75 tỷ euro doanh thu một năm, nơi đến nay đã mở rộng cửa đón nhận 250.000 công ty.
« Mục tiêu của diễn đàn FEB nhằm trả lời câu hỏi chúng ta có thể làm được những gì cho các vùng ngoại ô nghèo và mất an ninh về mặt kinh tế. Trong ba thập niên, nước Pháp đã có những chính sách cải thiện an ninh, mở mang đô thị và đầu tư vào mặt xã hội để cải thiện bộ mặt của các khu vực này, nhưng chưa thực sự có hẳn một chính sách kinh tế để giúp các vùng ngoại ô kém phát triển trở thành những điểm thu hút đầu tư, những vùng năng động có tính thuyết phục cao với các doanh nghiệp Pháp, và nước ngoài (…) Pháp đã có hẳn chương trình Choose France : Pháp là một trong những điểm thu hút đầu tư quốc tế lớn nhất thế giới, nhưng chỉ có 5 % trong số đó đổ về các vùng ngoại ô 'nóng'. Đó là lý do vì sao chúng tôi muốn rằng các vùng ngoại ô còn kém phát triển phải được hội nhập tốt hơn nữa vào trào lưu này ».
Trong số các khách mời của diễn đàn kinh tế FEB Paris lần này có nhiều bộ trưởng, chủ tịch cấp vùng, cấp tỉnh, thị trưởng đặc trách về chính sách phát triển thành phố, về công tác đào tạo hay phụ trách các tổ chức hội đoàn dẫn dắt thanh niên ở các khu vực kém phát triển. Nhưng đông đảo hơn hết là sự hiện diện của các doanh nhân. Trong số này có những người đã rất nổi tiếng, điều hành những đại tập đoàn hàng chục tỷ euro doanh thu như tỷ phú Xavier Niel trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ điện thoại và internet, hay giám đốc điều hành chi nhánh của Google tại Châu Âu Jalil Chikhi ...
Về phía các tiểu doanh nghiệp, có và nhiều chủ công ty vừa và nhỏ như chủ nhân Fullsoon, một công ty gia đình mới chào đời cách nay 2 năm, mang trí tuệ nhân tạo vào phục vụ cho các chủ nhà hàng, hay như trường hợp của Adil Bouatasssa, sáng lập viên kiêm tổng giám đốc AxyDis chuyên bảo đảm các dịch vụ viễn thông và điện thoại cho khách hàng trong hệ thống mạng 4G và 5G. Hãng này hoạt động từ 2017 lập địa bàn ở Cergy, vùng Val d’Oise, cách Paris hơn 30km về hướng tây bắc. Cergy nổi tiếng là nơi có nhiều trường đại học tốt, nhưng cũng là một điểm nóng, kém án toàn.
Tiếp cận thị trường là một thách thức đối với các QPVTrả lời RFI tiếng Việt, Adil Bouatassa cho biết đã bắt đầu mở công ty đầu tiên từ cách nay 20 năm và đã nhiều lần nếm mùi thất bại trước khi tạo được cơ sở cho AxyDis với gần 700 thân chủ, với mối liên kết với các đối tác lớn trong ngành điện thoại viễn thông như SFR của Pháp, CISCO của Mỹ …
Adil Bouatassa : « Chúng tôi chọn mở doanh nghiệp tại Cergy, một địa điểm mang tính chiến lược trước hết là về địa lý và kế tới đây là một khu vực rất năng động về kinh tế. Cergy nằm gần khu vực công nghiệp ở Saint- Ouen l’Aumône, sát cổng thành tây bắc Paris, một trong những khu công nghiệp lớn nhất châu Âu. Hãng của chúng tôi có hơn 40 nhân viên và từ Cergy, AxyDis dễ dàng giao tiếp với các khách hàng ở khắp nơi trong vùng Paris và phụ cận. Hơn nữa Cergy là một trung tâm đào tạo có uy tín với không dưới một chục trường quản trị kinh doanh, đại học, trường kỹ sư… Chúng tôi kết nối với các trường để đón nhận thực tập viên. AxyDis cũng là điểm khởi đầu cho các em sinh viên bước vào thị trường lao động, để từ đó các bạn trẻ có kinh nghiệm, bay nhẩy vào các hãng lớn ».
Có sự hỗ trợ của chính quyềnCũng trong cuộc trả lời dành cho RFI Việt Ngữ, giám đốc AxyDis giải thích cụ thể hơn khi quyết định mở công ty tại thành phố Cergy ông đã được chính phủ khuyến khích dưới hình thức nào.
Adil Bouatassa : « Các khoản trợ giúp được phân ra thành ba loại : Chính phủ miễn thuế doanh nghiệp cho các công ty đến đây hoạt động trong một thời gian đầu, chúng tôi cũng được miễn đóng góp cho các quỹ an sinh xã hội và sau cùng là một khoản trợ cấp 15.000 euro khi mà chúng tôi tuyển dụng một nhân viên. Điều khoản này nhằm khuyến khích tuyển dụng nhân viên ngay ở những khu vực được gọi là QPV tức là những vùng thuộc diện ưu tiên trong chính sách phát triển thành phố ».
Adil Bouatassa nói thêm những khoản trợ cấp trong khuôn khổ chính sách phát triển thành phố của Pháp chỉ được áp dụng trong thời gian đầu, đó là thời gian cần thiết để mở rộng mạng lưới với khách hàng. Và ông nói thêm là từ khi lao vào việc mở công ty mỗi ngày làm việc của ông thường là từ 15 tiếng đồng hồ trở lên.
Những hình ảnh xấu về các vùng ngoại ô nghèoTrở lại câu hỏi tại sao chính phủ Pháp đã có rất nhiều kế hoạch để nâng đỡ, để phát triển các vùng ngoại ô thuộc diện nóng, nhưng đây vẫn là nơi bị coi là mất an ninh, là một gánh nặng cho xã hội, chủ tịch tổng giám đốc hãng cung cấp dịch vụ internet và viễn thông, AxyDis cho rằng, đấy là một sự bất công và cũng là một thành kiến về những QPV chung quanh Paris. Adil Bouatassa lớn lên ở Cergy và làm việc tại đây từ 20 năm qua nên đủ kinh nghiệm để so sánh :
Adil Bouatassa : « Tôi điều hành doanh nghiệp từ 20 năm nay, bộ mặt của các vùng ngoại ô thuộc diện nóng ở quanh Paris giờ đây khác nhiều so với hơn 2 thập niên về trước. Hồi trước, các bạn trẻ ở đây không có phương tiện kết nối với thế giới bên ngoài, với thị trường lao động ; không có ngõ thoát, không tìm được việc làm. Ở các vùng này không có dịch vụ thuê bao xe Uber, không có UberEat để giao và đặt đồ ăn đến tận nhà. Họ cũng không có mạng xã hội để kết nối. Vấn đề càng thêm nghiêm trọng khi mà giới trẻ không giao tiếp được với ai, cũng không có những tổ chức hay hiệp hội để dẫn dắt họ … Các em không có cơ hội nào để thoát ra khỏi môi trường xã hội chung quanh… Bây giờ thì khác, các bạn trẻ có cơ hội làm ăn, họ mở công ty… Đương nhiên là vẫn còn nhiều vấn đề, cũng vẫn có những thành phần lêu lổng, phá làng phá xóm chứ không phải là không, nhưng theo chỗ tôi biết, hiện tượng này đã giảm đi nhiều so với trước. Để thay đổi bộ mặt cho các khu ngoại ô nhạy cảm, nhiều thành phố đã dẹp bỏ hẳn một số chung cư cao tầng cũ kỹ, để thay bằng những khu ở tập thể khoáng đãng hơn, lành mạnh hơn … »
Các chương trình đạo tạo vừa học vừa làmCuối cùng, Adil Bouatassa, một trong những khách mời của diễn đàn kinh tế Pháp FEB đầu tiên về tình trạng các vùng ngoại ô kém phát triển, nhấn mạnh : giáo dục và đào tạo là chìa khóa thành công trong chính sách phát triển những vùng ngoại ô nhậy cảm ở Pháp
Adil Bouatassa : « Giờ đây việc tiếp cận thông tin, tiếp cận với các chương trình giáo dục đã trở nên thuận lợi hơn rất nhiều. Đây không còn là những rào cản đối với các bạn trẻ ở các vùng ngoại ô kém phát triển. Các công ty chung quanh cũng tuyển dụng người tại chỗ, tạo cơ hội cho các bạn trẻ không học hành đến nơi đến chốn, để họ cũng có thể hội nhập vào thị trường lao động. Thí dụ như là thông qua các chương trình ‘vừa học vừa làm’. Ngay các hãng, các công ty nhỏ ở trong khu vực nhận thực tập sinh, đào tạo cho các em, để chúng có được một cái nghề, đồng thời có cơ hội thực hành, giao tiếp với khách hàng … Thí dụ như ở chỗ chúng tôi, các em đi học 2 ngày trong tuần và 3 ngày còn lại thì đi thực tập ở các hãng…Điều này giúp các em hiểu được luật chơi của thị tường lao động, phải có trách nhiệm trong công việc của mình. Nhà trường và công việc làm là những cơ hội giúp các em trưởng thành. Điều tôi nghi nhận được là một số các bạn trẻ vừa học vừa làm, rốt cuộc họ tiếp tục đi học thêm để thăng tiến, một số khác thì say mê với nghề nghiệp, và rồi đứng ra mở công ty : đó có thể là một hiệu ăn nhỏ, một cửa hiệu cắt tóc, một hãng giặt ủi, hay một là một công ty dịch vụ sửa chữa đồ điện gia dụng … và chính các em lại trở thành đầu tàu để giúp tiếp cho các thế hệ đi sau …Thường thì có tới gần 90 % các em mở hãng quanh quẩn gần khu họ sinh ra và lớn lên. Điều đó giúp các khu ngoại ô nghèo năng động hẳn lên. »
Mùa hè 2023 một số các vùng ngoại ô nghèo ở Pháp lại « bốc cháy » sau cái chết của một thiếu niên bị cảnh sát rượt đuổi. Báo Le Figaro thân hữu ngày 13/07/2023 tổng kết lại các kế hoạch được các chính phủ Pháp liên tục đề xuất từ thập niên 1970 để thu hẹp khó khăn của những vùng ngoại ô thuộc diện nhậy cảm : Paris đã « đổ hàng chục tỷ euro vào các vùng ngoại ô nghèo, đề xuất không biết bao nhiêu sáng kiến » qua các kế hoạch mang tên các đời bộ trưởng của các bên tả hữu mà vẫn chưa xóa được những cách biệt về mặt xã hội, về kinh tế giữa những vùng « ngoại ô cần được ưu tiên phát triển này » với phần còn lại của nước Pháp.
Nhật báo Le Monde với lập trường tương đối « trung lập », trong bài viết ngày 05/09/2023 tức hai tháng sau làn sóng bạo động hồi mùa hè năm ngoái cũng đưa ra nhận định : tại các khu vực kém phát triển về kinh tế, các vấn đề vẫn tồn tại. Giới trẻ vẫn gặp khó khăn trên con đường hội nhập và các doanh nhân Pháp dường như vẫn thận trọng trong các dự án đầu tư vào những vùng thuộc diện « ưu tiên này ».
Bất chấp chiến tranh, Matxcơva và Kiev vẫn tôn trong hợp đồng 5 năm để đưa khí đốt của Nga sang châu Âu qua lãnh thổ Ukraina. Cũng vì xung đột 2 trong số 4 ngả xuất khẩu khí đốt của Nga cho Liên Âu bị tắc nghẽn. Trước khi Gazprom và Naftogaz đàm phán lại về một thỏa thuận mới cho giai đoạn 2025-2029, Kiev tấn công vùng Kurk, chiếm Soudja, tạm thời kiểm soát một cửa ngõ xuất khẩu năng lượng của Nga để tạo thêm sức mạnh cho « kế hoạch chiến thắng ».
Phải chăng đây là một tính toán để Ukraina mặc cả với chính quyền Putin về « kế hoạch » chấm dứt chiến tranh mà tổng thống Volodymyr Zelensky đem đến Washington, trình bày với tổng thống với quốc hội lưỡng viện Hoa Kỳ ?
Ngày 05/09/2024, phát biểu tại Diễn Đàn Kinh Tế Vladivostock, tổng thống Putin nhìn nhận kinh tế Nga sẽ bị « thiệt hại về tài chính » nếu Kiev không triển hạn hợp đồng với tập đoàn dầu khí Gazprom để xuất khẩu khí đốt của Nga cho Liên Hiệp Châu Âu. Hợp đồng hiện hành sẽ hết hiệu lực vào ngày 31/12/2024. Trên nguyên tắc Gazprom của Nga và Naftogaz của Ukraina sẽ phải đàm phán lại về một thỏa thuận 5 năm, nhưng cuối tháng 8/2024 tổng thống Zelensky chính thức thông báo « ngừng triển hạn » thỏa thuận với phía Nga.
Bài toán đối với Gazprom càng thêm nan giải từ khi Kiev mở chiến dịch tấn công vùng Kursk hồi đầu tháng 8/2024, kiểm soát thành phố Soudja, trạm cuối cùng trước khi khí đốt của Nga « bước vào lãnh thổ Ukraina » ở thành phố Soumy.
Khí đốt, công cụ chính trị đôi bên cùng khai thácTrả lời RFI tiếng Việt, từ Matxcơva Arnaud Dubien, giám đốc điều hành Đài Quan Sát Pháp Nga, nhắc lại về tầm mức quan trọng của Ukraina trong hệ thống xuất khẩu năng lượng của Nga :
Arnaud Dubien : « Hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt đặt trên lãnh thổ Ukraina có từ thời Liên Xô. Khi đó trước hết là để cung cấp năng lượng của Liên Xô cho các nước trong khối xã hội chủ nghĩa ở đông Âu. Đến khoảng thập niên 1970 thì Liên Xô bắt đầu cung cấp luôn cả cho nhiều nước tây Âu. Hệ thống các đường ống này tuy đã cổ lỗ nhưng chúng vẫn tồn tại ngay cả khi Liên Xô sụp đổ và vẫn còn tiếp tục hoạt động sau ngày 24/02/2022 khi Nga tuyên chiến với Ukraina. Trước chiến tranh, 5 năm một lần, Matxcơva và Kiev vẫn đàm phán lại về thỏa thuận khí đốt. Đôi bên đã từng trải qua hai cuộc khủng hoảng vào năm 2005 rồi 2019 khi mà chính quyền Ukraina bày tỏ mong muốn tiến gần hơn về phía phương Tây. Khí đốt như vậy trở thành một công cụ chính trị để Nga bắt chẹt Ukraina và trong chiều ngược lại đối với Kiev, là cửa ngõ để đưa năng lượng của Nga ra thế giới bên ngoài giúp Ukraina chiếm được một lợi thế. (…)
Cho đến hiện tại, điều ngạc nhiên là thỏa thuận giữa Nga với Ukraina về khí đốt vẫn hoạt động, đơn giản do Liên Hiệp Châu Âu vẫn tiêu thụ khí đốt của Nga. Cho dù là hai bên tham chiến nhưng đối với Matxcơva, hệ thống đường ống đi qua lãnh thổ Ukraina quan trọng hơn bao giờ hết. Ngả này chiếm một trọng lượng rất lớn đối với kinh tế của Nga, do những đường ống dẫn khác, như Nord Stream hay Yamal phải đi qua lãnh thổ Ba Lan, đã bị gián đoạn ».
Gazprom mất gần 90 % thị trường ở châu ÂuTrước khi Matxcơva khởi động « chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina » hàng năm Nga xuất khẩu 150 tỷ mét khối khí đốt sang Liên Âu, qua bốn ngả khác nhau (Ukraina, Nord Stream, Yamal và Turkish Stream). Hiện tại, dưới tác động chiến tranh, khối lượng khí đốt của Nga xuất khẩu sang châu Âu đã sụt giảm đến hơn 87 % trong chưa đầy ba năm. Để đến được châu Âu khí đốt của Nga phần lớn vẫn phải « quá cảnh » ở Ukraina. Theo hợp đồng hiện hành Gazprom và Naftogaz đã thông qua hồi 2019, mỗi năm 40 tỷ mét khối khí đốt của Nga bán sang châu Âu chung chuyển qua lãnh thổ Ukraina. Cuối 2023 trên thực tế chỉ có 12-13 tỷ mét khối đi qua ngả này. Để so sánh trong giai đoạn « cực thịnh » 2008-2019, trung bình một năm các đường ống trên lãnh thổ Ukraina chuyển 90 tỷ mét khối khí đốt của Nga đến người tiêu dùng châu Âu.
Dù có suy giảm mạnh nhưng đến nay Nga và Ukraina vẫn không dám xa rời nhau trên hồ sơ khí đốt. Sau hơn 940 ngày chiến tranh, hệ thống các ống đưa khí đốt của Nga sang châu Âu đi ngang qua lãnh thổ Ukraina vẫn nguyên vẹn ; khí đốt là một trong những hồ sơ hiếm hoi mà đối thoại giữa Matxcơva và Kiev chưa bao giờ bị gián đoạn. Về mặt chính thức, Ukraina không còn « nhập khẩu » dầu khí của « kẻ thù » mà dựa hẳn vào năng lượng của « đồng minh châu Âu ». Có điều Liên Âu vẫn là một khách hàng mua vào khí đốt của Nga, nhất là khí hóa lỏng.
Đầu óc thực dụng của Matxcơva và KievHệ thống đường ống dẫn khí đốt này phần nào là « một lá bùa hộ mạng » cho Ukraina. Arnaud Dubien, Đài Quan Sát Pháp Nga từ Matxcơva giải thích điện Kremlin sẽ không dám động vào hệ thống này chừng nào mà Liên Âu còn phải mua năng lượng của Nga. Về phía Kiev, chính quyền của tổng thống Volodymyr Zelensky cũng không dại để mất đi một nguồn thu nhập nhờ « cho thuê đất » hàng năm vẫn nhận được từ tay Gazprom.
Arnaud Dubien : « Các đường ống dẫn khí đốt phần lớn được chôn trong lòng đất, Nga tránh không oanh kích vào các khu vực đặt các đường ống dẫn sang Hungary và Thổ Nhĩ Kỳ. Về phía Ukraina thì Kiev cũng không dám chận các hệ thống chung chuyển này, vì đó là khí đốt xuất khẩu sang Liên Hiệp Châu Âu. Có điều thình thoản Kiev ‘làm mình làm mẩy’ với một số thành viên trong Liên Âu như là Áo, Hungary hay Slovakia vì những nước này kém mặn mà giúp đỡ Ukraina. (…) Cần phải đợi thêm một vài tuần nữa mới biết được tiến trình đàm phán về thỏa thuận khí đốt giữa Nga và Ukraina sẽ diễn tiến ra sao. Điều chắc chắn duy nhất là lần này, hai tập đoàn Gazprom của Nga và Naftogaz của Ukraina không trực tiếp đàm phán như điều vẫn thấy từ trước đến nay ».
Ukraina chơi trò « rung cây dọa khỉ »Vậy phải chăng việc ông Zelensky tuyên bố ngừng triển hạn thỏa thuận khí đốt giữa tập đoàn năng lượng Ukraina Naftogaz và đối tác Nga là Gazprom chỉ là đòn « rung cây dọa khỉ », bởi vì cắt đường ống dẫn khí đốt với Nga, Kiev sẽ gây khó khăn cho thị trường năng lượng tại Liên Hiệp Châu Âu, điểm tựa quan trọng cả về quân sự lẫn kinh tế và nhất là năng lượng của Ukraina ?
Arnaud Dubien : « Gazprom mất một phần lớn thị trường châu Âu. Trước đây tập đoàn này xuất khẩu mỗi năm hơn 150 tỷ mét khối khí đốt sang Liên Hiệp Châu Âu. Hiện tại chỉ còn chừng từ 20 đến 30 tỷ mét khối. Đây là một thiệt hại rất lớn đối với kinh tế Nga, bảo đảm từ 20 đến 30 % tiêu thụ cho Liên Âu. Sau hơn 2 năm chiến tranh tỷ lệ này rơi xuống còn 15 % nhưng phải nói rõ trong số 15 % ấy thì chỉ có một nửa là khí đốt, nửa còn lại là khí hóa lỏng (LNG). Công nghiệp khí hóa lỏng lại do một tập đoàn tư nhân Nga Novatek sản xuất và xuất khẩu, thành thử ra, Gazprom lại càng thua thiệt nhiều ».
Theo thống kê của viện nghiên cứu châu Âu Bruegel tại Bỉ, cuối 2023 Gazprom chỉ còn kiểm soát 5 % thị trường Liên Hiệp Châu Âu. Tuy nhiên ông Dubien tin rằng dưới hình thức này hay hình thức khác, Nga và Ukraina cũng sẽ tìm được đồng thuận vì không bên nào muốn giết chết con gà đẻ trứng vàng. Ukraina vẫn cần có năng lượng bảo đảm cho tiêu thụ nội địa, cần để ngỏ van cho khí đốt của Nga tiếp tục chảy sang 27 nước thành viên Liên Âu, nhất là một số quốc gia trong khối này như Áo vẫn lệ thuộc đến 98 % vào « khí đốt của Nga ».
Nga không thể để mất châu ÂuỞ góc đài bên kia, Matxcơva không thể để mất thị trường châu Âu. Cuộc chiến nào rồi cũng có ngày sẽ kết thúc, Liên Âu ở sát cạnh cửa ngõ của nước Nga với hơn 500 triệu người tiêu dùng. Thêm một thực tế khác là những nỗ lực của các nhà sản xuất và xuất khẩu dầu khí Nga để chuyển hướng sang châu Á vẫn chưa mang lại kết quả mong muốn.
Arnaud Dubien : « Châu Á chưa thể thay thế châu Âu để mua khí đốt của Nga -hay cùng lắm là chỉ mới thế chỗ được một phần nào mà thôi. Chúng ta cần phân biệt giữa khí đốt và khí hóa lỏng. Novatek khai thác LNG từ khu vực Yamal và xuất khẩu sang châu Á bằng tàu thủy, Gazprom cũng bán khí đốt cho các khánh hàng ở châu Á bằng ngả này. Do vậy, hiện tại khối lượng xuất khẩu sang châu Á không nhiều và cũng chính vì thế mà Gazprom đầu tư vào hai đường ống Power of Siberia 1 và 2, để thỏa mãn thị trường Trung Quốc. Đường ống Siberia 1 đã bắt đầu hoạt động từ 2019 và có khả năng cung cấp khoảng 38 tỷ mét khối khí đốt một năm. Để so sánh trước đây, Gazprom từng xuất khẩu mỗi năm 150 tỷ mét khối cho Liên Âu. Chính vì cần mở rộng thị trường tại châu Á, Gazprom đã khởi động dự án thứ nhì là Siberia 2 và dự trù một khi hoạt động, đường ống này có thể cung cấp đến 50 tỷ mét khối hàng năm. Nhưng Bắc Kinh mặc cả quá chặt chẽ, còn phía Matxcơva thì không muốn bán rẻ năng lượng của Nga cho Trung Quốc và dự đường ống Siberia 2 còn dậm chân tại chỗ ».
Thêm một yếu tố khác nữa giải thích vì sao Nga có thể vẫn ngọt nhạt với Ukraina trên hồ sơ khí đốt, bởi bất chấp thời sự chiến tranh và những tuyên bố Bruxelles đòi « cai nghiện » năng lượng của Nga, thực tế cho thấy nhờ có Ukraina, Nga vẫn thu về 6 tỷ euro nhờ xuất khẩu năng lượng sang Liên Âu và đó vẫn là một nguồn thu nhập quý giá đối với các nhà sản xuất Nga. Hơn nữa, tổng thống Putin thừa biết năng lượng là một công cụ hữu hiệu để duy trì ảnh hưởng cả về kinh tế lẫn chính trị với nhiều nước trong Liên Âu. Nga không dại để Mỹ độc quyền cung cấp dầu khí cho Liên Âu, hay để tự trói mình vào hai khách hàng lớn nhất tại châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ.
Bỏ lỡ cơ hội phát triển công nghệ cao, kinh tế Liên Âu tụt hậu so với Hoa Kỳ và lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc. Mỹ có nhiều phương tiện tài trợ cho những phát minh mới. Trung Quốc thu hẹp khoảng cách và đọ sức ngang ngửa với Hoa Kỳ. Châu Âu mất dần những lợi thế cạnh tranh, tiền không nhiều, đầu tư không đúng chỗ và thiếu tầm nhìn tổng quát về chính sách công nghiệp chung.
Trên đây là những điểm chính trong báo cáo về tiềm năng cạnh tranh của Liên Hiệp Châu Âu đã được trình lên chủ tịch Ủy Ban Châu Âu hôm 09/09/2024. Tác giả là cựu thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu - BCE Mario Draghi. Năm 2012 ông là người từng cứu đồng euro vào lúc đơn vị tiền tệ chung châu Âu bị tấn công, khối euro có nguy cơ bị tan rã do khủng hoảng tài chính Hy Lạp.
Liên Âu bị lạc hậu« Hight Technologies » là nỗi ám ảnh Bruxelles và cũng là nguyên nhân dẫn đến một « sự tụt hậu của khối này so với Hoa Kỳ ». Năm 2002 GDP của châu Âu thấp hơn so với Mỹ 17 %. Hai thập niên sau khoảng cách là 30 % và « 70 % sự khác biệt đó là do Liên Âu thua kém về công nghệ cao ».
Mỹ đang dẫn đầu thế giới về trí tuệ nhân tạo, đang chạy nước rút để đầu tư vào công nghiệp chế tạo linh kiện bán dẫn.
Trả lời đài phát thanh France Culture (ngày 14/09/2024) Agathe Demairais đặc trách ban địa kinh tế thuộc Hội Đồng Châu Âu về Quan Hệ Quốc Tế (ECFR) nhận định Liên Hiệp Châu Âu hoàn toàn bỏ lỡ cơ hội trên tiến trình chuyển đổi sang một nền kinh tế xanh. Trong số 50 doanh nghiệp hàng đầu thế giới về « công nghệ cao », chỉ có 4 hãng là của châu Âu và trong một vài dự án hiếm hoi mà Liên Hiệp Châu Âu đã chen chân được vào, thì 1/3 trong số doanh nghiệp đó sớm muộn gì rồi cũng di dời cơ sở sang Mỹ, bởi đấy mới là « đất lành chim đậu cho ngành high tech ».
Trong giai đoạn 2019-2023, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Liên Âu giảm 6 % trong lúc FDI đổ vào Mỹ tăng 63 % : thêm một dẫn chứng cho thấy châu Âu mất sức thu hút.
Đối với Trung Quốc, đầu tư của Liên Âu vào khâu Nghiên cứu và Phát Triển R&D thua kém xa. Trong các mảng công nghệ mới - chế tạo các bình điện cho xe ô tô, pin điện mặt trời và những vật liệu mới, Trung Quốc đang vượt trội. Theo báo cáo Draghi, 70 % những « vật liệu xanh » cho phép chuyển đổi sang một mô hình kinh tế « sạch » đều do Trung Quốc sản xuất. Hơn nữa toàn cầu bị phụ thuộc đến 80 % kim loại hiếm của Trung Quốc, và đây là những chất liệu để sản xuất bình điện hay chip bán dẫn, phục vụ mảng công nghệ kỹ thuật số.
Ba nguyên nhân giải thích Liên Âu mất khả năng cạnh tranhLàm sao giải thích sự chậm trễ của Liên Hiệp Châu Âu trong chính sách phát triển công nghệ cao và khả năng cạnh tranh của khối này bị thu hẹp lại ?
Agathe Demarais thuộc Hội Đồng Châu Âu về Quan Hệ Quốc Tế (ECFR) trả lời :
« Đầu tiên hết là căng thẳng địa chính trị gia tăng. Tôi muốn nói đến sự đối đầu giữa Mỹ với Trung Quốc, đến chiến tranh Ukraina và xung đột ở Gaza : Điều đó có nghĩa là châu Âu phải huy động vốn đầu tư trở lại vào các phương tiện để phòng thủ thay vì dùng khoản chi tiêu đó vào mục tiêu phát triển. Chúng ta đã thấy là Hoa Kỳ yêu cầu châu Âu tăng chi tiêu quân sự. Cú sốc thứ nhì là khác hẳn với châu Âu, cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc đều huy động rất nhiều phương tiện để thực hiện tham vọng dẫn đầu thế giới về công nghệ. Washington và Bắc Kinh cùng trong thế ‘tấn công’. Mỗi bên đều muốn dẫn đầu cuộc đua. Mỹ muốn giữ được thế cường quốc số 1 toàn cầu. Còn Trung Quốc cần thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Cả hai cường quốc kinh tế này có một tầm nhìn toàn diện với chủ trương kết hợp chặt chẽ các chính sách thương mại, công nghiệp và an ninh. Châu Âu thì vẫn chưa hiểu được điều đó và chưa thích nghi được với hoàn cảnh mới mẻ này ».
Liên Âu mất những lợi thế đã cóVì chiến tranh Ukraina Liên Âu mất nguồn cung cấp dầu hỏa và khí đốt của Nga. Mỹ và Trung Quốc là hai khách hàng lớn của châu Âu, căng thẳng giữa hai nền kinh tế hàng đầu này khiến cả Washington lẫn Bắc Kinh cùng « chuyển hướng » trong chính sách thương mại : Mỹ tập trung nhiều hơn vào Mêhicô, Canada và Việt Nam. Còn Bắc Kinh thì tranh thủ các thị trường của Nga, của khối Đông Nam Á, của Trung Đông và Châu Mỹ La Tinh. Riêng Liên Âu thì vẫn « an phận » với hai khách hàng truyền thống quan trọng nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thêm vào đó Bruxelles bị kẹt trong cái bẫy « phi carbon hóa » guồng máy sản xuất trước ngưỡng 2035. Đó là điều mà Agathe Demarais, thuộc hội đồng ECFR gọi là cú sốc thứ ba :
« Châu Âu đề ra mục tiêu nhanh chóng phi carbone hóa, tức là giảm thiểu lượng khí thải làm hâm nóng trái đất. Điều này đòi hỏi ngay từ bây giờ châu Âu phải lựa chọn giữa hai giải pháp : nhập công nghệ xanh của Trung Quốc hay là tự phát triển cả mảng công nghiệp ngày. Trong trường hợp đầu tiên, để tăng tốc tiến trình chuyển đổi năng lượng, Bruxelles phải chấp nhận nhập khẩu pin mặt trời và ô tô điện của Trung Quốc. Bruxelles chấp nhận lệ thuộc hơn vào công nghệ xanh của Trung Quốc. Nếu muốn tránh để lệ thuộc vào Trung Quốc thì Liên Hiệp Châu Âu phải đẩy mạnh công nghệ ô tô điện, năng lượng mặt trời … nhưng làm thế nào để cạnh tranh với hàng của Trung Quốc và của Mỹ trong lúc mà tiền điện ở châu Âu đắt gấp 2, gấp 3 lần so với Mỹ ? Trung bình để chuyển đổi sang mô hình sản xuất sạch, một nhà máy của châu Âu cần đầu tư 500 triệu euro trong 15 năm ».
Chín người, mười ýMột nhược điểm lớn khác của châu Âu so với Hoa Kỳ và Trung Quốc là khối 27 thành viên hoàn toàn không đoàn kết và lại càng không có chung một tầm nhìn về chính sách phát triển công nghiệp. Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, mang quốc tịch Đức, bà Ursula von der Leyen mạnh mẽ hô hào « de–risking » để giảm bớt mức độ lệ thuộc vào hàng hóa, vào nguyên liệu vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc … Thế nhưng đồng hương của bà, là thủ tướng Olaf Scholz lại không bỏ lỡ một cơ hội nào để Bắc Kinh, tham dự các diễn đàn kinh tế, gặp gỡ các doanh nhân Trung Quốc … Trong sáu tháng đầu năm 2024, tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đức vào Hoa Lục lớn hơn so với thống kê của cả năm 2023.
Nhìn sang Tây Ban Nha, Madrid là một trong những tiếng nói mạnh mẽ nhất đòi tăng thuế đánh vào ô tô điện của Trung Quốc nhưng sau cuộc hội đàm với chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh hôm 09/09/2024 thủ tướng Pedro Sanchez đã « đổi giọng » vì sợ Bắc Kinh ngừng nhập khẩu thịt heo của Tây Ban Nha.
Nhưng về cơ bản, Lục Địa Già đang mất đi hai lá chủ bài quan trọng nhất để tạo được một sự năng động kinh tế về lâu dài. Agathe Demarais :
« Có hai yếu tố quyết định để một nền kinh tế có sức cạnh tranh mạnh : đó là tăng trưởng và dân số. Liên Hiệp Châu Âu gặp khó khăn trên cả hai phương diện này. Hệ quả kèm theo là Liên Hiệp Châu Âu trong tương lai càng bị tụt hậu. Từ nay đến năm 2040, mỗi năm thị trường lao động của khối này mất đi 2 triệu người, vì dân số đang già đi. So sánh tỷ lệ tăng trưởng về năng suất của một người lao động châu Âu và ở Mỹ, hiện tại châu Âu thua hẳn Mỹ. Cùng lúc, mỗi năm Hoa Kỳ đầu từ gần 900 tỷ đô la vào khâu Nghiên Cứu và Phát Triển R&D. Số tiền này cao gấp đôi so với đầu tư vào R&D của toàn khối Liên Âu. Chỉ riêng trong hai lĩnh vực là trí tuệ nhân tạo và máy tính lượng tử, 70 % các dự án xuất phát từ Hoa Kỳ ; 2/3 các khoản đầu tư vào thông minh nhân tạo hướng về Mỹ. Nhìn đến công nghệ sản xuất linh kiện bán dẫn, từ nay đến 2032, Hoa Kỳ tập trung đến 1/3 chíp điện tử tiên tiến nhất của thế giới. Trong tất cả các hoạt động mang tính chiến lược để đem lại tăng trưởng trong tương lai, châu Âu không đóng vai trò hàng đầu ở bất kỳ một lĩnh vực nào ».
Báo cáo Mario Draghi bắt mạch, chẩn bệnh và kê toa thuốc để Liên Hiệp Châu Âu có thể trở lại cuộc chơi công nghệ. Nhưng để chữa được bệnh, tài liệu này thẩm định Liên Hiệp Châu Âu cần dành ra hẳn 5 % GDP của toàn khối để đầu tư vào mảng hight tech.
Làm thế nào để huy động được từ 750 đến 800 tỷ euro một năm ? Nếu có được số tiền đó thì làm thế nào để sử dụng một cách có hiệu quả ? Mất bao lâu nữa Liên Âu mới làm chủ công nghệ chế tạo pin mặt trời, cánh quạt gió …. và ô tô điện như các nhà máy của Trung Quốc hiện tại ? Đến khi nào trình độ trí tuệ nhân tạo của châu Âu được hư hiện nay ở Mỹ ? Báo cáo Draghi không có câu trả lời.
Vả lại tài liệu vừa được công bố còn chưa ráo mực, đã bị nhiều thành viên trong Liên Âu –đứng đầu là Đức, phản bác. Bản thân bà von der Leyen vừa nhiệt tình cảm ơn tác giả của bản báo cáo về tiềm năng cạnh tranh của Liên Âu, vừa thận trọng trước những đề xuất cho phép khối này tìm được một chỗ đứng trên bàn cờ « hight tech » thế giới. Liên Âu ráo riết đi tìm lực đẩy để « phát triển » và mang lại tăng trưởng cho toàn khối, nhưng không thấy các con chim đầu đàn trong khối này hào hứng hay mạnh mẽ ủng hộ các đề xuất của ông Draghi để « đảo ngược thế cờ » để, bớt thua kém Mỹ và Trung Quốc.
Châu Phi không chỉ là kho dự trữ nguyên liệu cho Trung Quốc hay là nơi tiêu thụ hàng rẻ made in China mà còn là thị trường, phòng thí nghiệm của các nhà sản xuất Trung Quốc trong các lĩnh vực công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng.
Diễn Đàn Hợp Tác FOCAC giữa Trung Quốc và Châu Phi 2024 vừa kết thúc. Là chủ nợ chính của châu Phi, Bắc Kinh cam kết « hỗ trợ tài chính » cho châu lục này 50 tỷ đô la cho ba năm sắp tới. Với trên 280 tỷ đô la tổng trao đổi mậu dịch hai chiều (năm 2023), Bắc Kinh là đối tác thương mại quan trọng nhất của châu Phi. Từ hơn 20 năm nay thâm hụt mậu dịch của châu Phi với bạn hàng Trung Quốc không ngừng gia tăng. Trung Quốc là nguồn cung cấp hàng rẻ cho 1,5 tỷ dân tại hơn 50 quốc gia châu Phi và đổi lại thì nhập khẩu nguyên và nhiên liệu từ châu lục này để nuôi cỗ máy sản xuất.
Bắc Kinh cần châu PhiXavier Aurégan, đại học Công Giáo Lille, tác giả cuốn sách vừa cho ra mắt độc giả năm nay « Chine, puissance Africaine - Trung Quốc, cường quốc tại châu Phi »- NXB Armand Colin, trên đài truyền hình Pháp France 24 nói rõ hơn :
« Kinh tế và công nghiệp Trung Quốc rất cần nguyên liệu để sản xuất và cung cấp khoảng 10 % thành phẩm, vật liệu cho thế giới. Châu Phi là kho nguyên liệu và khoáng sản của nhân loại và do vậy đã thu hút chú ý của Bắc Kinh ».
Nhưng Trung Quốc nay đã trở thành một nhà sản xuất hàng cao cấp như ô tô điện hay pin mặt trời… Trung Quốc cũng là nhà cung cấp các dịch vụ và thiết bị viễn thông tên tuổi trên thế giới, làm chủ công nghệ xây dựng nhà máy điện hạt nhân, công nghệ chế tạo xe lửa cao tốc và cả trong lĩnh vực quốc phòng. Đó là những lĩnh vực còn khó chen chân vào các thị trường phát triển của Âu Mỹ, Hàn Quốc hay Nhật Bản và Nga. Chỉ còn lại châu Phi, một châu lục với tiềm năng lớn. Tiếp đón trọng thể các lãnh đạo châu Phi tại Bắc Kinh vào tuần trước, chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh quan hệ giữa nền kinh tế thứ 2 toàn cầu và châu Phi chưa bao giờ « lành mạnh như hiện tại ».
Trả lời đài truyền hình Pháp-Đức, Arte, Valérie Niquet chuyên gia về Trung Quốc thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược FRS nhắc lại 50 tỷ đô la được ông Tập Cận Bình thông báo « hỗ trợ tài chính châu Phi » cho ba năm sắp tới trước hết là số tiền Trung Quốc cho châu Phi vay mượn và Bắc Kinh đã ít hào phóng hơn nhiều so với quá khứ :
« Trước hết 50 tỷ đô la viện trợ là số tiền thấp hơn nhiều so với những diễn đàn FOCAC trước đây. Tại Diễn Đàn Hợp Tác Trung Quốc-Châu Phi hồi 2018, Bắc Kinh cấp 60 tỷ đô la tín dụng cho châu Phi và tặng 60 tỷ cho châu lục này. (…) Kinh tế không còn tăng trưởng tốt như lúc trước, Trung Quốc không thể rộng rãi với các đối tác châu Phi, nhưng vẫn tiếp tục nhắm tới một số dự án trong lĩnh vực năng lượng, vào cơ sở hạ tầng… »
Chuyên gia Xavier Aurégan đi sâu hơn vào chi tiết : Theo ông thực ra trong số 50 tỷ đô la Bắc Kinh hứa viện trợ cho châu Phi trong ba năm sắp tới bao gồm 30 tỷ được cấp dưới dạng tín dụng, 10 tỷ dành để hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động tại châu Phi và 10 tỷ đô la còn lại, thuần túy là tiền viện trợ. Nhưng phần lớn trong số 10 tỷ viện trợ này được dùng vào việc « thanh toán nợ hay trả tiền lãi cho chính các ngân hàng Nhà nước Trung Quốc ».
2 % tổng đầu FDI vào châu PhiMột đặc điểm mà Xavier Aurégan lưu ý trong cuốn « Trung Quốc, cường quốc châu Phi » là trái với điều mọi người lầm tưởng, Trung Quốc đầu tư không nhiều vào châu Phi. Tại châu lục này, đầu tư Trung Quốc chỉ chiếm có 2 % FDI trong lúc tỷ lệ này là 63 % tại châu Á và 5 % ở châu Âu. Điều đó chứng tỏ, trong mắt các nhà đầu tư Trung Quốc, châu Phi không là một điểm đến an toàn, mà chỉ là một nguồn cung cấp nguyên liệu, một thị trường mua vào hàng hóa « made in China ».
Như Valérie Niquet vừa nêu, do tăng trưởng bị chựng lại, Trung Quốc đang khóa dần van tín dụng với các nước châu Phi. Các số liệu chính thức của nước này cho thấy năm 2016 Trung Quốc cho châu Phi vay 28 tỷ đô la, năm 2019 châu Phi chỉ còn nhận được 8 tỷ tín dụng, và đến 2022 thì chỉ còn có thể vay được 1 tỷ đô la của Bắc Kinh mà thôi.
Tiêu thụ nội địa yếu kém, sản xuất dư thừa : đó là những lý do khiến Bắc Kinh lại càng « rất cần » châu Phi như Pascal Boniface, giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược của Pháp IRIS ghi nhận, đặc biệt là vào thời điểm mà Liên Hiệp Châu Âu và nhất là Hoa Kỳ « từng bước đóng cửa thị trường với Trung Quốc » : Châu Phi trở thành một thị trường tiềm năng để tiêu thụ pin mặt trời, bình điện và ô tô điện mà Trung Quốc không thể bán sang Âu Mỹ.
Châu Phi và nhu cầu tiêu thụ hàng cao cấpVào lúc trang thiết bị viễn thông của Hoa Vi đã bị cấm cửa tại Hoa Kỳ và một số nước trong Liên Âu thì tập đoàn này phải đi tìm những thị trường khác, với những nhu cầu khác về chất lượng, về mức cung cấp dịch vụ … Châu Phi vẫn cần phát triển các hệ thống cầu đường, cần có thêm cơ sở hạ tầng để mở mang kinh tế. Chuyên gia Valérie Niquet ghi nhận một thay đổi lớn về kinh tế và thương mại giữa Trung Quốc và châu Phi :
« Đúng là Trung Quốc đã đáp ứng những nhu cầu thực sự của châu Phi vào thời điểm mà châu lục này bị phương Tây bỏ quên. Nhất là sau chiến tranh lạnh, không còn mấy ai thiết tha với châu Phi hay quan tâm đến nhu cầu phát triển của khu vực này nữa. Dù vậy Trung Quốc chỉ đầu tư vào những lĩnh vực có lợi cho họ. Những lĩnh vực đó gồm công nghệ viễn thông, đường sắt cao tốc … Giờ đây thì Bắc Kinh kỳ vọng rằng châu Phi là thị trường tiêu thu pin mặt trời, ô tô điện, bình điện … mà Trung Quốc sản xuất ».
Trả lời đài truyền hình Pháp France 24 chuyên gia địa chính trị Xavier Aurégan có cùng quan điểm đồng thời ông nhấn mạnh đến mảng dịch vụ mà các tập đoàn Trung Quốc từ nhiều năm nay đã hướng tới :
« Trung Quốc dè dặt trong việc đầu tư vào châu Phi vì sợ rằng châu lục này có nhiều rủi ro, nhưng đã đẩy mạnh các hoạt động về thương mại với châu lục này và nhất là giành được nhiều hợp đồng bảo đảm dịch vụ cho châu Phi. Về kinh tế, mục tiêu của Bắc Kinh là gặt hái được nhiều hợp đồng cung cấp dịch vụ ở hải ngoại (...) Có một sự khác biệt giữa các khoản xuất nhập khẩu và các hợp đồng bảo đảm dịch vụ do các công ty Trung Quốc tiến hành. Đó là những công ty Nhà nước hay của tư nhân. Tại châu Phi, Trung Quốc giành được 1 phần 3 các hợp đồng xây dựng, tức là nắm giữ một phần lớn của toàn thị trường, xây dựng từ hải cảng đến xa lộ, bệnh viện, trường học … cho châu lục này ».
« Rế rách cũng đỡ nóng tay »Trong những lĩnh vực công nghệ mới Trung Quốc đã vươn lên thành một cường quốc, và đang cần xuất khẩu những sản phẩm cao cấp. Châu Phi không chỉ là thị trường mua vào quần áo, hay tủ lạnh, máy vi tính của Trung Quốc, mà nay đã có điều kiện để nhắm tới ô tô điện hay mua vào thiết bị viễn thông cung cấp các dịch vụ internet trên cả một châu lục rộng lớn…
Năm 2023 số lượng ô tô điện Trung Quốc xuất khẩu sang châu Phi đã được nhân lên gấp ba lần so với hồi 2022. Pin mặt trời « made in China » bán sang châu Phi tăng 57 % … theo các số liệu của Hải Quan Trung Quốc. Đương nhiên trong những địa hạt này, châu Phi không đủ « lớn » hấp dẫn như các ở châu Âu hay châu Mỹ nhưng đó là những giải pháp tạm thời cho phép cỗ máy công nghiệp của Trung Quốc tiếp tục sản xuất và tạo công việc làm cho người lao động Trung Quốc.
Thị trường vũ khí của các nhà sản xuất Trung QuốcBên cạnh mảng « hàng công nghệ cao » châu Phi còn là « một sân chơi » của các nhà sản xuất vũ khí Trung Quốc. Báo Hồng Kông South China Morning Post tháng 8/2023 ghi nhận Norinco, tập đoàn sản xuất vũ khí số 1 Trung Quốc « mở văn phòng đại diện » tại Senegal, trước khi « hiện diện thường trực » ở Mali, Côte d’Ivoire và nhiều nơi khác nữa tại Tây Phi.
Riêng trong vùng châu Phi ở phía nam sa mạc Sahara, Trung Quốc đứng thứ nhì trong danh sách các nguồn cung cấp cho khu vực này. Năm 2023 Cộng Hòa Dân Chủ Congo trang bị drone của Trung Quốc và Bắc Kinh cũng đã cung cấp không ít chiến dấu cơ cho châu Phi theo thông tin từ tạp chí ADF chuyên theo dõi các hồ sơ quân sự, quốc phòng tại châu Phi.
Zambia hiện đã trang bị trực thăng Trung Quốc, Soudan thì mua các hệ thống phóng rocket của Trung Quốc. Algérie là khách hàng quan trọng nhất của Bắc Kinh trên các thị trường mua bán vũ khí, đứng trên Tanzania, Maroc và Soudan.
Một nhà quan sát ghi nhận : Từ đầu thập niên 1980 Trung Quốc không trực tiếp tham gia vào bất kỳ một cuộc xung đột vũ trang nào, nhưng nền công nghiệp quốc phòng của nước này không ngừng phát triển. Châu Phi là « sân chơi », là « phòng thí nghiệm » cho các nhà sản xuất Trung Quốc. Đó là chưa kể đến ảnh hưởng về ngoại giao và chiến lược của Bắc Kinh đối với châu lục này vào lúc mà Bắc Kinh muốn hình thành một trật tự thế giới mới và lãnh đạo « khối các nước phương nam ».
Tất cả các yếu tố vừa nêu cho thấy, có lẽ ông Tập Cận Bình đã thành thật khi tuyên bố bang giao giữa Bắc Kinh và châu Phi « chưa bao giờ tốt đẹp như hiện tại ».
Mông Cổ là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên nằm sát cạnh hai ông khổng lồ là Nga và Trung Quốc. Láng giềng phương bắc của Ulaanbaatar là một trong những nguồn xuất khẩu khoáng sản phong phú và đa dạng nhất thế giới. Hàng xóm phương nam của Mông Cổ là nguồn tiêu thụ nguyên liệu lớn số 1 trên hành tinh. Vậy mà sự hiện diện của các tập đoàn khai thác Nga và Trung Quốc trên quê hương của Thành Cát Tư Hãn tới nay vẫn được coi là còn khiêm tốn.
Tài nguyên của Mông Cổ vẫn còn ngoài tầm kiểm soát của các nhà đầu tư Nga và Trung Quốc trong lúc mà các mỏ đồng, uranium và nhất là các kim loại hiếm rất được thế giới ưa chuộng vẫn còn đang được đợi để khai thác, đưa Mông Cổ trở thành một con Cọp châu Á bên cạnh con Rồng Trung Quốc hay con Gấu Nga.
Mông Cổ đang được ve vãnNgày 03/09/2024 tổng thống Nga bắt đầu chính thức viếng thăm Mông Cổ chỉ một tháng sau khi Ulaanbaatar tiếp ngoại trưởng Hoa Kỳ. Đầu tháng 7/2024 bên lề Hội Nghị Tổ Chức Hợp Tác An Ninh Thượng Hải diễn ra tại Astana, Kazakhstan, trong buổi làm việc với đồng cấp Mông Cổ, ngoại trưởng Trung Quốc nhấn mạnh Mông Cổ và Trung Quốc là hai quốc gia « không thể tách rời ».
Năm ngoái, tổng thống Emmanuel Macron thăm Mông Cổ ở cấp Nhà nước : Với diện tích rộng gấp ba lần so với Pháp, không có ngõ thoát ra biển, nằm kẹt giữa hai cường quốc hạt nhân là Nga và Trung Quốc, Mông Cổ có nguồn dự trữ lớn thứ nhì về uranium của thế giới và còn đợi được khai thác. Ngoài uranium được dùng để chế tạo bom nguyên tử và là lá chủ bài trong mọi chiến lược phát triển năng lượng hạt nhân, Mông Cổ còn có những hầm than, mỏ vàng, mỏ đồng .. mà nhiều « nước bạn » sẵn sàng cùng khai thác.
Trong cuộc chạy đua phát triển ô tô điện và các nguồn năng lượng sạch, phương Tây nhòm ngó đến các mỏ đất hiếm của Mông Cổ.
Sau nhiều thập niên chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, ngành công nghiệp khai thác quặng mỏ của Mông Cổ vẫn chưa cất cánh, thủ đô Ulaanbaatar vẫn chưa trở thành một trung tâm kinh doanh thịnh vượng như Dubai trong vùng thảo nguyên ». Nhưng không dễ đến gần các nguồn tài nguyên của Mông Cổ khi mà quốc gia này lệ thuộc đến 90 % vào năng lượng của Nga, đến 80 % hàng xuất khẩu từ Trung Quốc.
Nằm kẹt giữa Nga và Trung Quốc, nhưng Mông Cổ có hướng đi riêngTrên đài phát thanh quốc tế RFI Pháp ngữ, chuyên gia về địa chính trị nghiên cứu về Mông Cổ Antoine Maire nhấn mạnh đến một sự độc lập với cả Nga lẫn Trung Quốc trong đường lối phát triển của Ulaanbaatar.
« Mông Cổ là một ốc đảo nằm kẹt giữa Nga và Trung Quốc và có một sự tranh giành ảnh hưởng với Ulaanbaatar giữa hai nước láng giềng khổng lồ này. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tồn tại được giữa hai siêu cường đó. Tuy nhiên có một sự đồng thuận trong giới lãnh đạo ở Mông Cổ để giới hạn ảnh hưởng của Nga và của Trung Quốc. Sự hiện diện ngay sát cạnh của hai nước lớn đó, cũng là một cái may cho Mông Cổ, vì đâu đó, Matxcơva và Bắc Kinh kềm hãm các tham vọng của lẫn nhau. Chung cuộc, vai trò của cả Nga và Trung Quốc đều không mang tính quyết định đối với Mông Cổ như mọi người thường nghĩ. Chính sách đối ngoại và chiến lược phát triển của Ulaanbaatar khá độc lập và đó là một sự khôn khéo của ngành ngoại giao Mông Cổ ».
Về phần giáo sư Jacques Legrand nguyên giám đốc Viện Ngôn Ngữ và Văn Minh Phương Đông INALCO – Paris, ông ghi nhận một bước nhẩy vọt trong đời sống của người dân Mông Cổ từ khi quốc gia này thoát khỏi cái bóng quá lớn của Liên Xô và nhất là tìm kiếm thêm những đối tác khác ngoài Bắc Kinh và Matxcơva để phát triển. Đối tác ở bên ngoài hai điểm tựa truyền thống là Nga và Trung Quốc ấy được giới trong ngành gọi tắt là « nước láng giềng thứ ba ».
« Đời sống của người dân Mông Cổ trong những thập niên gần đây đã đã có bước nhẩy vọt rất ngoạn mục. Dưới thời Liên Xô, công nghiệp khai thác quặng mỏ của Mông Cổ bị khống chế vì lòng tham của Matxcơva. Nhưng từ khi chế độ cộng sản cáo chung, Mông Cổ tìm lại được độc lập trong chính sách phát triển. Tiêu biểu nhất là ngay cả ở những vùng sâu, vùng xa, dân cư cũng đã có điều kiện để tiêu thụ rau quả tươi. Họ bắt đầu có điện nhờ pin mặt trời và có điều kiện sắm tủ lạnh, tủ đông đá… Tình trạng y tế đã tốt hơn hẳn... »
Trên con đường đi tìm một nước « láng giềng thứ ba », Mông Cổ đã đặc biệt chú ý đến Rio Tinto. Tập đoàn khai thác khoáng sản này của Úc qua trung gian một chi nhánh Canada này đã đầu tư vào mỏ Oyu Tolgoi cách không xa biên giới giữa Mông Cổ và Trung Quốc. Đây là coi là « mỏ vàng và đồng lớn nhất thế giới ». Một khi đi vào hoạt động, nửa triệu tấn đồng một năm đủ để sản xuất 6 triệu chiếc ô tô điện.
Phân quyền tránh tham nhũng và tránh bán rẻ tài nguyên quốc giaNhà nghiên cứu Antoine Maire nhắc lại khi Liên Xô sụp đổ Mông Cổ tiến hành một cuộc cách mạng kép : vừa tách rời khỏi quỹ đạo của Matxcơva vừa chuyển hướng theo mô hình dân chủ. Ngay từ cuối năm 1989 đầu năm 1990 Mông Cổ đã chấm dứt chế độ độc đảng, chuyển sang một mô hình chính trị đa nguyên. Mông Cổ cũng tránh tập trung quyền lực trong tay một vài chính trị gia nên đã thiên về chế độ nghị viện với 126 đại biểu Quốc Hội thay vì 78 người. Nhờ vậy mà Ulaanbaatar giảm thiểu được rủi ro guồng máy chính trị Mông Cổ bị một trong hai nước láng giềng quá lớn sát cạnh mua chuộc và tránh được cái bẫy bán rẻ tài nguyên cho một vài nhà đầu tư của Nga hay Trung Quốc. Chính vì thế mà tại mỏ than Talvan Tolgoi, chỉ cách biên giới Trung Quốc chưa đầy 200 km, ngoài tập đoàn Trung Quốc Shenhoa Energy, Mông Cổ đã cho phép tập đoàn Mỹ Peabody Energy và một đối tác Nga cùng vào hoạt động.
Nhưng trong bối cảnh hiện nay, như chuyên gia Pháp Antoine Maire nhận xét, căng thẳng về địa chính giữa Nga với nhiều nước phương Tây về Ukraina, rồi cuộc tranh hùng giữa hai siêu cường kinh tế thế giới là Trung Quốc, bài toán đối với Mông Cổ nan giải hơn :
« Mông Cổ có quyết tâm đa dạng hóa các đối tác để bớt phụ thuộc vào Bắc Kinh hay Matxcơva nhưng căng thẳng trong quan hệ giữa phương Tây với Nga và Trung Quốc – Matxcơva bị Âu Mỹ trừng phạt vì xâm chiếm Ukraina, cuộc đối đầu giữa Bắc Kinh và Washington khiến Nga và Trung Quốc khó chấp nhận để cho Mông Cổ đi tìm thêm các đối tác mới. Thêm vào đó thì Nga và Trung Quốc đã xích lại gần nhau đó cũng là một thách thức mới đối với Mông Cổ. Tuy nhiên đây cũng là một cơ hội bởi vì một phần giao thương giữa Nga và Trung Quốc phải đi qua Mông Cổ biến quốc gia này thành một ‘hành lang kinh tế’ (…) Chính trong khuôn khổ này mà Matxcơva và Bắc Kinh đã khởi động lại một dự án đường ống dẫn khí đốt Siberia2, nhưng tôi không tin là công trình này sớm đi vào hoạt động. Trên thực tế, không có nhiều dự án hợp tác kinh tế giữa Nga và Trung Quốc đi ngang qua Mông Cổ ».
Giáo sư Legrand lưu ý chẳng những Mông Cổ không hưởng lợi nhiều từ việc Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau, mà Ulaanbaatar cho đến nay vẫn bị Bắc Kinh bắt chẹt : là một khách hàng lớn mua vào khoáng sản của Mông Cổ nhưng khách hàng Trung Quốc mua than đá, đồng … của Mông Cổ với giá thấp hơn 30 % so với thị trường. Do vậy Ulaanbaatar không dại để hết cả trứng vào một giỏ :
« Đương nhiên sự gần gũi về địa lý và thế thượng phong về kinh tế của Trung Quốc có tác động đến Mông Cổ. Chẳng hạn như trào lưu phát triển công nghệ ô tô điện của Trung Quốc đẩy giá đồng trên thị trường kim loại lên cao. Mông Cổ có nhiều mỏ đồng nên cũng đã nghe ngóng tình hình và nắm bắt thời cơ mở rộng thị trường với Trung Quốc, bớt lệ thuộc vào Nga ».
Công luận Mông Cổ « nóng ruột » chờ phép lạ kinh tếMột thách thức lớn khác đặt ra cho các nhà lãnh đạo ở Ulaanbaatar là chiến lược phát triển dựa vào tài nguyên thiên nhiên, vào khoáng sản và đất hiếm sau gần 3 thập niên vẫn chưa mang lại kết quả mong muốn. Rất giàu tài nguyên nhưng hiện tại 30 % dân Mông Cổ vẫn sống dưới ngưỡng nghèo khó và quốc gia này vẫn chưa hóa thân thành một « Dubai của vùng thảo nguyên ». Mông Cổ từng kỳ vọng cũng sẽ phát triển nhanh như Hàn Quốc trong nửa cuối thế kỷ XX để trở thành một mắt xích công nghiệp của thế giới. Nhưng cho tới hiện tại, kinh tế Mông Cổ vẫn chưa cất cánh. Nhà địa chính trị Antoine Maire, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về Mông Cổ giải thích :
« Đòn bẩy duy nhất để khởi động lại cỗ máy sản xuất và đem lại tăng trưởng cho Mông Cổ là khai thác khoáng sản. Trong mục tiêu đó, Ulaanbaatar cần thu hút đầu tư nước ngoài để định vị các mỏ dự trữ, thăm dò và khai thác. Mông Cổ cần các phương tiện tài chính để mở mang các công trường … Bên cạnh đó, thì cũng phải kiểm soát các khoản đầu tư của các đối tác ngoại quốc tránh để một vài tập đoàn của Trung Quốc, của Nga hay bất kỳ một quốc gia nào khác thâu tóm các nguồn tài nguyên quốc gia. Có điều mảng công nghiệp khai thác khoáng sản của Mông Cổ đầy tiềm năng và hứa hẹn nhiều, nhưng vẫn chưa đem lại những thành quả cụ thể. Mông Cổ vẫn chưa bứt phá để trở thành một con Cọp kinh tế của châu Á. Công luận nước này khá bức xúc ».
Biết đâu tiến trình chuyển đổi năng lượng hiện nay của phương Tây và kèm theo đó là nhu cầu tiêu tụ về đất hiếm để sản xuất ô tô điện, pin mặt trời hay chip điện từ là một cơ hội bằng vàng để Mông Cổ tăng tốc phát triển khoáng sản, thực hiện giấc mơ trở thành một cường quốc công nghiệp của thế kỷ 21.
Tăng trưởng và đà bật dậy của nền Trung Quốc là nỗi ám ảnh người giàu nhất hành tinh, tỷ phú người Pháp Bernard Arnaud, ông vua không ngai của ngành thời trang hạng sang và của nền công nghiệp de luxe trên thế giới. Chỉ một mình Trung Quốc đem về hơn 30 % doanh thu cho LVMH ông điều hành. Trong 2 quý đầu năm 2024 mức lãi của công ty giảm mạnh, do yếu tố Trung Quốc.
Ngành thời trang de luxe, nói riêng, nền công nghiệp hạng sang của Pháp nói chung quy tụ 4 đại tập đoàn (LVMH, Kering, Hermès và L’Oréal) chiếm hơn 1/3 trị giá trong số 40 tập đoàn hàng đầu tham gia thị trường chứng khoán Paris. Đây cũng là một con gà đẻ trứng vàng, đem về 5 % GDP cho nước Pháp. Châu Á và Mỹ là hai thị trường lớn nhất của những nhãn hiệu nổi tiếng, từ các nhà may Givenchy đến Chanel hay Dior, từ hãng rượu champagne Moët & Chandon đến hiệu kim hoàn và đồng hồ Cartier, từ hãng mỹ phẩm L’Oréal đến hiệu nước hoa Guerlain… Hầu hết trong số này lệ thuộc đến hơn 30 % vào các khách hàng của Trung Quốc. 80 % các sản phẩm như túi xách, giày da, thắt lưng, hay khăn quàng cổ của Hermès đều dành để xuất khẩu. Theo thẩm định của cơ quan tư vấn trong ngành thời trang hạng sang Bain&Compagny, trước khi đại dịch Covid bùng phát, 33 % thị trường hàng xa xỉ trên thế giới « đổ về » Hoa Lục và Hồng Kông.
Trả lời đài truyền hình Pháp France24, Bruno Lavagna tác giả cuốn sách mang tự đề Géopolitique de Luxe – Địa chính trị của ngành công nghiệp hạng sang (NXB Eyrolles) nhận định : châu Á, mà dẫn đầu là Trung Quốc, đang trở thành tâm điểm của thế giới.
« Nhìn lại lịch sử, khái niệm hàng hạng sang « de luxe » không mang tính toàn cầu, vì mỗi người, mỗi nền văn hóa họ có cái nhìn riêng về thế nào là hàng sang, thế nào là hàng cao cấp… Tuy nhiên có một khác biệt rất lớn, đó là châu Âu, mà đứng đầu là Pháp và Ý đã tạo nên được cả một mảng công nghiệp hạng sang uy tín và được cả thế giới ưa chuộng. Đó là nhờ vào chính sách quảng bá rất mạnh, qua các tổ chức tập hợp các nhà sản xuất hàng cao cấp. Ở Pháp thì có Comité Colbert, Ý thì có quỹ Antagalma. Rất nhiều những nhãn hiệu nổi tiếng của Pháp, của Ý lừng danh trên thế giới. Hiện tại thị trường chính trong lĩnh vực này đang nằm ở châu Á, bắc Mỹ. Tương lai có phần nghiêng nhiều hơn nữa về châu Á ».
Trung Quốc, « el dorado » của các nhà thời trang PhápCho đến năm 2013 nhu cầu tiêu thụ hàng hạng sang của Trung Quốc tăng đều đặn hơn 10 % một năm, trước khi bứt phá với kỷ lục 37 % trong năm 2019. Chẳng ngờ trong thời gian Trung Quốc đóng cửa để chống dịch, năm 2020 vào lúc mà kinh tế toàn cầu lao đao, châu Âu và Hoa Kỳ, và toàn châu Á bị phong tỏa thì người Trung Quốc tiếp tục mua sắm hàng cao cấp. Tăng trưởng trong lĩnh vực này tại Trung Quốc là 46-47 % trong một năm.
Trên sàn chứng khoán Paris, trong năm 2020-2021 cổ phần của Hermès tăng 37 %, của LVHM tăng 32 %.
Cựu giáo sư trường cao đẳng kinh doan HEC của Pháp, Jean-Noel Kapferer trên đài truyền hình France24 giải thích hiện tượng này như sau : do Trung Quốc đóng cửa chống dịch, như tất cả mọi người, tầng lớp giàu có tại Trung Quốc bị cấm đi lại, cấm du lịch trong nước bị cấm ra nước ngoài, mọi thú tiêu khiển ở những nơi công cộng đều phải đóng cửa… niềm an ủi của tầng lớp trung lưu trở lên trong xã hội Trung Quốc là mua hàng trên mạng với khuynh hướng dùng hàng tốt. Một nghiên cứu sau dịch Covid-19 cho thấy có đến 50 % người Trung Quốc có nhu cầu mua hàng xa xỉ.
Martin Meunier, sáng lập viên hãng Valet de Pique chuyên sản xuất túi xách tay bằng da ngạc nhiên là ngay sau đại dịch, đơn đặt hàng trong hãng ông điều hành đã được nhân lên gấp ba.
Bénédicte Sabadie đặc trách về lĩnh vực hàng hạng sang thuộc cơ quan tư vấ Deloitte không ngạc nhiên trước hiện tượng này :
« Ngành thời trang hạng sang là một lĩnh vực đặc biệt luôn có sức kháng cự rất tốt và cũng có khả năng bật dậy rất nhanh để thoát khỏi khủng hoảng. Đây là một khuynh hướng lâu bền, bởi vì thời nào cũng vậy và ở bất cứ nơi nào trên thế giới, người ta vẫn có nhu cầu tiêu thụ hàng cao cấp »
Trong chiều hướng đó, tập đoàn Pháp LVMH thông báo tuyển dụng thêm 7.500 nhân viên. LVMH hiện diện trong 6 lĩnh vực khác nhau như ngành thời trang, mỹ phẩm, kim hoàn, rượu champagne, rượu mạnh… và bao gồm các nhãn hiệu nổi tiếng như Louis Vuitton, Dior, Givenchy, Kenzo, Moët & Chandon, Henessy…
Cũng trong thời gian 2020 và cho đến tận hiện tại, tỷ phú Pháp Bernard Arnaud qua mặt các đại gia người Mỹ như Elon Musk, Jeff Bezos hay Mark Zuckerberg… để trở thành người giàu nhất hành tinh. Tài sản cá nhân của ông lên tới 207 tỷ euro và cũng Bernard Arnaud đứng đầu một đại tập đoàn có trị giá hơn 400 tỷ, mà gần một nửa trong đó là vốn của gia đình ông.
Vào lúc các nhà đầu tư và doanh nhân thế giới thất vọng là kinh tế Trung Quốc không phục hồi nhanh và mạnh như mong đợi thì riêng ngành công nghiệp hạng sang vẫn được bình an, ít ra là cho đến cuối 2023.
Nhưng gió đã xoay chiều : trong hai quý đầu năm 2024, thị trường Trung Quốc có khuynh hướng tăng chậm lại. Lãi của LVMH trong quý 1/2024 giảm 14 % so với 3 tháng trước đó.
Báo cáo của Bain&Company được công bố mùa xuân vừa qua nêu bật một số lý do như sau : Bên cạnh hiện tượng khủng hoảng địa ốc tại Hoa Lục kéo dài, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên vượt ngưỡng 20 %, thì chính sách « đả hổ diệt ruồi » chống tham nhũng của ông Tập Cận Bình ngày càng khiến các đại gia Trung Quốc lo sợ. Không còn mấy ai dám mạnh dạn mua hàng đắt tiền để khoe khoang hay quà cáp.
Đầu năm nay, doanh thu của LVMH tại châu Á, ngoại trừ Nhật Bản, giảm 6 %. Trong trường hợp khả quan nhất, nhu cầu tiêu thụ hàng hạng sang ở Trung Quốc trong năm 2024 cũng chỉ tăng 4 % là cùng. Đã xa rồi thời kỳ tiêu thụ ở Hoa Lục và Hồng Kông tăng 30-40 % một năm.
Dân Trung Quốc nghèo đi hơnMột thống kê của Trung Quốc cho thấy trong năm 2022 « tầng lớp những người cực giàu ở Trung Quốc - với tài sản hơn 30 triệu đô la - bị giảm đi mất 7 % » so với hồi trước đại dịch Covid. Đáng lo ngại hơn nữa, « đây mới chỉ là điểm khởi đầu » khi mà người dân Trung Quốc có thói quen đầu tư 70 % của cải vào địa ốc và đang trông thấy tài sản của họ « tan như tuyết dưới ánh nắng mặt trời ».
Thêm vào đó, chỉ số chứng khoán trên các thị trường ở Thượng Hải, Thâm Quyến hay Hồng Kông đều giảm mạnh từ hơn một năm nay.Trong hoàn cảnh đó những thành phần có tiền, đã tìm cách đầu tư ở nước ngoài, với những điểm đến dễ dàng như Singapore và trong một chừng mực nào đó là tại Nhật Bản.
Tuy nhiên sự đình đốn của nền kinh tế số 2 toàn cầu cũng như chính sách kinh tế của Trung Quốc không giải thích tất cả những khó khăn mà nhiều hãng hiệu hạng sang của Pháp đang vấp phải.
Một nền công nghiệp hạng sang Trung Quốc đang hình thành
Bruno Lavagna, nói đến một sự cạnh tranh trực tiếp xuất phát từ những nhãn hiệu de luxe made in China. Ngành công nghiệp hạng sang không là một ngoại lệ : người Trung Quốc học hỏi rất nhanh, nhất là khi lại được chính những chuyên gia về marketing hàng đầu của Pháp và châu Âu tiếp sức :
« Các hãng Trung Quốc dựa vào những bí quyết của châu Âu và mời một chuyên gia trong ngành thời trang hạng sang của châu Âu về điều hành tập đoàn. Thí dụ như trong trường hợp của Shang Xia, nhãn hiệu này nổi lên từ 2007 và là một phiên bản Trung Quốc của nhà thời trang rất cao cấp Hermès. 90 % vốn của Shang Xia thuộc về Hermès, bởi tập đoàn thời trang hạng sang này của Pháp ý thức rằng túi xách tay kiểu Kelly hay Birkin (mang tên những ngôi sao điện ảnh nổi tiếng người Mỹ và người Anh) rất được khách hàng Trung Quốc yêu thích, nhưng tại sao lại không nghĩ đến việc cung cấp những sản phẩm hạng sang 100 % mang sắc mầu Trung Quốc ? Chính vì thế mà Hermès nảy sinh ý tưởng đưa những nét đặc thù của Trung Quốc vào thời trang, thí dụ như khai thác cổ áo vét kiểu Mao, hay đồ gốm Trung Quốc… Trái lại thì cũng có những nhãn hiệu là do Trung Quốc phát triển. Tôi muốn nói đến Icicle. Đây là một thương hiệu 100 % vốn Trung Quốc, do các nhà tạo mẫu và thời trang Trung Quốc điều hành với khẩu hiệu là Made in Earth. Họ dùng toàn những chất liệu tự nhiên. Nhưng họ cũng cần có một nhà lãnh đạo người châu Âu để vươn ra quốc tế và thậm chí là nhắm tới các thị trường phương Tây. Đừng quên rằng Icicle có cửa hàng ở đại lộ George V, một trong những trục lộ sang trọng nhất ở khu tam giác vàng Paris. Nhãn hiệu Trung Quốc này cần cắm rễ vào châu Âu ».
Trong số những tập đoàn hạng sang của Trung Quốc bắt đầu nổi lên, thì phải kể đến hai nhà kim hoàn Chow Tai Fook và Queelin, đến hãng sản xuất rượu quý Moutai với trị giá của tập đoàn nay đã lên tới 12 tỷ đô la, tương đương với hãng xe hơi Đức BMW. Nhãn hiệu thời trang Icicle thì một chiếc áo thun rất tầm thường hay một chiếc ví da khá nhỏ được bán ở Paris với giá vài ngàn euro, đắt không kém hàng Louis Vuitton hay Céline.
Cũng ông Lavagna, tác giả cuốn sách nói về yếu tố địa chính trị trong lĩnh vực hàng hạng sang, cho rằng các mặt hàng xa xỉ là một công cụ ngoại giao mà bất kỳ một quốc gia nào cũng có thể dùng để gây sức ép hay để mặc cả với các đối tác.
Tháng 5/2024 khi chủ tịch Tập Cận Bình công du nước Pháp, mọi chú ý đã hướng về thông báo của Bắc Kinh về việc Trung Quốc có đánh thuế nhắm vào rượu mạnh cognac và armagnac của Pháp hay không. Đây là một đòn răn đe và trừng phạt Paris, đầu tàu của Liên Hiệp Châu Âu, nếu Bruxelles mạnh tay đánh thuế ô tô điện của Trung Quốc nhập cảng vào thị trường chung châu Âu.
Lên cầm quyền hôm 05/07/20214, thủ tướng Keir Starmer bên Công Đảng cam kết đưa đất nước ra khỏi 14 năm « hỗn loạn » dưới các chính quyền của phe bảo thủ. Một trong những việc cần làm đầu tiên là sưởi ấm quan hệ với Liên Hiệp Châu Âu, đặc biệt là với Pháp sau nhiều năm nguội lạnh vì Brexit.
Sang Washington dự thượng đỉnh NATO, tân thủ tướng Anh trấn an Hoa Kỳ là Luân Đôn khởi động lại bang giao với Liên Hiệp Châu Âu trong bối cảnh an ninh toàn châu Âu bị Nga đe dọa từ khi khởi động chiến tranh Ukraina. Ngày 18/07/2024, trong cương vị chủ nhà, trước khi tiếp lãnh đạo gần 40 quốc gia châu Âu đến Luân Đôn dự hội nghị Cộng Đồng Chính Trị Châu Âu, cũng ôngg Starmer tiếp riêng tổng thống Pháp, Emmanuel Macron. Luân Đôn và Paris nhất trí tăng cường các mối hợp tác trên những hồ sơ then chốt. Đứng đầu trong số đó là chính sách phòng thủ và hồ sơ gai góc về nhập cư.
Sang trang Brexit vì quyền lợi của nước AnhVào lúc công luận Anh càng lúc càng có vẻ ân hận đã rời xa Liên Âu, thủ tướng Starmer báo trước ông không có ý định trở lại với mái nhà chung châu Âu, với thị trường chung châu Âu và liên minh thuế quan châu Âu. Nhưng 4 năm sau khi chính thức « bước ra khỏi » Liên Hiệp Châu Âu, khối 27 thành viên vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất của Anh Quốc, chiếm gần 50 % tổng trao đổi mậu dịch của nước Anh với phần còn lại của thế giới. Luân Đôn khép lại thời kỳ sóng gió và chấm dứt giai đoạn đối đầu với Bruxelles để hướng tới một mối bang giao hài hòa hơn, có lợi cho cả đôi bên. Trước hết là giảm nhẹ bớt một số những thủ tục cản trở giao thương giữa Anh và Liên Âu.
Thông tín viên Nguyễn Giang từng làm việc tại Luân Đôn và hiện đang công tác ở Singapore trước hết cho biết cụ thể là quá trình Brexit đã đặt ra những khó khăn nào cho các doanh
Nguyễn Giang : « Sau khi Anh chính thức ra khỏi Liên minh thuế quan với Liên hiệp châu Âu (EU) từ ngày đầu tiên của năm 2021 -một trong nhiều điều kiện phải thực hiện sau thỏa thuận ly hôn Brexit – các tác động của quá trình này về thương mại, nguồn lao động và đầu tư mới bắt đầu có tác động xấu tới các ngành kinh tế Anh. Tuy thế, không dễ đánh giá riêng tác động của việc mất đi nguồn trao đổi mậu dịch 550 tỷ bảng Anh, bằng 670,5 tỷ euro một năm, của Anh với Liên Âu, vì ngay sau đó thì còn đại dịch Covid và khủng hoảng năng lượng toàn châu Âu sau cuộc chiến Nga xâm lăng Ukraine đầu năm 2022.
Tác động xấu thứ nhất là nguồn đầu tư vào Anh. Theo viện nghiên cứu UK in a Changing Europe, so với năm 2016, đầu tư nước ngoài vào Anh đáng nhẽ ra phải cao hơn thời điểm hai năm sau Brexit là 25%. Thế nhưng nó đã không cao như vậy và tỷ phú Anh, Sir Richard Branson cho rằng các giấy tờ, quy định mới sau Brexit “cản trở đầu tư nước ngoài”, dù quan điểm của ông bị một số thinktank khác nói là không đúng.
Tác động trực tiếp nữa của Brexit là nguồn lao động và nhân lực có tay nghề từ Liên Hiệp Châu Âu giảm hẳn đi, thấy rõ trong dịch vụ y tế công, các ngành xây dựng và buôn bán lẻ. Trung tâm nghiên cứu và tư vấn mang tên Centre for European Refor” nêu con số thị trường lao động Anh thiếu đi 330 nghìn nhân công từ EU sau hai năm thực hiện Brexit ».
Cái bóng của EU vẫn quá lớnRFI : Nhìn rộng ra hơn thì sau gần 4 năm thực sự có hiệu lực, việc ra khỏi Liên Hiệp Châu Âu có lợi gì không cho kinh tế của Anh hay không. Đồng thời vì không còn thị trường 27 nước trong khối này nữa nên Luân Đôn đã mở rộng quan hệ thương mại với các đối khác nhưng hiệu quả đến đâu thưa anh ?
Nguyễn Giang : « Tác động bao trùm của Brexit là sự ngưng trệ về mậu dịch quốc tế ngay sau khi thực hiện Brexit từ đầu 2021. Anh ký liên tiếp gần 80 hiệp định thương mại tự do với các nước khác, để bù vào lỗ hổng mậu dịch với EU nhưng đa số các hiệp định mới này, như với Việt Nam, chỉ là bản sao của hiệp định Anh có với các nước kia khi còn là thành viên Liên Âu, chứ không đem lại ưu thế gì mới.
Quan trọng nhất là Hoa Kỳ không ký hiệp định tự do mậu dịch với Anh, còn các hiệp định với Úc và New Zealand chỉ bù lại không đáng kể phần mất đi từ quan hệ thương mại với láng giềng lớn là Liên Âu. Hai hiệp định này không chỉ cần nhiều năm mới phát huy tác dụng tốt cho kinh tế Anh, mà còn tác động xấu ngay lập tức là đe dọa nhà nông Anh bán các hàng tương tự với hàng Úc và New Zealand ra thị trường, ví dụ thịt cừu, sữa bò. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Anh đều bối rối với các thay đổi về luật lệ, giấy tờ xuất nhập khẩu trong hoàn cảnh mới.
Tuy thế, ngoài mối lợi cho các nhà xuất khẩu nông sản Anh, trị giá chừng 5 tỷ bảng (5,88 tỷ euro), theo một đánh giá của giới kinh tế Anh mà BBC đăng tải hồi tháng 1/2023, thì nhìn chung bài toán Brexit gây thiệt hại cho nước này ».
EU không còn là một đối thủRFI : Anh Quốc vừa có chính phủ mới, Công Đảng trở lại cầm quyền sau 14 năm. Tân thủ tướng Keir Starmer đã tổ chức hội nghị Cộng Đồng Chính Trị Châu Âu ngay trong những ngày đầu nhiệm kỳ. Đó là dấu hiệu Luân Đôn muốn thắt chặt trở lại quan hệ với châu lục với Liên Hiệp Châu Âu nói riêng từ sau Brexit trong nhiều lĩnh vực chứ không chỉ riêng gì vế kinh tế và thương mại.
Nguyễn Giang : « Chính phủ của Sir Keir Starmer đã làm được một việc là thay đổi ngôn từ về EU, từ chỗ Anh coi EU như đối thủ xấu xa thời đảng Bảo thủ cầm quyền, tới chỗ Luân Đôn nhìn nhận thực tiễn về Liên Âu, bỏ cách ứng xử mang tính đối đầu.
Tuy thế, chưa có nhiều chính sách cụ thể của tân chính phủ Anh về quan hệ với EU. Trong cương lĩnh tranh cử của Công đảng có ghi mục tiêu là làm sao Anh giảm nhẹ việc kiểm soát biên giới về thuế quan cho hàng thực phẩm, nhằm giúp giảm giá cả hàng ăn, đồ uống từ EU xuất khẩu vào Anh Quốc tăng lên. Trên thực tế thì chi phí thuế quan đã khiến các mặt hàng này tăng 6% so với giai đoạn trước Covid nhưng cũng khó đánh giá cụ thể là vì thương mại với EU bị gián đoạn bởi Brexit, hay vì lạm phát tại Anh từ 2022 sang 2023 tăng vọt do giá xăng dầu quốc tế tăng.
Công đảng cũng muốn giải quyết các việc nhỏ, đỡ cho các nghệ sĩ Anh đi trình diễn ở EU phải xin nhiều giấy phép, hay mong có thừa nhận song phương về bằng cấp, về quy trình kiểm tra thú y, về miễn visa ngắn hạn cho các chuyến học sinh dã ngoại hai bên, tức là những điều không quá quan trọng.
Điều cần làm nhất là làm sao đặt Anh vào một quan hệ thương mại tương đồng nhất có thể về các tiêu chuẩn, thủ tục xuất nhập khẩu với EU, nhưng quan chức EU chưa ngỏ ý sẵn sàng về một quy chế đặt thù nào cho Anh cả.
Tính đến tháng 7 năm nay, Anh chưa đả động gì về chuyện có mở lại, xem xét thỏa thuận mậu dịch với EU (UK-EU Trade Cooperation Agreement) hay là không. Hai bên cũng chưa thể nào xem xét việc này khi Liên Hiệp Châu Âu sau bầu cử Nghị viện chưa chọn ra tân lãnh đạo mảng thương mại. Và giả sử hai bên có đồng ý xem xét thỏa thuận thương mại trụ cột của Brexit này thì đàm phán sẽ phải kéo dài ít nhất tới 2026.
Trước mắt, Anh nhấn mạnh vào việc thiết lập một cơ chế hợp tác chặt về an ninh- quốc phòng với EU, theo lời tân Bộ trưởng Ngoại giao David Lamy trong chuyến thăm châu Âu tháng 7 vừa qua. Ông Lamy cũng nói hợp tác tạo niềm tin trong mảng quốc phòng, rồi mảng năng lượng, sẽ tạo đà cho các cuộc nói chuyện tiếp. Về hợp tác giáo dục, trước khi Công đảng lên cầm quyền, Anh và EU đã ký thỏa thuận tái hợp tác đầu tư khoa học mang tên Horizon (Chân Trời) trị giá 95,5 tỷ euro, có hiệu lực tới 2027 để các viện nghiên cứu, các đại học lớn Anh-EU trao đổi và cùng đầu tư vào nghiên cứu. Nay, Anh hy vọng chương trình trao đổi sinh viên Erasmus sẽ được đem ra bàn thảo vào năm 2025, thậm chí phục hồi. Thế nhưng các nước thành viên của Liên hiệp Vương quốc Anh lại có các ý tưởng riêng. Xứ Wales muốn có chương trình mang tên Taith thay cho Erasmus, Scotland có tính toán khác và ở xứ Anh có dự án gọi là Erasmus Plus Alliance nhưng chỉ mang tính vận động cho trao đổi sinh viên với EU, không phải cơ quan chính phủ. Bắc Ireland thì trên thực tế vẫn đang hưởng quy chế của Erasmus cho Cộng hòa Ireland trên cùng hòn đảo nên không phải lo chuyện này ».
« Reset » quan hệ với Bruxelles cả về kinh tế thương mại để giảm bớt căng thẳng về lạm phát cho người dân Anh ; sưởi ấm quan hệ với Liên Âu và nhất là với Pháp để ngăn chận các làn sóng nhập cư trái phép vào Anh Quốc, vào lúc mà chủ đề này nuôi dưỡng các phong trào cực hữu bài ngoại trên đất Anh ; khởi động lại quan hệ với các đối tác châu Âu trong bối cảnh an ninh của châu lục này đang bị đe dọa vì cuộc chiến Ukraina : Đó là những mục tiêu mà thủ tướng Keir Starmer đang nhắm tới trong 100 ngày đầu nhiệm kỳ.
Ngành công nghiệp quốc phòng Pháp đang thuận buồm xuôi gió. Với nhiều lợi thế, các nhà sản xuất của Pháp đang dẫn đầu cuộc đua tại châu Âu nhưng còn nhiều thách thức để giữ được vị trí « số 2 » trong số các nhà xuất khẩu vũ khí cho thế giới.
Theo báo cáo của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Bình Quốc Tế SIPRI công bố tháng 3/2024, trong giai đoạn 2019-2023, Pháp thay thế Nga để trở thành nhà xuất khẩu vũ khí thứ nhì trên thế giới, chiếm 11 % thị phần - nhưng vẫn thua xa Hoa Kỳ (42 %). Trong cùng thời kỳ, khối lượng vũ khí châu Âu mua vào đã tăng lên gần gấp đôi (tăng 94 %) dưới tác động của chiến tranh Ukraina từ đầu 2022. Cũng vì chiến tranh Ukraina mà ngân sách quốc phòng của Pháp tăng mạnh : luật tài chính dành cho các khoản chi tiêu quân sự trong giai đoạn 2024-2030 tăng 22 %, vượt quá 413 tỷ euro. Cũng lần đầu tiên Pháp dành đến đến 2% GDP cho ngân sách quốc Phòng, hưởng ứng kêu gọi của NATO.
Những nỗ lực đầu tư vào công nghiệp quốc phòng của Pháp từ gần ba năm qua đã bắt đầu được trông thấy nhân Hội Chợ Quốc Tế về Quốc Phòng và An Ninh Eurosatory 2024 hồi tháng 6 vừa qua. Trả lời RFI tiếng Việt đại tá Sandoz đã rất hãnh diện giới thiệu lớp xe bọc thép bánh lốp Scorpion đời mới, bắt đầu phục vụ cho bên Bộ Binh, hiện đã có 700 chiếc đang từng bước được triển khai.
« Thế hệ xe thiết giáp đời mới được cải thiện về mặt lưu động, về hệ thống bọc thép, khả năng can thiệp tinh tế và sắc bén hơn. Chúng được trang bị những công cụ kết nối để có thể hợp tác và chia sẻ thông tin gần như trực tiếp với các xe đang thi hành cùng một nhiệm vụ. (…) Trong lớp Scorpion, có các loại Griffon, Serval và Jaguar : Griffon chủ yếu được dùng trong công tác vận chuyển quân và để quan sát. Chúng được trang bị pháo cối có tầm bắn đến gần 10 km. Thiết giáp Serval gần tương đương với dòng Griffon nhưng tương đối nhẹ hơn một chút và thường được dùng trong các đơn vị pháo binh, bên công binh và cả ở khâu chỉ huy. Cuối cùng, dòng Jaguar có trang bị hệ thống súng đa nòng 40 mm. Cũng từ thiết giáp Jaguar có thể phóng đi tên lửa nhắm tới các mục tiêu ở cách xa 4 km »
Khi chiến tranh lạnh kết thúc với việc bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 châu Âu tưởng chừng không còn cần đầu tư quá nhiều cho lĩnh vực quân sự. Suốt 20 năm đầu thế kỷ 21, các cuộc xung đột diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, những vụ tấn công khủng bố ngay trên châu lục cũng không làm các nhà cầm quyền của châu Âu nao núng.
Trái hẳn với Hoa Kỳ hay Trung Quốc, nhiều thành viên trong Liên Hiệp Châu Âu vẫn tiếp tục cắt giảm ngân sách quốc phòng. Năm 2016 khi Donald Trump lên cầm quyền, dọa rút Mỹ ra khỏi NATO, đòi các thành viên trong Liên Minh Bắc Đại Tây Dương tăng ngân sách phòng thủ. Kêu gọi của tổng thống Pháp Emmanuel Macron xây dựng một « chính sách phòng thủ chung châu Âu » từ 2017 không được một ai hưởng ứng.
Một nền kinh tế phục vụ chiến tranh ?Phải đợi đến tháng 2/2022 Nga đưa quân xâm chiếm Ukraina, chiến tranh diễn ra ngay sát cạnh cửa ngõ Liên Hiệp Châu Âu, căng thẳng giữa Matxcơva với NATO không ngừng gia tăng, Paris lại lên tuyến đầu cho rằng đã đến lúc châu Âu cần huy động các nguồn lực kinh tế chuẩn bị đối phó với chiến tranh. Emmanuel Macron nói đến một nền « kinh tế chiến tranh ». Trả lời đài truyền hình France 24 tướng Patrick Dutartre, cựu phi công Không Quân Pháp, trước hết giải thích thế nào là khái niệm « một nền kinh tế chiến tranh »
« Đây trước hết là việc tập hợp các doanh nghiệp trong lĩnh vực quốc phòng, bao gồm luôn cả chính sách khuyến khích các công ty của Pháp quay trở lại nguyên quán. Tạo điều kiện để sản xuất vũ khí, trang thiết bị quân sự với những khối lượng lớn, tức là sản xuất nhiều hơn, nhanh hơn và vẫn phải chú trọng đến chất lượng cao. Cho đến hiện tại, Pháp không thể sản xuất nhiều nhưng hàng Pháp luôn được đánh giá cao và rất được ưa chuộng. Các đối tác của chúng tôi, nhất là Ukraina, rất bằng lòng khi mua vũ khí của Pháp ».
Trước mắt, sau khi chuyển giao vũ khí cho Ukraina từ đầu năm 2022 Pháp cần « tạo dựng lại » các kho vũ khí, đạn dược đã vơi đi, cần sản xuất nhiều hơn các phụ tùng sử dụng trong ngành công nghiệp quốc phòng. Tuy nhiên các chuyên gia về quân sự cũng lưu ý rằng, trong trường hợp hiện tại, nói rằng đặt nước Pháp trong tình trạng của một nền kinh tế chiến tranh là không chính xác.
Không thể nói tới một nền kinh tế chiến tranh với 2 % GDP dành cho ngân sách quốc phòng.
Bởi thứ nhất Pháp không trực tiếp phải đối mặt với một cuộc « xung đột vũ trang ở cường độ cao ». Paris yểm trợ Kiev về tài chính, về quân sự, đào tạo cho các quân nhân Ukraina, cung cấp vũ khí đủ loại giúp Ukraina giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ nhưng Pháp không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến mà ông Vladimir Putin đang tiến hành.
Điểm quan trọng thứ nhì là một nền « kinh tế chiến tranh » đòi hỏi cả một sự tổ chức lại trong xã hội và các hoạt động kinh tế chỉ để phục vụ mục tiêu quân sự. Điều đó cũng có nghĩa là các nhu cầu tiêu thụ trong cuộc sống hàng ngày của người dân bị đẩy vào hàng thứ yếu. Hiện tại, kịch bản này không xảy ra.
Lý do thứ ba chưa thể nói là Pháp đã hay đang tiến tới một nền kinh tế chiến tranh do tỷ lệ GDP huy động vì mục tiêu phòng thủ vẫn còn rất thấp. Đành rằng Paris tăng 15 % ngân sách quốc phòng, nhưng trước đó, « trong gần 60 năm liên tiếp, Pháp đã cắt giảm chi phí quân sự ». Cho dù hy sinh nhiều khoản chi tiêu khác để tăng cường khả năng phòng thủ, nhưng mãi đến tháng 4/2024 ngân sách quân sự của Pháp mới đạt ngưỡng 2 % GDP.
Để so sánh, trong Thế Chiến Thứ Nhất (1914-1918) Paris huy động từ 15 đến 20 % tổng sản phẩm nội địa để tài trợ chiến tranh. Trong Thế Chiến Thứ Hai (1939-1945) nỗ lực quân sự của Hoa Kỳ chiếm tới 40 % GDP, còn đối với Đức là 75 %. Hiện tại chỉ có Ukraina phải huy động 1/3 các nguồn lực kinh tế để đương đầu với đội quân của Nga. Trong lúc bản thân Matxcơva cũng chỉ dành có 6 % GDP để tài trợ « chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina ».
Khủng hoảng do lớn quá nhanh ?Từ khi Ukraina bị Nga xâm chiếm, viện trợ quân sự của Paris cho chính quyền Kiev lên tới 2,7 tỷ euro, thấp hơn rất nhiều so với Mỹ nhưng không thể phủ nhận là các nhà sản xuất của Pháp nói riêng, của châu Âu nói chung, hoạt động « với công suất tối đa ». Mặt trái của đồng tiền là 30 % các nhà máy trong ngành công nghiệp quốc phòng của Pháp gặp khó khăn trong việc mua nguyên và nhiên liệu, đặc biệt là mua kim loại hiếm và phụ tùng điện tử. Không ít trong số này lo ngại chuỗi sản xuất bị gián đoạn vì thiếu hàng.
Nhà báo Anne Bauer của tờ Les Echos, chuyên theo dõi các hồ sơ về công nghiệp quốc phòng lưu ý : để hoàn thành mục tiêu « huy động kinh tế phục vụ cho chiến tranh » các tập đoàn sản xuất vũ khí của Pháp cần vượt qua một số điều kiện tiên quyết :
« Để sản xuất nhiều và nhanh đòi hỏi một số điều kiện : một là ngành công nghiệp quốc phòng của Pháp phải có đủ dự trữ nguyên liệu, hai là phải xây dựng lại các nhà máy, các chuỗi lắp ráp để sản xuất theo số nhiều và ba là phải nhanh chóng tuyển dụng thêm nhân viên, thậm chí là sản xuất ngày đêm với ba ê-kíp và mỗi nhóm làm việc 8 tiếng một ngày. Công suất của tập đoàn Nexter chế tạo hệ thống pháo tự hành Caesar đã được nhân lên gấp đôi và sắp tới là gấp 3 hay gấp 4 từ nay đến cuối năm. Điều đó đòi hỏi tập đoàn này phải đào tạo nhân công … và đó là cả một hệ thống mà chúng ta cần phải khởi động lại ».
Nền tảng vững chắc nhưng Pháp vẫn là một chú lùnKhông phải tình cờ mà Pháp vươn lên hàng thứ 4, rồi thứ 3 và tạm thời là thứ 2 thế giới trong số các nguồn xuất khẩu vũ khí của thế giới. Các chuyên gia nói đến một « mạng lưới công nghiệp vững chắc » với 9 đại tập đoàn như Airbus Defense, Thales, Nexter hay Arquus, Dassault … với trên dưới 4.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong số đó có đến hơn ¼ thuộc diện « chiến lược ». Hơn 210.000 nhân viên Pháp làm việc trong ngành quốc phòng, doanh thu trong ngành lên tới hơn 30 tỷ euro, trong đó 12 tỷ là nhờ vào xuất khẩu.
Nhưng nếu như so sánh với cỗ máy sản xuất vũ khí và thiết bị quân sự của Hoa Kỳ thì Pháp vẫn là một chú lùn. Vào lúc Hoa Kỳ chiếm 42 % thị trường trên thế giới, Pháp đang hoạt động hết công sức mới chỉ dành được có 11 % thị phần quốc tế, mà đó là nhờ Nga vắng mặt từ khi bị quốc tế trừng phạt và vũ khí của Nga ưu tiên được điều sang chiến trường Ukraina.
Về phía Trung Quốc thì nước này sản xuất trước hết là để phục vụ nhu cầu nội địa và mới chỉ rụt rè vươn ra thế giới và hàng « made in China » chưa tạo được uy tín lớn với « bên ngoài ». Do vậy theo tướng Patrick Dutartre nền công nghiệp quốc phòng của Pháp là đầu tàu của châu Âu nhưng cần được 26 thành viên khác trong Liên Âu tiếp sức.
« Thứ nhất, Pháp phải là một con chim đầu đàn trong Liên Hiệp Châu Âu. Thứ hai là toàn khối này cũng phải huy động lực lượng để nâng cao khả năng phòng thủ, để đẩy mạnh cỗ máy công nghiệp phòng. Khả năng của các nhà sản xuất vũ khí châu Âu thường bị đánh giá không đúng mức. Đừng quên răng Liên Âu là một khối 27 quốc gia với 550 triệu dân, trong lúc Nga chỉ có 145 triệu và GDP của Liên Âu lớn gấp 7 lần so với của nước Nga. Liên Hiệp Châu Âu phải nỗ lực để có được một nền công nghiệp quốc phòng có trọng lượng và khả năng phòng thủ của khối này phải đủ sức trong trường hợp Liên Âu bị đẩy vào một cuộc xung đột ở cường độ cao. Đương nhiên, không ai mong muốn chiến tranh cả ».
Thách thức của những cuộc chiến trong tương laiThêm vào đó, vị thế của ngành công nghiệp quốc phòng Pháp trên thị trường quốc tế luôn bị đe dọa vì uy tín của các nhà sản xuất Nga vẫn còn rất lớn, vì những tiến bộ về công nghệ chế tạo vũ khí của Hàn Quốc, vì thái độ mềm mỏng của các nhà đàm phán xứ kim chi.
Hơn nữa, các cuộc xung đột hiện nay từ ở Gaza đến Ukraina đều cho thấy đấy cũng là những cuộc chiến của công nghệ cao, của công nghệ kỹ thuật số, của trí tuệ nhân tạo. Chiến tranh trong hiện tại và tương lai là những cuộc chiến tranh về cyber, là những xung đột diễn ra trên bộ, trên không, trên biển và dưới lòng biển (các quang, ống dẫn khí đốt ...)
Do vậy bên cạnh việc chế tạo chiến xa, chiến đấu cơ …các nhà sản xuất của Pháp đã tập trung phát triển drone, sử dụng công nghệ kết nối trong công tác dò mìn, sử dụng những thiết bị càng lúc càng nhỏ trong công tác thu thập thông tin … Đó là những khoản đầu tư để « chuẩn bị đối phó với một cuộc chiến trong tương lai », càng lúc càng tinh vi.
Kết thúc Hội Nghị Trung Ương 3, Khóa 20 của đảng Cộng Sản Trung Quốc, một thông cáo và một bản nghị quyết định hướng kinh tế cho tới năm 2029 được công bố ngay sau đó. Cả hai cùng « rỗng tuếch » và thể hiện một sự tê liệt trong nội bộ Đảng. Trên đây là nhận định của chuyên gia về Trung Quốc, Alex Payette, đồng sáng lập viên cơ quan tư vấn Cercius, trụ sở tại Montréal, Canada về « Tầm nhìn mới phát triển kinh tế » cho giai đoạn 5 năm sắp tới.
Những hứa hẹn « cải tổ », « mở cửa và phát triển kinh bằng những phát minh về công nghệ cao » của Trung Quốc còn giá trị gì nữa hay không ? Tuần báo Anh The Economist (25/07/2024) nhắc lại, từ khi lên cầm quyền cuối 2012, ông Tập Cận Bình luôn hứa hẹn « để thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bố các nguồn lực » và mở rộng vị trí cho các công ty tư nhân vào những lĩnh vực vốn vẫn được đặt dưới sự thống trị của các doanh nghiệp nhà nước. Hơn một chục năm sau, toàn cảnh kinh tế Trung Quốc đang ảm đạm.
Kinh tế ảm đạmTheo các thống kê công bố hôm 15/07/2024, đúng ngày khai mạc Hội Nghị, tăng trưởng của Trung Quốc chỉ đạt 4,7 % trong một năm, thấp hơn so với chỉ tiêu 5 %. Trong 5 quý liên tiếp, kinh tế nước này bị giảm phát và điều ấy phản ánh tiêu thụ nội địa bị đóng băng. Khối lượng xe hơi bán ra trong 6 tháng đầu năm 2024 giảm 6 % so với cùng thời kỳ năm ngoái, trong lúc ngành địa ốc lún sâu thêm vào khủng hoảng. Các doanh nghiệp và các nhà đầu tư tại Hoa Lục trong trạng thái « chờ đợi », hoãn các kế hoạch mua thêm trang thiết bị sản xuất và ngừng tuyển dụng thêm nhân viên.
Trong bối cảnh này, nhiều người chờ đợi, giới lãnh đạo ở Bắc Kinh đề ra những biện pháp cụ thể nhanh chóng khởi động lãi cỗ máy kinh tế. Thế nhưng thông cáo tổng kết nội dung 4 ngày họp và văn bản mang tên « Quyết định của Ban Chấp Hành Trung Ương về việc sâu sắc hóa toàn diện chính sách cải tổ và thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa theo kiểu của Trung Quốc » gây nhiều thất vọng.
Bản nghị quyết kết thúc Hội nghị gồm 60 phần với danh sách tổng cộng 300 đề xuất nhằm cải thiện đời sống kinh tế và xã hội cho đất nước.
Trả lời RFI Việt ngữ, chuyên gia về Trung Quốc, Alex Payette, đồng sáng lập viên cơ quan tư vấn Cercius, trụ sở tại Montréal, Canada nói đến những khẩu hiệu trống rỗng : « đẩy mạnh tiến trình cải tổ », « nâng cao tiêu thụ nội địa », « phát huy tốt hơn vai trò của cơ chế thị trường » tạo môi trường « công bằng và có sức sống mạnh hơn », « tối ưu hóa năng suất và tối đa hóa hiệu quả phân phối các nguồn lực ».
Alex Payette : « Có một số điểm thú vị. Văn bản này cho thấy giới lãnh đạo ở Bắc Kinh bắt mạch đúng tình hình, họ ý thức là có nhiều việc phải làm và có thiện chí để thay đổi tình thế. Tuy nhiên tất cả chỉ dừng lại ở đó, tức là các giới chức Trung Quốc ghi nhận vấn đề mà không đưa ra bất kỳ một giải pháp nào để khắc phục tình trạng này cả. Điều đó khiến các nhà quan sát thất vọng. Tôi xin đơn cử thí dụ Trung Quốc tuyên bố muốn đẩy mạnh hợp tác với quốc tế, cởi mở hơn để thu hút thêm đầu tư và doanh nhân nước ngoài, Trung Quốc cũng chủ trương đẩy mạnh các phát minh để tạo đà cho tăng trưởng, kích thích tiêu thụ nội địa… Nhưng đó là những mục tiêu được đưa ra sau Hội Nghị Trung Ương lần này, nhưng hoàn toàn không có gì mới mẻ bởi từng được đưa ra từ nhiều năm nay. Trong khi đó kinh tế của Trung Quốc cần có những biện pháp mới để thích nghi với tình huống -mà theo tôi thì nhẽ ra Bắc Kinh cần đổi mới từ 4 hay 5 năm nay chứ không phải đợi đến bây giờ … »
Ưu tiên của Bắc Kinh vẫn là an ninhVẫn theo Alex Payette vào lúc kinh tế Trung Quốc đang bị một cuộc khủng hoảng địa ốc, giảm phát, khủng hoảng niềm tin của người tiêu dùng đe dọa thì nghị quyết của Ban Chấp Hành Trung Ương năm nay lại tập trung vào vế « tăng cường an ninh quốc gia »
Alex Payette : «Tôi nghĩ là Trung Quốc cần tạo một lực đẩy cho kinh tế. Bây giờ không phải là lúc để tiếp tục tập trung vào mục tiêu bảo vệ an ninh cho chế độ. Càng chăm lo vào vế an ninh, Trung Quốc càng gây khó khăn cho vế phát triển kinh tế. Hơn nữa Trung Quốc thực sự cần có những cơ cấu vững chắc để thu hút các doanh nhân nước ngoài, khuyến khích họ trở lại Hoa Lục. Bởi vì có như thế Bắc Kinh mới tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài mạnh dạn trở lại Trung Quốc, mở cơ sở kinh doanh… Chính đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài sẽ kéo lĩnh vực kinh tế tư nhân của Trung Quốc đi lên. Nhờ thế mới hy vọng là Trung Quốc lại có những tập đoàn lớn trỗi dậy, có những Alibaba hay ANT Financial khác nữa… Trong những điều kiện hiện tại không mấy ai muốn lao vào cuộc, mở doanh nghiệp… để rồi một ngày nào đó họ lại bị đưa ra trước vành móng ngựa hay là công ty của họ bị chia năm xẻ bảy…
Kinh tế tư nhân dưới sự kiểm soát của nhà nướcVẫn đồng sáng lập viên cơ quan tư vấn Cercius trụ sở đặt tại Montréal, ghi nhận bản nghị quyết kết thúc Hội Nghị Trung Ương 3 của Trung Quốc vừa qua đã dành hẳn 2 chương đề cao vai trò của lĩnh vực kinh tế tư nhân và « quyết tâm hỗ trợ » các doanh nghiệp tư nhân nhưng ngay trong khổ đầu tiên của chương này, Bắc Kinh nhấn mạnh đó phải là một sự « phát triển dưới sự kiểm soát » của Đảng và Nhà nước.
Một điểm đáng chú ý khác là cụm từ « hiện đại hóa » đất nước theo mô hình Trung Quốc cũng đã được nhắc lại hầu như trong mỗi đoạn của văn bản chính thức kết thúc Hội Nghị Trung Ương 3. The Economist ghi nhận một lần nữa giới lãnh đạo ở Bắc Kinh bị mục tiêu phát triển công nghệ và dựa trên « phát minh » để hiện đại hóa cỗ máy kinh tế của nước này ám ảnh. Điều đó phản ánh « suy nghĩ » của ông Tập Cận Bình cho rằngTrung Quốc đang bị một cuộc « cách mạng về công nghệ của thế giới bao vây » và do vậy đảng Cộng Sản dưới sự lãnh đạo của ông phải thoát ra khỏi vòng vây đó.
Theo Alex Payette, đảng Cộng Sản Trung Quốc như vậy muốn kiểm soát tất cả và đối với công luận ở trong và ngoài nước, đây không là một tín hiệu tốt.
Vào lúc mọi người chờ đợi Hội Nghị Trung Ương vừa qua thông báo những biện pháp kích thích tiêu thụ nội địa, ngăn chận hiện tượng giảm phát tai hại, thì tài liệu chính thức chỉ gián tiếp nói đến việc khắc phục hậu quả kèm theo từ khủng hoảng địa ốc, chẳng hạn như cam kết Trung Ương sẽ không ban hành thêm các khoản thuế khóa, tránh gây thêm gánh nặng cho các chính quyền ở cấp địa phương…
Đấu đá nội bộ và « cái Tôi » quá lớn của họ TậpVề câu hỏi tại sao trước tình hình bị cho là khá cấp bách, Bắc Kinh lại chậm đưa ra những liều thuốc để vực dậy kinh tế, chuyên gia người Canada Alex Payette giải thích đây trước hết là một vấn đề chính trị, và hiện tại ở Trung Quốc, nhân vật quyền lực nhất là ông Tập Cận Bình dường như không có ý định thay đổi đường lối, tức là cần « kiên định không dời khỏi con đường phát triển chính trị chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, kiên trì và hoàn thiện chế độ chính trị căn bản » của quốc gia này.
Alex Payette : « Đúng là Trung Quốc cần đưa ra những biện pháp cụ thể để vực dậy kinh tế nhưng đấy thường là những gì đi ngược lại với ý của ông Tập Cận Bình, thành thử khó để nói đến một chương trình cải tổ, theo mô hình kinh tế theo thị trường… Thay vào đó, giới lãnh đạo ở Bắc Kinh sau Hội Nghị Trung Ương vừa qua có khuynh hướng trở về với thời kỳ của Mao Trạch Đông. Trong lĩnh vực nông nghiệp chẳng hạn, báo cáo kết thúc hội nghị nhấn mạnh đến việc mở rộng vai trò của hợp tác xã, thúc đẩy và khuyến khích các văn phòng quản lý nông nghiệp nỗ lực hơn trong mục tiêu phát triển nông nghiệp Trung Quốc… Làm thế nào để giới tư bản nước ngoài tin tưởng để đầu tư vào Hoa Lục trước những biện pháp phi kinh tế thị trường như vậy ? Các doanh nghiệp nước ngoài thận trọng khi mà Bắc Kinh nói một đàng, làm một nẻo ».
Bản nghị quyết kết thúc Hội Nghị Trung Ương 3 vừa qua chỉ là một danh sách « những điều cần làm » và thể hiện những mâu thuẫn trong những mục tiêu mà Trung Quốc muốn hướng tới, và đã không trấn an các đối tác kinh tế tại Hoa Lục và các nhà đầu tư nước ngoài, theo Alex Payette, bởi Trung Quốc đang đứng trước « một vấn đề rất lớn » :
Alex Payette : « Đương nhiên là có một sự đấu đá ở bên trong, chính vì thế mà trong tài liệu được công bố sau Hội Nghị Trung Ương vừa qua đã có rất nhiều thứ, liên quan đến rất nhiều chủ đề, bao phủ lên nhiều lĩnh vực. Nhưng không có gì cụ thể cả. Khóa họp vừa rồi chỉ ghi nhận vấn đề, đưa ra những khẩu hiệu chung chung, tản mạn… mà không thể tìm ra được một tiếng nói chung, dù chỉ là trên một vài chủ đề cụ thể. Điều đó chứng tỏ là nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc có nhiều ý kiến khác nhau và không ai dám lên tiếng vì họ sợ rằng ông Tập Cận Bình chưa sẵn sàng cho một cuộc cải tổ thực sự. Theo tôi thì đảng Cộng Sản Trung Quốc đang bị chia ra thành ba nhóm : nhóm thứ nhất ý thức được là kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn và cần phải điều chỉnh lại chính sách, nhưng số này bất lực vì tiếng nói của họ không được lắng nghe. Nhóm thứ nhì, biết là có vấn đề nhưng không muốn thay đổi và còn nghe ngóng, đón bắt ý kiến chỉ đạo của Tập Cận Bình. Nhóm thứ ba cũng thừa biết là kinh tế đang bị trục trặc nhưng đối với họ thì sự tồn tại của Đảng mới là ưu tiên và họ vẫn tập trung mọi nỗ lực củng cố vị thế của Đảng. Không chắc đây là điều tốt cho kinh tế của Trung Quốc ở thời điểm này ».
Trong một bài tham luận đăng trên báo mạng Asialyst hôm 03/08/2024 Alex Payette nêu lên một điểm thú vị khác liên quan đến cá nhân ông Tập : từ khóa 19 Tập Cận Bình đã muốn gột tẩy tên người tiền nhiệm Đặng Tiểu Bình khỏi hai chữ Cải Tổ. Ông cũng không muốn đi vào sử sách như một người tiếp nối công cuộc cải tổ của họ Đặng mà muốn Tập Cận Bình phải là « trung tâm » của cuộc cải tổ kinh tế, hiện đại hóa đất nước. Do vậy trong tài liệu chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc được công bố sau Hội Nghị Trung Ương 3, Trung Quốc nói đến tiến trình « Cải tổ của một thời đại mới ».
Kinh tế, ưu tiên số 3 sau chính trị và địa chính trịBáo Nhật Bản The Diplomate hôm 01/08/2024 cũng nêu bật nhiều lý do khiến mọi người cần thận trọng với những ý định của Trung Quốc sau hội nghị trung tuần tháng 7 vừa rồi : thứ nhất 60 chương và 300 cam kết để cải thiện tình hình kinh tế cho đất nước trong văn bản lần này không có gì mới mẻ so với những cam kết và mục tiêu cũng chính Tập Cận Bình đã đề ra nhân Hội Nghị Trung Ương 3 khóa 18 (năm 2013).
Điểm thứ nhì là văn bản này chỉ đưa ra những đường lối chung chung, những hứa hẹn và cam kết mà không có bất kỳ một điều gì bảo đảm là Trung Quốc thực hiện được một phần những mục tiêu đó trước năm 2029.
Sau cùng văn bản này có đầy những mâu thuẫn khi mà dưới thời đại Tập Cận Bình « cải tổ » và « mở cửa » không thu hẹp ở phạm vi kinh tế mà còn bao hàm cả chủ trương « tăng cường khả năng tự chủ của Trung Quốc trong trường hợp xảy ra khủng hoảng hay xung đột vũ trang ». Đó mới là mục tiêu chính của Hội Nghị Trung Ương 3 năm nay và trong mục tiêu đó « đại đa số người dân Trung Quốc và các doanh nghiệp tư nhân đừng hy vọng sớm được trông thấy điều kiện của họ được cải thiện ». Nói cách khác kinh tế chỉ đứng hạng thứ ba trong số những ưu tiên của đảng Cộng Sản Trung Quốc, sau những mục tiêu chính trị và địa chính trị.
From the publisher's feed
Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

221 Listeners

2 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

25 Listeners

2 Listeners

7 Listeners

5 Listeners

12 Listeners

7 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

46 Listeners

1 Listeners

24 Listeners

6 Listeners