Tạp chí Kinh Tế

Tạp chí Kinh Tế

By RFI Tiếng ViệtBusiness
Download on the App Store

Tạp chí Kinh Tế episodes

  • Thấy gì từ việc Trung Quốc tích trữ vàng ?

    Năm 2023, một phần tư lượng vàng mà tất cả các Ngân Hàng Trung Ương trên thế giới mua vào, đã đổ về kho dự trữ của Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc tại Bắc Kinh. Có thêm 230 tấn, kho vàng của định chế này trong một năm tăng thêm 10 %. Làm sao giải thích cơn sốt vàng tại Trung Quốc, tiền đề cho tiến trình « phi đô la hóa » ? Trước chiến tranh Ukraina, Nga cũng đã tập trung tích trữ vàng. 

    Trung Quốc đang đẩy giá vàng lên cao, hiện dao động ở ngưỡng 2.300 -2.400 đô la/Oz (1 ounce Oz = 28,34 gram). Những biến động về địa chính trị trên thế giới, cộng thêm với dự báo Cục Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ, Fed hạ lãi suất chỉ đạo khiến « vàng » càng trở nên hấp dẫn.

    Trung Quốc, nam châm hút vàng của thế giới

    Tính đến tháng 5/2024, Trung Quốc trong 18 tháng liên tiếp « trang bị thêm vàng » cho quỹ dự trữ của Ngân Hàng Trung Ương. Trong tháng 1 và 2/2024, một mình Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc mua thêm 22 tấn vàng, như báo cáo của hiệp hội World Gold Council ghi nhận. Trong cả năm 2023, định chế này mua vào 225 tấn vàng : một kỷ lục! 

    Hiện tại, 2.257 tấn vàng đang ngủ yên trong quỹ dự trữ của Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc. RFI tham khảo ý kiến của bà Isabelle Feng, chuyên về tài chính, ngân hàng thuộc trung tâm nghiên cứu Perelman, Đại Học Bruxelles của Bỉ để hiểu thêm về cơn sốt vàng tại Trung Quốc. Bà Isabelle Feng cũng là cộng tác viên của Trung Tâm Nghiên Cứu về châu Á, Asia Center, tại Paris :

    « Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đã rất năng động trên thị trường. Năm 2023, Trung Quốc mua vào hơn 200 tấn vàng, một kỷ lục trên thế giới như vừa nói, nâng dự trữ vàng trong kho lên thành hơn 2000 tấn. Nhưng khi nhìn sâu hơn vào vấn đề, chúng thấy Bắc Kinh cần tích trữ vàng vì ba lý do : một là để giảm thiểu mức độ phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ ; hai là giữ giá cho đơn vị tiền tệ của Trung Quốc vào lúc mà đồng nhân dân tệ đang bị trượt giá so với đô la. Lý do thứ ba là lượng vàng trong kho dư trữ của Ngân Hàng Trung Ương là một biểu tượng của sức mạnh kinh tế. Tại các nước phát triển, trung bình kho vàng tương đương với từ 17 đến 20 % toàn bộ tài sản quốc gia. Năm 2022, có ba quốc gia trên thế giới là Mỹ, Đức và Ý nắm giữ một khối lượng vàng tương đương với 60 % quỹ dự trữ của Ngân Hàng Trung Ương ; Pháp là 40 %. Trong khi đó, dù đã mua vào rất nhiều vàng trong thời gian gần đây, khối vàng của Trung Quốc mới chỉ tương đương với 4,6 %. Đó là một tỷ lệ rất, rất thấp. Để so sánh, trước khi nổ ra chiến tranh Ukraina, kho vàng của Nga tương đương với 1/3 quỹ dự trữ ».

    680 tấn vàng để tiết kiệm

    Vẫn theo World Gold Council, cũng trong năm 2023, bên cạnh khối lượng hơn 220 tấn vàng Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc nắm giữ, còn phải kể đến 680 tấn vàng người dân Trung Quốc tích lũy dưới dạng vàng lá, vàng thoi và nhất là nữ trang. Và đây cũng là một kỷ lục.

    Theo bảng xếp hạng trên thế giới, Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có truyền thống mua vàng nhiều nhất, nhưng năm ngoái, nhu cầu sắm nữ trang ở Trung Quốc tăng thêm 10 % thì trái lại, dân Ấn Độ có vẻ lơ là hơn : tiêu thụ tại quốc gia nam Á này giảm 6 % trong năm 2023. Isabelle Feng nhấn mạnh đến nét đặc thù của thị trường vàng ở Trung Quốc :

    « Nguồn mua vàng đầu tiên, cho đến hiện tại là chính phủ, thế nhưng trong thời gian gần đây, báo chí nói nhiều đến hiện tượng tư nhân đua nhau tích trữ vàng, họ mua nữ trang. Điều này phản ánh thực trạng kinh tế của Trung Quốc và có nhiều cách biệt so với 5 năm trước đây. Kinh tế Trung Quốc giờ đây ảm đạm vì khủng hoảng địa ốc kéo dài, do tăng trưởng bị hủy hoại sau ba năm Trung Quốc đóng cửa kinh tế để chống dịch. Theo các báo cáo của chính phủ, hồi năm 2022, lĩnh vực địa ốc chiếm 70 % tài sản của một hộ gia đình. Giá nhà đất sụt giảm coi như dân chúng bị khánh tận. Do vậy, những ai còn một chút khả năng, tôi xin nhấn mạnh ở điểm này, thì họ tập trung mua vàng. Đây là cách duy nhất để tiết kiệm, bởi vì người ta không còn tin tưởng vào tương lai, vào các sàn chứng khoán… Các thị trường chứng khoán mất giá mạnh trong thời gian gần đây. Ngay cả sàn giao dịch Hồng Kong cũng đã mất giá 40 % so với cách nay 5 năm.

    (...) Thêm một yếu tố khác nữa là người dân Trung Quốc bị giới hạn trong việc mua vào ngoại tệ. Theo quy định, hàng năm, mỗi người chỉ được mua vào tối đa 50.000 đô la. Tức là nếu có nhiều tiền, người ta cũng không thể tích trữ được ngoại tệ quá ngưỡng 50.000 đô la đó. Thành thử vàng là phương tiện cuối cùng để tiết kiệm tiền, khi mà công luận không còn tin tưởng vào các doanh nghiệp… »

    Theo các thống kê, « trong 2 năm qua Trung Quốc nhập khẩu hơn 2800 tấn vàng, tương đương với 1/3 khối vàng Hoa Kỳ đang được cất giữ trong kho của Federal Reserve ». Như chuyên gia Feng vừa nêu, trong bối cảnh giá vàng trên thị trường quốc tế đang cao, đồng nhân dân tệ Trung Quốc mất giá so với đô la, kinh tế Trung Quốc ảm đảm vậy mà một phần dân chúng vẫn đua nhau mua vàng. Điều đó cho thấy trong ngắn hạn, bản thân người dân Trung Quốc cũng không mấy tin tưởng vào tăng trưởng của nước nhà và điều này phản ánh tâm trạng bi quan của xã hội.

    Vàng : mục tiêu phi đô la hóa

    Trở lại với cơn sốt vàng của Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc, theo hãng tin Mỹ Bloomberg, song song với hiện tượng nói trên, Bắc Kinh liên tục bán bớt một phần công trái phiếu của Mỹ mà họ đang nắm giữ.

    Đầu năm 2024, Trung Quốc chỉ còn nắm giữ 775 tỷ đô la công trái phiếu của Mỹ, thay vì 1.100 tỷ như cách nay ba năm. Hãng tin Đức Deutsche Welle nhắc lại, như hầu hết các quốc gia trên thế giới, « Trung Quốc lệ thuộc nhiều vào đô la trong các khoản giao dịch thương mại » và nhất là đến nay đô la Mỹ vẫn là thước đo lường trong các hoạt động xuất nhập khẩu năng lượng và nguyên liệu, được dùng để thanh toán « 50 % tổng trao đổi thương mại toàn cầu ». Cơn sốt vàng của Trung Quốc do vậy được hiểu như là bước đầu để Bắc Kinh « cai nghiện đô la ».

    Cùng với động tác từng bước tách rời khỏi quỹ đạo của đô la Mỹ, Trung Quốc vận động khối các nền kinh tế đang trỗi dậy BRICS, các nước đang phát triển và giao thương nhiều với Trung Quốc sử dụng đồng nhân dân tệ nhiều hơn. Lý do chính là Bắc Kinh cũng như nhiều nước « phương Nam » đã rút ra được những bài học từ kinh nghiệm của Nga bị Âu Mỹ trừng phạt vì xâm chiếm Ukraina.

    Do vậy, như chuyên gia Isabelle Feng vừa nêu, Trung Quốc đang thực hiện mục tiêu áp đặt đơn vị tiền tệ của mình để củng cố vị thế kinh tế và địa chính trị với phần còn lại của thế giới : Nhờ có đồng đô la mà Hoa Kỳ đi vay với lãi suất rẻ hơn bất kỳ một quốc gia nào khác. Washington lại rộng đường sử dụng đơn vị tiền tệ này như một công cụ ngoại giao, thậm chí là vũ khí để áp đặt các lệnh trừng phạt với những đối thủ - và kể cả với các đồng minh, của Hoa Kỳ.

    Tách rời khỏi đô la vì một ý đồ quân sự ?  

    Giới phân tích nhận định : « Chắc chắn là yếu tố quyết định, khiến các ngân hàng trung ương trên thế giới đa dạng hóa các nguồn dự trữ ngoại tệ ». Chủ tịch Tập Cận Bình đã nhiều lần khẳng định mục tiêu thống nhất Đài Loan kể cả bằng sức mạnh quân sự. Điều đó khiến một số nhà quan sát nhắc lại là trước khi quyết định xâm chiếm Ukraina, Matxcơva từ 2008, sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã lặng lẽ tích trữ vàng, chiến lược này đã tăng tốc từ sau khi Nga thôn tính bán đảo Crimée của Ukraina hồi năm 2014. Hiệp hội World Gold Council nhắc lại, trong giai đoạn 2014-2022 Ngân Hàng Trung Ương Nga đứng đầu bảng trong số các nguồn tiêu thụ vàng của thế giới và hiện tại, nước Nga nắm giữ hơn 2.300 tấn vàng, tương đương với « 20 % dự trữ vàng của các Ngân Hàng Trung Ương trên thế giới ». 

    Vậy phải chăng Bắc Kinh cũng đang tích trữ vàng để chuẩn bị cho kịch bản đối đầu quân sự với phương Tây ? Isabelle Feng phân tích :

    « Trung Quốc đã trông thấy phương Tây mạnh tay trừng phạt kinh tế Nga như thế nào một khi Matxcơva đưa quân sang Ukraina. Đương nhiên là chúng ta thường nghĩ rằng đây là một bài học quý giá đối với Trung Quốc, khi biết rằng Bắc Kinh có tham vọng thôn tính Đài Loan. Rất có thể là Trung Quốc chuẩn bị cho kịch bản đó và muốn độc lập với quỹ đạo đô la của Hoa Kỳ.

    Nhưng xin lưu ý một số những khác biệt giữa trường hợp của Nga và Trung Quốc : như vừa nói, một phần nhu cầu mua vàng của Trung Quốc là do người dân bình thường muốn tiết kiệm. Họ xem vàng là một phương tiện dự trữ an toàn. Điểm thứ nhì là Trung Quốc không bị cô lập như Nga. Từ năm 2014, khi Nga thôn tính bán đảo Crimée, Âu - Mỹ đã ban hành các biện pháp trừng phạt Matxcơva. Với Bắc Kinh thì hoàn toàn khác : Trung Quốc không bị cô lập. Năm 2016 đồng nhân dân tệ tham gia rổ tiền tệ của quỹ IMF, được công nhận là quyền rút vốn đặc biệt tương tự như đô la Mỹ, euro của châu Âu, yen của Nhật Bản hay đồng franc Thụy Sĩ.

    Do vậy, theo tôi, Trung Quốc tích trữ vàng chủ yếu là để thực hiện ý đồ phi đô la hóa, để ổn định đơn vị tiền tệ quốc gia và nhất là để khẳng định vị thế kinh tế của mình ».

    10 min
  • Công nghiệp : Trung Quốc trong thế đối đầu với Liên Âu

    Không có dấu hiệu hòa hoãn giữa Bắc Kinh với Bruxelles về thương mại và ngoại giao sau chuyến công du châu Âu đầu tiên của lãnh đạo Trung Quốc từ sau đại dịch Covid-19. Vẫn cần giữ thị trường châu Âu, ông Tập Cận Bình cảnh cáo Liên Âu nên « đánh giá đúng đắn về Trung Quốc » khi bị cáo buộc cạnh tranh bất bình đẳng. Bắc Kinh tiếp tục đẩy mạnh chiến lược phát triển công nghiệp mũi nhọn nhờ khai thác những nhược điểm của châu Âu.

    Ngày 10/05/2024 chủ tịch Tập Cận Bình kết thúc vòng công du ba nước châu Âu với các chặng dừng tại Pháp, Serbia và Hungary. Tiếp đón lãnh đạo Trung Quốc tại thủ đô Budapest, thủ tướng Hungary Viktor Orban, một thành viên của Liên Âu đã mạnh mẽ tuyên bố : « Thế giới đa cực đã có một trật tự mới mà ở đó Trung Quốc là một trong những cột trụ. Quốc gia này định hướng cho các hoạt động kinh tế và chính trị của thế giới ». Theo chuyên gia Pháp về Trung Quốc, Valérie Niquet, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược FRS câu nói này của Viktor Orban « là tất cả những gì Tập Cận Bình chờ đợi ».

    Trung Quốc trực tiếp đối đầu với Liên Âu

    Trung Quốc, Liên Âu và toàn cảnh thế giới đã có nhiều thay đổi trong 5 năm qua, từ lần cuối chủ tịch Tập Cận Bình đặt chân lên Lục Địa Già : sau đại dịch Covid Trung Quốc không còn là điểm đầu tư lý tưởng trong măt các doanh nghiệp phương Tây. Bruxelles và Washington cùng chủ trương giảm lệ thuộc vào hàng hóa Trung Quốc, « giảm thiểu rủi ro » khi Trung Quốc đã trở thành mắt xích quá lớn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

    Bản thân Trung Quốc từ 2019 đến nay cũng đã trải qua nhiều thay đổi : Cuộc đọ sức Mỹ -Trung không hề thuyên giảm và Hoa Kỳ từng bước khép chặt cửa với công nghệ cao của Trung Quốc. Cùng lúc, kế hoạch « Made in China 2025 » bắt đầu đem lại kết quả. Trung Quốc đã trở thành một cường quốc công nghiệp cao cấp, mà điển hình là đang dẫn đầu thế giới trong ngành ô tô điện và pin mặt trời.

    Về đối nội, trái với mong đợi, tăng trưởng tại Trung Quốc không khởi sắc trở lại sau 3 năm đóng cửa chống dịch và khủng hoảng niềm tin vào tương lai làm thui chột tiêu thụ nội địa. Lối thoát còn lại là xuất khẩu. Do vậy giám đốc đặc trách về Châu Á Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI Marc Julienne trên đài phát thanh France Info hôm 06/05/2024 nhấn mạnh đến trọng lượng kinh tế và thương mại của Liên Âu đối với khu vực sản xuất và xuất khẩu của Trung Quốc hiện tại :

    « Kinh tế Trung Quốc đã bị chặt mất một chân vì khủng hoảng địa ốc. Thêm vào đó là thất nghiệp rất cao nơi giới trẻ. Bắc Kinh đang đối mặt với nhiều khó khăn kinh tế. Khách hàng số 1 của Trung Quốc là Liên Hiệp Châu Âu và thị trường lớn thứ nhì là Mỹ. Nhưng Hoa Kỳ đã từng bước đóng cửa với hàng của Trung Quốc đặc biệt là cấm nhập khẩu ô tô điện do Trung Quốc sản xuất, cấm sử dụng công nghệ thông tin của Hoa Vi… Thành thử, vai trò của Liên Âu lại càng lớn hơn trong mắt các nhà sản xuất Trung Quốc so với trước đây ».

    Nhà nghiên cứu Yu Jie, chuyên gia về Châu Á Thái Bình Dương Viện Nghiên Cứu Quốc Tế Hoàng Gia Anh -Chatham House (09/05/2024) ghi nhận chủ tịch Tập Cận Bình trở lại châu Âu vào thời điểm « mô hình kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn chuyển tiếp (…) lấy xuất khẩu hàng công nghiệp cao cấp làm kim chỉ nam (…) mà Liên Âu là một thị trường tiêu thụ mang tính sống còn ». Đồng thời trong tiến trình chuyển đổi đó, các doanh nghiệp Trung Quốc trực tiếp đối đầu với các đại tập đoàn của châu Âu.

    Bắc Kinh hoàn toàn ý thức được rằng Liên Âu đang bị chiến tranh Ukraina chi phối, 27 thành viên khối này vẫn phải đối mặt với lạm phát từ cuộc chiến Nga gây nên và vẫn chưa hoàn toàn phục hồi sau khủng hoảng y tế xuất phát từ Vũ Hán.

    Trả lời đài truyền hình Pháp France24 (ngày 10/05/2024) chuyên gia Isabelle Feng, trung tâm nghiên cứu Perelman, Đại Học Bruxelles - Bỉ cho rằng, Paris chặng dừng đầu tiên vòng công du ba nước châu Âu của chủ tịch Trung Quốc vừa qua, về mặt chính thức là để kỷ niệm 60 năm quan hệ song phương nhưng, giá trị thực sự của nước Pháp trong mắt ông Tập là trọng lượng của Paris trong Liên Hiệp Châu Âu :   

    « Nếu nhìn đến đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc, năm 2023 chỉ số này đã rơi xuống mức thấp bằng với hồi 30 trước đây. Chuyến công du Pháp của ông Tập Cận Bình lần này cho thấy giai đoạn các bên rầm rộ thông báo ký kết những hợp đồng khổng lồ đã thuộc về quá khứ. Tuy nhiên Bắc Kinh muốn vận động để Liên Âu nới lỏng gọng kềm đối với hàng của Trung Quốc dễ dàng đổ vào thị trường châu Âu. Pháp không là một đối tác thương mại hàng đầu của Trung Quốc, chỉ là nguồn cung cấp đứng thứ 28 và xếp hạng 23 trong số các khách mua vào hàng của Trung Quốc. Đối với Paris, Bắc Kinh cũng không là một đối tác thương mại quá lớn bởi vì Trung Quốc chỉ mua vào có 4 % xuất khẩu của Pháp ra toàn thế giới. Nhưng tiếng nói của nước Pháp có trọng lượng trong Liên Hiệp Châu Âu vào lúc mà Bruxelles nhắm vào ô tô điện của Trung Quốc và ông Tập Cận Bình thì đang bận tâm vì khả năng sản xuất công nghiệp dư thừa của Trung Quốc và do vậy phải tìm cách thanh lý hàng tồn đọng …».

    « Trung Quốc không còn cần nhiều FDI của châu Âu »

    Theo báo cáo của Phòng Thương Mại Châu Âu tại Bắc Kinh công bố hôm 10/05/2024 các doanh nghiệp châu Âu không còn xem Trung Quốc là một điểm đến lý tưởng : chỉ có 13 % những doanh nhân được hỏi vẫn gắn bó với Hoa Lục. Cuối 2022 tỷ lệ này là 25 %. Một trong những lý do giải thích cho khác biệt nói trên là « tính thiếu minh bạch » của luật pháp Trung Quốc về luật đầu tư nước ngoài, là sức mua kém hấp dẫn của thị trường với gần 1,5 tỷ dân, là căng thẳng kinh tế và thương mại với Hoa Kỳ và sự thận trọng của Liên Âu.

    Denis Jacquet, sáng lập viên chương trình Top Cream chuyên tổ chức hội thảo dành riêng cho giới doanh nhân không ngạc nhiên trước hiện tượng đầu tư vào Trung Quốc sụt giảm mạnh :  

    « Thực ra Trung Quốc không còn cần đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều như trước nữa –đương nhiên là vẫn cần chứ không phải là không, nhưng Trung Quốc đã có những bước tiến dài trong nhiều lĩnh vực và không còn phải dựa vào công nghệ, vào kiến thức của Liên Âu nữa. Điều không tưởng là giờ đây chính nước Đức đã phải học hỏi Trung Quốc trong một số lĩnh vực. Trung Quốc đã tự sản xuất được ô tô điện, được máy bay. Họ tự chế tạo được tên lửa và làm chủ trí tuệ nhân tạo… đương nhiên là một khi đã học hỏi được rất nhiều sau khi chiêu dụ các doanh nghiệp Âu Mỹ vào làm ăn thì giờ đây, Trung Quốc không còn cần đến các hãng ngoại quốc nữa nên đã 'mời' các doanh nhân ngoại quốc đi chỗ khác chơi »

    Tại sao phải nhượng bộ Liên Âu ?

    Theo Eric Le Boucher của tờ báo có khuynh hướng tự do và thiên hữu L’Opinion (12/05/2024) chỉ riêng về kinh tế và thương mại, Trung Quốc đã không hề nhượng bộ Liên Hiệp Châu Âu bất kỳ điều gì. Tháng trước thủ tướng Đức một thân một mình đến Bắc Kinh với hy vọng cứu vãn một số lợi ích của các hãng xe hơi nổi tiếng của Đức như BMW hay Mercedes, cứu vãn lợi ích của các công ty sản xuất máy móc sử dụng trong công nghiệp. Olaf Scholz vẫn kỳ vọng vào « quan hệ kinh tế đặc biệt song phương » để thúc đẩy tăng trưởng cho « đầu tàu công nghiệp » của Liên Hiệp Châu Âu.

    Thủ tướng Scholz ra về với kết quả không nhiều, bởi « Trung Quốc đang đương đầu với Mỹ về công nghệ kỹ thuật số, cạnh tranh trực tiếp với Đức về công nghiệp xe hơi, về robot, về máy móc … và đang chiếm lợi thế nhờ đang dẫn đầu cuộc đua trong lĩnh vực ô tô điện ». Vậy ông Tập Cận Bình có cần nhượng bộ Bruxelles trước đe dọa xe điện của Trung Quốc bị Liên Âu điều tra cạnh tranh bất bình đẳng hay không ? Trái lại giờ đây, Bắc Kinh đang có kế hoạch đẩy mạnh đầu tư vào một số nước tại Châu Âu, như Hungary chẳng hạn, để cạnh tranh ngược lại với các hãng xe hơi của Đức. 

    Tại Paris tuần qua, lãnh đạo Bắc Kinh đã tỏ ra rất « mơ hồ » khi nguyên thủ Pháp yêu cầu Trung Quốc ngừng cung cấp thiết bị điện tử giúp Nga chế tạo vũ khí để phục vụ trên chiến trường Ukraina. Tổng thống Emmanuel Macron, rồi cả chủ tịch Ủy Ban Châu Âu Ursula Von Der Leyen đã nhận được gì khi mạnh dạn đòi Trung Quốc ngừng trợ giá cho ô tô điện và pin mặt trời để xuất khẩu ồ ạt cả hai mặt hàng này sang thị trường châu Âu ?

    Giới quan sát đồng loạt cho rằng Bruxelles không còn « ngây thơ » hay dễ dãi với các nhà đầu tư Trung Quốc như trước nữa. Do vậy theo nhà nghiên cứu Yu Jie của Viện Chatham House, Luân Đôn « chủ đích của ông Tập là tránh để quan hệ với châu Âu xấu đi thêm ». Chủ tịch Trung Quốc đồng thời « khai thác những chia rẽ trong nội bộ Liên Âu (…) để phát huy tầm nhìn của Bắc Kinh về một thế giới đa cực ».

    Thâm nhập Liên Âu bằng lỗ hổng Hungary và đánh đường vòng qua Serbia

    Điển hình là sau Pháp, « tiếng nói mạnh mẽ và riêng biệt trong đại gia đình châu Âu » ông Tập Cận Bình đã bay tiếp sang Serbia và Hungary. Beograd là một mắt xích trong kế hoạch Một Vành Đai Một Con Đường. Bắc Kinh đã đầu tư hơn 11 tỷ đô la vào quốc gia trong vùng Balkan này trong giai đoạn 2009-2021. 

    Còn Budapest thành viên « bướng bỉnh trong Liên Âu », dưới chính quyền của thủ tướng Orban, Hungrary ngăn chận Liên Âu lên án Bắc Kinh bóp ngạt các quyền tự do tại Hồng Kông. Vào lúc Bruxelles điều tra để đánh thuế ô tô điện Trung Quốc thì thủ tướng Orban đón nhận đầu tư của hãng xe BYD như « một món quà tặng » ông Tập đem lại. Báo tài chính Nhật Bản Nikkei Asia nhận xét Liên Hiệp Châu Âu bị ám ảnh trước khối lượng ô tô Trung Quốc đang tồn đọng trên các bến cảng Anvers và Zeebruges của Bỉ chờ thâm nhập thị trường châu Âu. Nhưng đó chỉ là « một cái cây che khuất cánh rừng » bởi một khi mà các hãng xe Trung Quốc mở nhà máy lắp ráp tại châu Âu thì đó cũng là hồi kết của cả ngành công nghiệp xe hơi châu Âu.

    Trong vài năm sức mạnh của các nhà sản xuất pin mặt trời Trung Quốc đã « loại gần hết các con chim đầu đàn trong ngành của châu Âu ». Nhà kinh tế Anthony Morlet Lavidalie công ty tư vấn Rexecode trụ sở tại Paris báo động « Trung Quốc đang vươn lên trong rất nhiều những lĩnh vực công nghiệp cao cấp nơi mà tới nay châu Âu luôn dẫn đầu ».

    Theo giáo sư kinh tế đại học Clermont-Auvergne, Mary Françoise Renard trên đài truyền hình France24 bất cân đối trong cán cân thương mại giữa Liên Hiệp Châu Âu và Trung Quốc giờ đây là hậu quả từ những tính toán sai lầm trong chiến lược phát triển của Bruxelles :

    « Liên Hiệp Châu Âu không ngây thơ mà chỉ là Bruxelles đã mải miết lo phục vụ những lợi ích ngắn hạn của khối này cho nên Liên Âu đã không có hẳn một chính sách công nghiệp về lâu dài. Hơn nữa, trong lúc Mỹ, hay Trung Quốc là một quốc gia, thì Liên Âu là một khối với 27 thành viên với những lợi ích riêng biệt và khối này không phải lúc nào cũng đồng lòng với nhau do vậy khó mà có một tiếng nói chung để rồi Liên Âu bị đặt trước sự đã rồi ».

    Vào lúc Hoa Kỳ đã có đạo luật IRA (Inflation Reduction Act) để ngăn chận hàng Trung Quốc ồ ạt đổ vào Hoa Kỳ thì Liên Hiệp Châu Âu vẫn loay hoay đi tìm một lối thoát để không bị cuốn vào vòng xoáy của hàng cao cấp « made in China ». Ít bi quan hơn, kinh tế gia Elvire Fabry viện nghiên cứu châu Âu Jacques Delors cho rằng, Liên Hiệp Châu Âu bắt đầu tự vệ nhưng tránh áp dụng các biện pháp bảo hộ, tránh vượt ra ngoài khuôn khổ của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới và do vậy Pháp đang vận động vì một mối quan hệ mới với Trung Quốc dựa trên nguyên tắc « réciprocité- có đi có lại ».

    Trước mắt nếu như cả Pháp lẫn Liên Âu cùng không đạt được bất kỳ một nhượng bộ nào sau chuyến công du vừa qua của ông Tập Cận Bình trên vế thương mại thì chí ít, như bà Niquet bên Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược Pháp nhận định, Liên Hiệp Châu Âu đã trông thấy rõ hơn những nhược điểm của mình và qua đó là những thách thức phải vượt qua để tồn tại.  

    10 min
  • Singapore : Bề dày di sản kinh tế 20 năm của thủ tướng Lý Hiển Long

    Chuẩn bị khép lại 20 năm thời kỳ Lý Hiển Long, Singapore với 5,6 triệu dân là một trung tâm nghiên cứu uy tín trong khu vực, là một trong những quốc gia có cơ sở hạ tầng phát triển đầy đủ nhất, là một trong 5 nước « giàu nhất » thế giới, là bãi đáp của nhiều tập đoàn đa quốc gia không quá xa Hoa Lục. Thành công đó gắn kết với một chính sách ngoại giao tinh tế giữa hai siêu cường thế giới là Mỹ và Trung Quốc, với vai trò đầu tàu của ASEAN.

     

    Singapore đã dễ dàng qua mặt Hồng Kông trở thành tâm tài chính, thương mại năng động nhất của châu Á. Tôn trọng những giá trị của một nhà nước pháp quyền, Singapore là điểm đầu tư có uy tín với phương Tây.

    RFI tiếng Việt mời nhà báo Nguyễn Giang, cựu biên tập viên BBC hiện nghiên cứu tại viện Đông Nam Á ISEAS- Yusof Ishak – Singapore cùng nhìn lại 20 năm thủ tướng Lý Hiển Long cầm quyền.

    *****

    Vào lúc ông Lý Hiển Long nhường lại chiếc ghế thủ tướng cho thế hệ lãnh đạo thứ tư là ông Hoàng Tuần Tài (Lawrence Wong), các nhà quan sát đồng loạt đánh giá rất cao những thành tích kinh tế của Singpapore trong 2 thập niên qua và không quên nhắc lại thân thế của thủ tướng mãn nhiệm.  

    Kinh tế Singapore sau 20 năm cầm quyền của PAP

    Là con trai cả của cố thủ tướng Lý Quang Diệu, trước khi lên lãnh đạo chính phủ, ông Lý Hiển Long từng điều hành các bộ Thương Mại và Công Nghiệp và cũng từng đảm nhiệm vai trò phó thủ tướng. Nhờ kinh nghiệm dày dặn đó, Singapore nay đang tiên phong trong nhiều lĩnh vực chứ không đơn thuần là một trung tâm tài chính của châu Á.

    Về nội trị; ông Lý Hiển Long cổ vũ cho các giá trị châu Á, được ghi vào Cương lĩnh của Đảng Nhân dân Hành động (PAP) cầm quyền. Chính sách của chính phủ là nâng cao vị thế của Singapore trong toàn cầu hóa, nhấn lạnh tính thực tiễn, thực dụng, vì sự hài hòa sắc tộc, văn hóa của các nhóm cư dân chính : người gốc Hoa, Mã Lai, Ấn Độ và hai nhóm nhập cư: giới chuyên gia có tay nghề cao và lao động phổ thông. 

    Nguyễn Giang : « Về kinh tế, ông Lý Hiển Long được ghi nhận là để lại một di sản đáng nể cho Singapore nhờ chiến lược đầu tư khôn ngoan, dài hạn và tạo vị thế đặc biệt về thương mại quốc tế thời Toàn cầu hóa. Ông dẫn dắt Singapore bước vào thế kỷ 21 trở thành một nền kinh tế hàng đầu thế giới về kỹ thuật số, dịch vụ tài chính, tiền tệ quốc tế, hải cảng quan trọng nhất Đông Nam Á. Khi ông rời vị trí lãnh đạo, Singapore có trong tay 1,77 nghìn tỷ USD trong các quỹ chủ quyền (sovereign funds) và 480 tỷ USD trong kho dự trữ ngoại tệ (tính đến tháng 2/2024).

    Đặc biệt là sau đại dịch Covid, Singaopore không hề hụt đi đồng nào mà còn có thặng dư ngân sách liên tiếp. Giới quan sát nói ông Lý Hiển Long đã khéo léo dẫn dắt Singapore chống chọi đại dịch Covid bằng chính sách trợ cấp cho dân, giãn thuế cho doanh nghiệp, đẩy mạnh số hóa, tiêm vaccine đại trà và linh hoạt trong cách phong tỏa chống Covid, rồi nhanh chóng mở lại sinh hoạt kinh tế.

    Có thể nói, sau đại dịch, Hong Kong vì bị Trung Quốc bắt đóng cửa lâu đã mất luôn vị thế một trung tâm tài chính quan trọng của châu Á. Cùng lúc Singapore giành được cơ hội đó để vươn lên, thu hút thêm nguồn đầu tư và nhận cả một phần nguồn nhân lực cao cấp của Hồng Kông di chuyển sang Singapore sinh sống, làm ăn ».

    Thách thức về kinh tế và dân số

    RFI : Thủ tướng Lý Hiển Long, thế hệ lãnh đạo thứ ba từ khi Singapore giành được độc lập năm 1965, để lại không ít thách thức cho đảo quốc này : Singapore nổi tiếng là nơi có đời sống đắt đỏ, thanh niên khó mà tìm được một mái nhà, dân số đang trên đà lão hóa và phải tuyển dụng 40 % lao động nhập cư. Hơn thế nữa những lợi thế của Singapore về thuế doanh nghiệp, về có sở hạ tầng đang bị một vài nơi khác như Dubai đuổi kịp…  Tăng trưởng và sức hấp dẫn của Singpore có bị đe dọa hay không ?

    Nguyễn Giang : « Thứ nhất là trong 5,6 triệu người sống tại hòn đảo nhỏ thì dân số bản địa chỉ có 3,6 triệu người đang bị già đi nhanh, sinh suất giảm và nền kinh tế phải dựa vào 40% nhân khẩu nhập cư, bằng hai triệu người, gồm là giới chuyên gia và lao động phổ thông.

    Thứ nhì, sau đại dịch Covid, nền kinh tế dựa vào xuất khẩu là chính gặp vấn đề về tăng trưởng, chỉ đạt 1,1% năm 2023 vì nhu cầu hàng hóa, dịch vụ từ các thị trường lớn là Hoa Kỳ và Liên Âu giảm. Cuộc thương chiến Mỹ-Trung cũng đặt Singapore vào tình thế khó khăn khi muốn cân bằng quan hệ làm ăn để hưởng lợi từ cả hai thị trường này ».

    Nền ngoại giao linh hoạt, gắn chặt lợi ích an ninh với Phương Tây

    RFI : Những thành công kinh tế vừa nêu có được, chủ yếu nhờ chính sách đối ngoại rất « uyển chuyển » của Singapore dưới thời thủ tướng Lý Hiển Long, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc và Mỹ tranh giành ảnh hưởng về nhiều mặt, đặc biệt là tại châu Á-Thái Bình Dương.

    Nguyễn Giang : « Nói về nền ngoại giao Singapore thì thời kỳ cầm quyền của ông Lý Hiển Long đánh dấu việc Singapore nêu quan điểm mạnh mẽ, nhất quán vì một ASEAN tôn trọng luật chơi quốc tế. Cùng với nền ngoại giao mềm mỏng của Indonesia, Singapore đã giúp ASEAN có tiếng nói rõ  ràng hơn trên trường quốc tế, như trong vấn đề ủng hộ Ukraina khi nước này bị Nga xâm lăng. Ông Lý Hiển Long cũng tạo dấu ấn khác cha ông, cố Thủ tướng Lý Quang Diệu, người tuy ký kết an ninh chặt chẽ với Hoa Kỳ, vẫn cố gắng không làm mất lòng lãnh đạo Trung Quốc. Còn ông Lý Hiển Long, người học ở Harvard về, ngay sau khi lên nhậm chức thủ tướng năm 2004 đã sang thăm Đài Loan, gây phản ứng mạnh từ phía Trung Quốc.

    Singapore cũng kiên trì với chính sách không cô lập Đài Bắc mà còn giúp TQ và Đài Loan đối thoại thay vì đối đầu, bằng việc tổ chức hội nghị thượng đỉnh Tập Cận Bình và Mã Anh Cửu ở Singapore năm 2015. Một năm sau, ông Lý Hiển Long thay mặt Singapore, nước chủ tịch luân phiên của ASEAN, phê phán việc quân sự hóa ở Biển Đông của Trung Quốc, gây căng thẳng với Bắc Kinh.

    Tuy thế, quan hệ thương mại Singapore-Trung Quốc tiếp tục được nâng cao từ khi ký Hiệp định Tự do Mậu dịch song phương năm 2009. Cùng lúc, từ 2005, Singapore là đối tác an ninh quốc phòng của Hoa Kỳ, tuy không phải là đồng minh quân sự (security partner, not US treaty ally) và quan hệ này được thắt chặt liên tục những năm qua ».

    RFI : Mỹ điểm tựa quân sự cốt yếu của Singapore ?

    Nguyễn Giang : « Thủ tướng Lý Hiển Long có nhiều chuyến thăm Hoa Kỳ liên tiếp mấy năm qua, vào các năm 2022, 2023, 2024, để dự các hội nghị APEC, LHQ, thăm các đại công ty công nghệ ở California và tới Washington DC hội đàm với lãnh đạo Hoa Kỳ. Singapore ủng hộ viễn kiến ‘Ấn Độ -Thái Bình Dương mở’ (Open Indo-Pacific) của chính phủ Biden. Singapore có quân cảng Changi để đón các tàu chiến, gồm cả hàng không mẫu hạm của Mỹ và Anh và đầu năm nay đã quyết định mua 8 chiếc F-35, chiến đấu cơ thế hệ mới từ Hoa Kỳ ».

    Singapore và ASEAN

    RFI : Là một trong 5 thành viên ban đầu của Hiệp Hội Đông Nam Á từ năm 1967, Singpore cùng với Indonesia hiện là hai đầu tàu của toàn khối ASEAN, có tiếng nói mạnh mẽ và rõ ràng trên nhiều hồ sơ quốc tế, từ khủng hoảng ở Miến Điện đến chính sách đối với Nga trong cuộc chiến Ukraina … Riêng quan hệ giữa Singapore với Việt Nam thì sao ?

    Nguyễn Giang : « Trong những năm cuối ở vị trí thủ tướng, ông Lý Hiển Long đưa Singapore trở thành quốc gia ASEAN duy nhất tung ra lệnh cấm vận trừng phạt Nga vì cuộc chiến của Kremlin ở Ukraina. Theo đánh giá của GS Michael Barr, một chuyên gia về chính trị Singapore ở Úc thì ông Lý Hiển Long đã chọn cách nói thẳng, dựa trên những giá trị quốc tế phổ quát trước các câu hỏi mà Đông Nam Á và Singapore đối mặt, “vứt bỏ chiếc áo choàng mờ ảo, nước đôi” (cloak of ambiguity).

    Năm ngoái, Singapore nói sẽ tuân thủ mọi lệnh trừng phạt nếu có của Liên Hiệp Quốc với các tướng lĩnh Miến Điện và đã rà soát, ra lệnh cho các ngân hàng cắt giao thương tài chính với Liên bang Myanmar nhằm ngăn giới quân sự ở Naypyidaw mua vũ khí từ bên ngoài.

    Còn trong quan hệ với Việt Nam, chính phủ của ông Lý Hiển Long đã ký Đối tác chiến lược trong chuyến thăm của ông năm 2013 tới Hà Nội. Singapore và Việt Nam chia sẻ quan điểm bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông. Đón thủ tướng Việt Nam, ông Phạm Minh Chính sang thăm Singapore năm ngoái, lãnh đạo Singapore nhấn mạnh về ba lĩnh vực hợp tác mới với VN là chuyển đổi năng lượng xanh, nền kinh tế số và công nghệ cao. Ngoài ra, Việt Nam cũng là nước cung cấp nguồn lao động chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống, bán lẻ cho Singapore. Mô hình cải cách bộ máy công quyền của Singapore được Việt Nam quan tâm tìm hiểu.

    Tuy thế, trong ASEAN, Indonesia hiện là đối tác quan trọng nhất của Singapore và trong chuyến thăm mới đây tới Bogor, cuối tháng 4/2024 ông Lý Hiển Long đã cùng tổng thống sắp mãn nhiệm của Indonesia Joko Widodo (Jokowi) cùng quan chức hai bên ký kết bốn thỏa thuận hợp tác song phương quan trọng. Đó là các thỏa thuận cấp nhà nước về lãnh hải, quân sự, an ninh và chính sách thông tin, với sự chứng kiến của hai nhà lãnh đạo kế tiếp, Phó Thủ tướng Singapore Hoàng Tuần Tài và tổng thống tân cử của Indonesia Prabowo Subianto.

    Đây chính là những gì ông Lý Hiển Long và ông Jokowi để lại cho những người kế nhiệm chăm lo vào những năm tới. Mối quan hệ này sẽ giúp hai quốc gia chủ chốt ở ASEAN có chỗ dựa vào nhau tốt hơn để đối phó với các biến động trên thế giới, nhất là xung khắc Mỹ-Trung trong cuộc cạnh tranh đại cường của thế kỷ ».

    RFI : Xin cảm ơn nhà báo Nguyễn Giang, cựu biên tập viên BBC World Service, Luân Đôn, hiện nghiên cứu tại Viện ISEAS-Yusof Ishak, Singapore. 

    10 min
  • Hàng không: Máy bay Boeing có còn an toàn?

    Một loạt các sự cố gần đây trên các chuyến bay làm hoen ố hình ảnh của tập đoàn Mỹ Boeing và làm dấy lên nghi vấn về mức độ an toàn cho hành khách. Nhiều hãng hàng không dân sự phải cắt giảm các chuyến bay, bị mất khách. Boeing đang cần huy động thêm 10 tỷ đô la trước viễn cảnh sắp phải thanh toán 12 tỷ nợ đáo hạn. 

    Hôm 26/04/2024, chuyến bay của hãng hàng không Mỹ Delta Airlines nối New York và Los Angeles đã phải quay lại điểm khởi hành, khi phát hiện máy bay mất cầu trượt thoát hiểm. Chiếc Boeing 767 với 176 hành khách và phi hành đoàn đã hạ cánh an toàn. Đó chỉ là sự cố gần đây nhất trong một loạt cố khác  trong tháng 3/2024 : khi thì do hỏng kim đồng hồ đo sức gió, lúc thì do hỏng cánh quạt, hay do một mẩu cách bị rơi... Tệ hơn nữa là vụ 5 hành khách bị thương trong một chuyến bay từ Sydney đến Auckland do máy bay mất độ cao. Nhưng hình ảnh khủng khiếp nhất là vụ văng cánh cửa máy bay trên chiếc Boeing 737Max9 của hãng hàng không Alaska Airlines chở theo 171 hành khách từ Portland (bang Oregon) đến Ontario (bang California) hôm 05/01/2024.

    Xa hơn nữa, hãng Boeing đã chịu nhiều tai tiếng sau hai tai nạn hàng không năm 2018 và 2019 của hãng Lion Air và Ethiopian Air, làm gần 350 người thiệt mạng. Cả hai cùng sử dụng máy bay dòng 737Max của Boeing.

    Khi nhà sản xuất máy bay trao quyền cho giới tài chính

    Có nhiều tiếng nói cho rằng hai vụ rớt máy bay nói trên là « điểm khởi đầu » đẩy Boeing vào một cuộc khủng hoảng vô tiền khoáng hậu. Riêng Bruno Trévidic, phụ trách các trang về công nghiệp hàng không của báo Les Echos, cho rằng khủng hoảng này có nguồn gốc sâu xa hơn :

     « Theo nhiều nhà quan sát tại Mỹ, khủng hoảng của Boeing khởi đầu từ khoảng năm 1997 khi Boeing mua lại tập đoàn sản xuất máy bay McDonnel Douglas. Đó cũng là thời điểm mà tương quan lực lượng trong buồng lái điều hành tập đoàn Boeing nghiêng hẳn về  phía giới tài chính. Họ chiếm đa số trong hội đồng quản trị và từng bước thu hẹp tiếng nói của giới kỹ sư. Đa số cho rằng khủng hoảng của tập đoàn sản xuất máy bay Mỹ Boeing đã kéo dài từ lâu ».

    Là đối thủ của Boeing, năm 1997, McDonnel Douglas (chuyên sản xuất từ tên lửa đến máy bay thương mại, quân sự … và hiện diện luôn cả trong ngành hàng không không gian), đã bị mua lại và « cặp đôi » này trở thành « tập đoàn sản xuất máy bay lớn nhất thế giới ». Chưa đầy một chục năm sau, Harry Stonecipher chủ tịch tổng giám đốc Boeing và McDonnel Douglas đã rất tự hào là tập đoàn do ông điều hành được « quản lý như bất kỳ một doanh nghiệp nào khác, chứ không phải là một hãng chỉ biết thực hiện các dự án công nghiệp ».

    Làm sao nên nỗi ? 

    Harry Stonecipher có thể là đã quên mất rằng ngành hàng không và chế tạo máy bay là một ngoại lệ. Thí dụ như để sản xuất được một chiếc Boeing 737 Max, cần có tới « gần một nửa triệu phụ tùng, do 600 nhà cung cấp khác nhau bán cho Boeing. Bản thân mỗi đối tác trong số đó đều có cả một mạng lưới gia công ở phía sau ». Không dễ mà kiểm soát từng khâu một về chất lượng với nhiều đối tác như vậy.

    Đọc thêm : Boeing 737 MAX : Dòng máy bay « xui xẻo »

    Nét đặc thù của các tập đoàn công nghiệp chế tạo máy bay là « chất lượng và các chuẩn mực an toàn phải là ưu tiên tuyệt đối ». Bruno Trévidic, báo Les Echos, giải thích cụ thể hơn :

     « Ở đây có hai vấn đề. Một là trong những năm gần đây, Boeing đã trao lại cho các tập đoàn gia công một phần lớn các công đoạn sản xuất, nghĩa là trao hẳn cho những công ty khác những gì từng làm nên tên tuổi, uy tín của mình. Điều này từng xảy ra và đã bị chỉ trích khi dòng máy bay 787 gặp một số vấn đề. Khi đó người ta biết rằng 70 % các công đoạn sản xuất Boeing 787 đã được giao cho hãng Spirit Aerosystems.

    Sau đó, các cuộc điều tra cho thấy là hãng này đã có nhiều thiếu sót và cuối cùng, Boeing đã quyết định mua lại Spirit Aerosystems, để dễ quản lý hãng gia công cho mình. Trên thực tế, Boeing giao lại cho các hãng gia công một số công đoạn sản xuất cũng chỉ vì muốn giảm thiểu các chi phí trong cuộc chạy đua đi tìm lợi nhuận.

    Vấn đề thứ hai là Boeing vừa trải qua một thời gian dài bị tác động của khủng hoảng y tế Covid  Trong suốt giai đoạn 2020-2022, dây chuyền sản xuất bị gián đoạn, ngành hàng không dân dụng bị khủng hoảng, Boeing phải cắt giảm nhân sự, tức là để thất thoát chất xám, để mất khá nhiều nhân viên có kinh nghiệm. Khi ngành du lịch và giao thông hàng không hồi phục, các hãng hàng không cần mua thêm máy bay để đáp ứng nhu cầu của thị trường, thì các hãng chế tạo máy bay sản xuất không kịp.

    Boeing đã phải tuyển dụng trở lại nhân viên và đó là những người trẻ mới vào nghề. Số này chưa được đào tạo xong và cũng không ý thức được rằng những chuẩn mực an toàn, những chỉ số đo lường về chất lượng quan trọng đến mức độ nào. Họ cũng không được đào tạo để hiểu rằng, trong ngành công nghiệp chế tạo máy bay, công việc đòi hỏi phải thật hoàn hảo ». 

    Sau các sự cố từ đầu năm đến nay, cổ phiếu của Boeing mất giá 25 % trong bốn tháng đầu năm. Tập đoàn này còn bị Cục Hàng Không Liên Bang Mỹ FAA và Ủy Ban An Toàn Giao Thông Quốc Gia Hoa Kỳ NTSB điều tra và cả hai đã đưa ra những kết luận không mấy thuận lợi cho nhà sản xuất máy bay của Mỹ này. Bruno Trévidic báo Les Echos cho biết :

    « Điều tra về mặt kỹ thuật do cơ quan an toàn giao thông Hoa Kỳ NTSB tiến hành kết luận : đã có những sai sót trong khâu lắp ráp cửa máy bay và lỗi đó thuộc về trách nhiệm của Boeing. Sự cố đã xảy ra trong các nhà máy của Boeing ở Renton, nơi cho ra đời gam máy bay 737. Nói cách khác đây là lỗi của Boeing. Cục Hàng Không Liên Bang Mỹ, trong đợt thanh tra gần đây nhất đã tập trung kiểm tra chất lượng sản phẩm của tập đoàn Boeing. FAA chỉ ra rằng Boeing « có vấn đề » ở khâu này, tức là đã lơ là trong việc kiểm tra chất lượng. Boeing cũng thiếu sức thuyết phục trong việc đào tạo nhân sự ».

    Ngành hàng không dân sự bị vạ lây 

    Trước những sự cố liên tiếp và với hệ quả ít nhiều nghiêm trọng nói trên, các hãng hàng không của Mỹ và châu Âu bắt đầu hết kiên nhẫn với Boeing. Hãng hàng không giá rẻ Ryanair dường như bị ảnh hưởng nhiều hơn cả, do hãng này chủ yếu sử dụng máy bay Boeing. Nhẽ ra tháng 3 vừa rồi Ryanair nhận được thêm 57 máy bay Boeing để chuẩn bị cho mùa hè sắp tới, nhưng rồi trong kịch bản tối ưu, tập đoàn Mỹ chỉ có thể giao 4 chiếc cho Ryanair. Hệ quả kèm theo là hãng hàng không giá rẻ của Ireland này phải « giảm số chuyến bay trên 10 lộ trình vào mùa cao điểm tháng 7-8 và 9 ».

    Tập đoàn United Airlines của Mỹ thất thu khoảng 200 triệu đô la chỉ vì các máy bay dòng Boeing 737 Max 9 bị giữ lại trên mặt đất trong ba tuần. Delta Airlines cũng không hy vọng từ nay đến năm 2025 có thêm được 100 chiếc máy bay mới để phục vụ hành khách. Về phần mình, tập đoàn Southwest báo trước là « không tuyển dụng thêm phi công và tiếp viên hàng không » cũng vì Boeing.

    Với người tiêu dùng, chắc chắn là trong những tháng hè sẽ khó tìm vé máy bay hơn một chút và hành khách phải mua vé đắt hơn.  

    Boeing vẫn là một ngọn hải đăng 

    Song còn quá sớm để cho rằng Boeing đang lao xuống vực thẳm. Hiện tập đoàn này có một đội ngũ hơn 60.000 nhân viên, với khoảng 10.000 « con chim sắt » tung bay khắp thế giới. Boeing đã có sẵn đơn đặt hàng với 5.700 máy bay để giao cho các hãng hàng không dân dụng. Trị giá chứng khoán của Boeing là 104 tỷ đô la, tương đương với GDP của Cam Bốt và Miến Điện cộng lại.

    Hơn thế nữa, Boeing còn là một ông khổng lồ trong lĩnh vực hàng không quân sự và không gian, với chính phủ Mỹ là khách hàng quan trọng nhất. Hôm 26/04/2024, Boeing vừa mua lại cơ sở của GKN Aerospece tại Saint Louis, bang Missouri, để « tiếp tục cung cấp những phụ tùng thiết yếu và nhạy cảm cho chính phủ Mỹ và các đồng minh của Hoa Kỳ ». Đây là nơi cung cấp phụ tùng và bảo đảm một phần các chương trình chế tạo chiến đấu cơ F/A18 và F-15. Cũng Boeing hôm 29/04/2024 thông báo nhận thêm đơn đặt hàng của Bộ Quốc Phòng cung cấp thêm 7 chiếc trực thăng MH-139A cho Không Quân Hoa Kỳ. Trị giá hợp đồng là 178 triệu đô. MH-139A là loại trực thăng được quân đội sử dụng trong các công tác tuần tra, cứu hộ và tận tải. Chi nhánh Boeing Defence Space &Security là một tên tuổi lớn trong ngành với rất nhiều sản phẩm từ oanh tạc cơ, máy bay vận tải, máy bay tiếp liệu, tên lửa, vệ tinh... …

    10 min
  • Chảo lửa Iran-Israel « chưa bén » đến các giếng dầu Trung Đông

    Thị trường dầu hỏa thế giới vẫn ổn định trước mối đe dọa chưa hoàn toàn được dập tắt về một cuộc chiến giữa Israel và Iran. Ưu tiên của Teheran là bảo vệ các giếng dầu cho dù Trung Đông không còn là nguồn cung cấp duy nhất cho thế giới. Vì những tính toán chính trị trước bầu cử tổng thống Mỹ, Washington là « tấm bia đỡ đạn » cho các cơ sở năng lượng của Iran, tránh để khủng hoảng về dầu lửa tái diễn đánh vào túi tiền của cử tri Hoa Kỳ.

    Đành rằng giá dầu trên thế giới tăng lên thêm 17 % trong 4 tháng đầu nhưng kể từ khi Israel và Iran trực tiếp khiêu khích lẫn nhau từ đầu tháng 4/2024, thị trường dầu hỏa được coi là vẫn « ổn định ». Giá một thùng dầu vẫn được giữ ở ngưỡng trên dưới 90 đô la một thùng cho đến ngày 23/04/2024.

    Xung đột Israel-Hamas tại Gaza từ tháng 10/2023, rồi các đợt tấn công nhắm vào tàu chở hàng trong vùng Hồng Hải do quân nổi dậy Yemen - Houthi tiến hành đã thổi bùng viễn cảnh Trung Đông, giếng dầu của thế giới, bị đẩy gần hơn vào cái bẫy chiến tranh. Căng thẳng trên thị trường năng lượng đã tăng thêm một nấc trước những dấu hiệu xung đột lan rộng khi mà những quyền lợi trực tiếp của Iran bị tổn thương.

    Israel oanh tạc tòa đại sứ Iran ở Damas, thủ đô Syria hôm 01/04/2024, rồi hơn một chục ngày sau, Teheran đáp trả « đích đáng » trong đêm 13/04/2024 nhắm vào Israel. Cộng đồng quốc tế lại hồi hộp đợi chính quyền Benjamin Netanyahu « trả đũa » vào lúc ông bị công luận Israel mạnh mẽ chỉ trích « sa lầy ở Gaza ». Một phần thế giới quy trách nhiệm cho Israel về thảm họa nhân đạo nhắm vào hơn 2 triệu người Palestine ở Gaza.

    Những yếu tố đe dọa dầu hỏa Trung Đông

    Tất cả các nhà quan sát đồng loạt cho rằng, « vì những lý do đối nội, cả Iran lẫn Israel cũng bị dồn vào chân tường ». Trả lời đài phát thanh France Culture hôm 17/04/2024, chuyên gia về dầu hỏa, Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp, giải thích về tầm mức « chiến lược của Trung Đông trên bàn cờ năng lượng quốc tế », qua đó một phần chìa khóa tăng trưởng của thế giới đang được đặt trong tay mỗi đối tác tại khu vực này :

    « Trung Đông là một khu vực chủ chốt trên bàn cờ dầu hỏa và khí đốt của thế giới. Đây là nơi cất giữ 50 % trữ lượng dầu đã được chứng minh và 40 % khí đốt trên trái đất. Trung Đông cũng là nơi sản xuất và xuất khẩu một phần lớn năng lượng cho nhân loại. Năm ông khổng lồ dầu hỏa trên thế giới đều tập trung cả ở khu vực này, theo thứ tự là Ả Rập Xê Út, Iran, Irak, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Koweit. Hai nguồn cung khí đốt lớn nhất là Iran và Qatar cũng ở cả Trung Đông. Do vậy, nếu như xảy ra căng thẳng trong khu vực, đương nhiên là thị trường dầu hỏa rất dễ bị khuấy động ».

    Song có nhiều khác biệt ở thời điểm hiện nay so với thập niên 1970-1980 : Trung Đông không còn độc quyền cung cấp dầu hỏa cho thế giới và cỗ máy công nghiệp của các nước phát triển nhất bớt lệ thuộc vào vàng đen. Francis Perrin, viện nghiên cứu Pháp IRIS : 

    « Nhờ có dầu và khí đá phiến mà Hoa Kỳ nay đã trở thành nguồn xuất khẩu số 1 trên thế giới, cả về dầu hỏa lẫn khí đốt. Tức là Mỹ đã qua mặt cả Ả Rập Xê Út và Nga để thống lĩnh hai thị trường này. Đây là một thay đổi chưa từng có. Ở thời kỳ chiến tranh Kippour những năm 1973-1974 nhân loại chưa biết khai thác dầu và khí đá phiến. Ngoài ra, giờ đây Canada cũng đã trở thành một nguồn cung cấp quan trọng của thế giới, đứng hạng thứ tư. Thành thử thế giới có những nguồn cung cấp khác và không còn bị phụ thuộc vào một mình Trung Đông. Dù vậy thế cân bằng trên thị trường năng lượng tùy thuộc vào Trung Đông. Đương nhiên là nếu tình hình trong vùng xấu đi và tác động trực tiếp đến các hoạt động trong ngành dầu khí, thì lập tức giá dầu hỏa và khí đốt bị biến động… »   

    Tính toán khôn ngoan của Teheran

    Trong cuộc chiến giữa các nước Ả Rập và Nhà nước Do Thái - Chiến tranh Kippour hồi năm 1973, nhiều nước Ả Rập đã manh tay ngừng xuất khẩu dầu cho phương Tây, nền công nghiệp số 1 toàn cầu khi đó là Hoa Kỳ khốn đốn. Trong thời gian từ tháng 10/1973 đến tháng 1/1974, giá dầu đã nhân lên gấp 4 lần. 

    Đến những năm 1979-1980, sau cuộc cách mạng Hồi Giáo Iran, thêm vào đó là 8 năm chiến tranh Iran-Irak (1980-1988), nhiều tàu dầu đã bị tấn công trong vùng Vịnh … giá dầu lại bị đẩy lên cao.

    Hai « cơn sốt dầu hỏa » thập niên 1970-1980 khép lại thời kỳ vàng son của các nền công nghiệp trên thế giới vốn rất phụ thuộc vào « vàng đen » của Trung Đông. Kinh nghiệm đó vẫn còn ám ánh chính giới hiện nay. Francis Perrin viện IRIS của Pháp phân tích :

    « Điều rõ ràng là ở thời điểm 2024, Trung Đông vẫn chiếm một vi trí then chốt thị trường dầu khí. Khu vực này đang phải đối mặt với ba cuộc xung đột khác nhau : ở Syria từ 2011, ở Yemen từ 2015 và gần đây nhất là tại Gaza. Đương nhiên là giới giao dịch trên thị trường, chính giới và các nhà ngoại giao không ai muốn một cuộc xung đột thứ tư nổ ra trong vùng. Nếu như xảy ra xung đột giữa Israel và Iran thì cuộc chiến này sẽ nguy hiểm hơn cả ba cuộc xung đột hiện nay rất nhiều ».

    Thêm một lo ngại khác liên quan đến nguy cơ eo biển Ormuz bị phong tỏa, bị một trong các bên giao tranh « quân sự hóa ». Eo biển này là cửa ngõ đưa 20 -30 % dầu hỏa và khí đốt của Trung Đông ra thế giới. Theo thẩm định của cơ quan tư vấn về năng lượng Rapidan Energy của Mỹ, eo biển Ormuz bị rối loạn, « giá dầu lập tức tăng thêm 10 % ».

    Nhưng không lo Iran đóng cửa eo biển Ormuz vì tháng 3/2024 Teheran thông báo đầu tư 13 tỷ đô la trong thập niên sắp tới vào 6 mỏ dầu ở các khu vực phía nam và tây nam, để nâng cao sản xuất, vị trí then chốt của Iran trên bàn cờ năng lượng. Francis Perrin viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược Pháp :

    « Syrie chỉ là một chú lùn về dầu hỏa, Yemen cho đến trước chiến tranh, tuy có sản xuất dầu và xuất khẩu khí đốt nhưng cũng không đáng kể. Gaza và Israel cùng không xuất khẩu dầu. Thế nhưng Iran là một cường quốc cả về dầu hỏa lẫn khí đốt. Đành rằng từ năm 2018 chính quyền Trump đã siết chặt thêm cấm vận dầu không cho Teheran xuất khẩu để thu vào ngoại tệ. Mỹ muốn bóp nghẹt kinh tế Iran, nhưng các biện pháp trừng phạt đó chưa bao giờ được áp dụng nghiêm ngặt. Chính quyền Biden từ năm 2021 vẫn duy trì các biện pháp cấm vận dầu của Iran, nhưng cũng không quá sốt sắng trong việc giám sát các hoạt động mua bán dầu của Teheran. Thành thử trong thời gian qua, Iran vẫn thu về ngoại tệ nhờ xuất khẩu dầu hỏa cho một số đối tác. Do vậy nếu xảy ra xung đột với Israel, Iran sẽ mất mát nhiều ».

    Washington, lá bùa hộ mạng cho các giếng dầu Iran

    Vì quyền lợi của chính mình, Iran sẽ không dại lao vào một cuộc đối đầu vũ trang quyết liệt với Israel hay đóng cửa eo biển Ormuz. Nhưng về phía Tel Aviv, giới quan sát cho rằng giải pháp quân sự ở Gaza hay với « kẻ thù không đội trời chung » Iran là lá bùa hộ mạng cho sự nghiệp chính trị của thủ tướng Benjamin Netanyahu. Do vậy, lo ngại thứ ba là nếu như Israel tấn công các cơ sở công nghiệp dầu khí của Iran thì có thể đẩy giá dầu lên cao. Nhưng trước mắt, kịch bản này đã không xảy ra nhờ áp lực của Mỹ. 

    Iran có khối lượng dự trữ dầu lớn thứ ba trên thế giới, và bất chấp các lệnh trừng phạt liên tiếp của Hoa Kỳ năm 2022, Cộng Hòa Hồi Giáo Iran, đứng hàng thứ 7 trong số các nguồn cung cấp dầu, bảo đảm 3 % nhu cầu tiêu thụ cho thế giới. Francis Perrin, viện IRIS, nhấn mạnh đến yếu tố Hoa Kỳ trong năm bầu cử tổng thống vào lúc mà giá một gallon xăng ở Mỹ hiện vẫn còn đắt hơn đến 60 % so với hồi năm 2020 : 

    « Chính quyền Biden không muốn trông thấy giá dầu bị đẩy lên cao, vì như vậy có nghĩa là người Mỹ sẽ phải chi ra nhiều tiền để mua xăng. Ra tranh cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống, ông Biden biết là sẽ gặp khó khăn trong trường hợp này và công luận Mỹ dễ bị ảnh hưởng vì giá xăng dầu. Nhà Trắng không muốn Israel tấn công vào các cơ sở năng lượng của Iran, nhưng tại Israel và Mỹ thì một số tiếng nói lại muốn kịch bản đó xảy ra ».

    Đe dọa thị trường tiêu thụ bão hòa 

    Cho đến ngày 23/04/2024, có thể nói là thị trường dầu hỏa thế giới đã « không bùng cháy » sau khi Iran lẫn Israel đều đã « trả đũa đối phương » và cùng có dấu hiệu muốn dừng lại, tránh đẩy Trung Đông vào thế nguy hiểm hơn. 

    Đương nhiên, giới trong ngành cho rằng trên thị trường dầu hỏa « ngọn lửa có thể được thổi bùng lên bất cứ lúc nào ». Các nhà môi giới tạm an tâm trước một số những « chốt an toàn » : một là Mỹ đã trở thành nguồn sản xuất dầu số 1 thế giới, hơn cả Ả Rập Xê Út hay Nga ; hai là Teheran hiểu ý của Hoa Kỳ nên đang tận dụng thời cơ phát triển ngành công nghiệp dầu hỏa. Thứ ba là bản thân các « ông lớn trên bàn cờ năng lượng Trung Đông, từ Ả Rập Xê Út đến Qatar hay Các Tiểu Vương Ả Rập Thống Nhất đều muốn tập trung phát triển kinh tế ».

    Các quốc gia này biết là không còn độc quyền và Mỹ đang nổi lên như một đối thủ cạnh tranh « rất lợi hại ». Cuối cùng, điều khiến giới trong ngành, từ các cơ quan môi giới trên thị trường, đến các nhà sản xuất ở Trung Đông lo ngại hơn cả hiện nay, có lẽ là viễn cảnh tăng trưởng của Trung Quốc, của Liên Hiệp Châu Âu bị chựng lại, và những chuyển biến trên thị trường quốc tế từ chiến tranh Ukraina gây nên.

    Nhìn đến nước Nga, một cột trụ khác trên thị trường năng lượng, dầu khí của Nga đang bị cấm vận, giảm mạnh lượng xuất khẩu sang châu Âu nên các tập đoàn dầu khí của Nga đã lao vào một cuộc chạy đua đi tìm những thị trường mới… và Matxcơva là một thành viên khá độc lập trong khối OPEP mở rộng. Tựu chung, một trong những lý do vì sao thị trường dầu hỏa chưa lên cơn sốt, là các nguồn cung thì nhiều, mà không chắc là mức cầu sẽ vững mạnh trong ngắn hạn.    

    10 min
  • Thách thức Nhật Bản trở thành một « cường quốc công nghiệp vũ khí »

    Kết thúc tuần lễ công du Hoa Kỳ, thủ tướng Nhật ra về với khoảng 70 thỏa thuận hợp tác quốc phòng, hoàn thành mục tiêu đưa quan hệ song phương lên hàng « đối tác toàn diện về kinh tế, kỹ thuật và an ninh ». Mở rộng quan hệ quốc phòng với Mỹ là đòn bẩy cho ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật vốn đang bị Trung Quốc bỏ xa lại phía sau. Bắc Kinh đứng trước thách thức Tokyo trở thành một nhà máy sản xuất, một kho vũ khí ngay sát cạnh.

    Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida vừa kết thúc chuyến công du Hoa Kỳ từ ngày 10 đến 13/04/2024. Giới quan sát phương Tây đồng loạt đánh giá đây là một chuyến đi lịch sử với hai cột mốc quan trọng là thượng đỉnh song phương tổng thống Mỹ Joe Biden và cuộc họp tay ba với nguyên thủ Hoa Kỳ và tổng thống Philippines, Ferdinand Marcos Jr. tại Nhà Trắng.

    Lần đầu tiên từ Thế Chiến Thứ Hai, Mỹ-Nhật thắt chặt hợp tác quốc phòng « chặt chẽ » chưa từng thấy. Trong những tuần lễ sắp tới Lầu Năm Góc cùng với các bộ Quốc Phòng và Công Nghiệp Nhật Bản đi sâu thêm vào chi tiết cụ thể các chương trình hợp tác, song báo chí tại Washington và Tokyo nói đến « khoảng 70 thỏa thuận hợp tác quốc phòng » đã được thông qua.

    Viễn cảnh Nhật sản xuất vũ khí cạnh Trung Quốc

    Những thỏa thuận nói trên xoay quanh ba trục : Ưu tiên « nâng cao hiệu quả khả năng tương tác » giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản, nghĩa là để các đơn vị của Mỹ tại Nhật Bản bớt phụ thuộc vào bộ tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ đặt tại Hawaii, cách thủ đô Tokyo đến 6.000 cây số.

    Trục thứ nhì là tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực an ninh mạng và chiến lược bảo vệ các cơ sở hạ tầng thiết yếu.

    Vế thứ ba liên quan đến hợp tác trong ngành công nghiệp quốc phòng hai nước. Washington và Tokyo cam kết « cùng nhau phát triển, sản xuất tên lửa, cùng nhau bảo trì chiến hạm và máy bay quân sự của Mỹ tại Nhật Bản ». Ngành công nghệ quốc phòng của hai nước « phối hợp chặt chẽ với nhau hơn » ở nhiều khâu, từ nghiên cứu khoa học kỹ thuật đến khả năng sản xuất những thiết bị trong công nghệ không gian phục vụ cả các mục tiêu dân sự và quân sự… Kết hợp với Mỹ, Nhật Bản khai thác những thế mạnh của mình để trở thành một nguồn sản xuất và cung cấp vũ khí trên thế giới- kể cả cho Hoa Kỳ.  

    Trả lời RFI Việt ngữ, nhà báo Pierre Antoine Donnet nói đến một thỏa thuận có lợi cho cả đôi bên. Ông Donnet từng điều hành các văn phòng của hãng tin Pháp AFP tại Bắc Kinh và Tokyo, và hiện là một cây bút chính của báo mạng chuyên về châu Á, Asialyst : 

    Pierre Antoine Donnet : « Một trong những vế chính của hàng loạt những thỏa thuận quốc phòng song phương là Mỹ -Nhật cùng nhau sản xuất các loại vũ khí thế hệ mới. Đây là điều hoàn toàn mới mẻ đối với cả Washington lẫn Tokyo. Hợp tác quân sự lại càng khắn khít hơn khi đôi bên đồng ý nâng cấp cơ chế chỉ huy quân sự của Mỹ tại Nhật, với một mục đích rõ ràng là đối phó với hiểm họa Trung Quốc. (...) 

    Tôi nghĩ rằng lợi ích ở đây là cả đối với hai phía Hoa Kỳ và Nhật Bản. Hiện tại, nền công nghiệp quốc phòng của Nhật chậm phát triển hơn nhiều so với của Trung Quốc và còn kém cỏi so với một số quốc gia khác nữa. Trái lại, đội ngũ kỹ sư của Nhật được đào tạo và có chuyên môn rất cao. Từ nhiều thập niên qua Nhật Bản luôn dẫn đầu về công nghệ mới. Thành thử khi mà Mỹ, Nhật hợp tác với nhau để cùng chế tạo thiết bị quân sự hay vũ khí thì hai nền công nghiệp này sẽ bổ sung cho nhau, họ sẽ nhanh chóng sản xuất được nhiều và với giá rẻ. Thêm một lợi thế khác nữa là vũ khí sẽ sản xuất trên lãnh thổ Nhật Bản. Điều này cho phép nền công nghiệp quốc phòng của Nhật nhanh chóng phát triển và có nhiều tiến bộ trong một thời gian ngắn. Nói cách khác đây là một thỏa thuận có lợi cho cả đôi bên ».   

    Đành rằng trong thông cáo chung, tổng thống Biden và thủ tướng Kishida cùng nhấn mạnh chủ đích của đôi bên là « tăng cường khả năng răn đe », để bảo đảm Ấn Độ-Thái Bình Dương là một vùng biển « tự do và rộng mở trước những thách thức ngày càng lớn đối với an ninh khu vực ». Nhà báo Pierre Antoine Donnet mục tiêu răn đe đó của Hoa Kỳ và Nhật Bản trực tiếp nhắm vào Trung Quốc.

    Pierre Antoine Donnet : « Trong những ngày vừa qua chúng ta thấy rõ tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden và thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida cùng quyết tâm thiếp lập một liên minh quân sự càng lúc càng chặt chẽ giữa hai quốc gia đồng minh này và cùng với một số nước khác trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương để cưỡng lại áp lực đang lớn mạnh từ phía Trung Quốc. Áp lực đó ngày càng rõ nét để trở thành một mối đe dọa về mặt quân sự. (...)

    Một trong những người đầu tiên chủ trương tái vũ trang Nhật Bản là cố thủ tướng Shinzo Abe và như đã biết, ông đã bị ám sát hồi năm 2022. Giờ đây thủ tướng đương nhiệm, Fumio Kishida, khẳng định rằng mối đe dọa xuất phát từ Trung Quốc đã lớn đến mức mà Nhật Bản cần nhanh chóng hiện đại hóa quân đội để có thể đối phó trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang. Chính ông Kishida quyết định đẩy ngân sách quốc phòng của Nhật đang từ 1 % GDP lên thành 2 % trong một thời gian rất ngắn và đây là điều chưa từng xảy ra tại một quốc gia có bản Hiến Pháp chủ hòa như ở Nhật từ khi kết thúc Thế Chiến Thứ Hai năm 1945 ». 

    Từng công tác lâu năm tại Bắc Kinh và Tokyo, Pierre Antoine Donnet không quên yếu tố Philippines trong những tính toán của cả Hoa Kỳ lẫn Nhật Bản như đã được ghi nhận nhân thượng đỉnh ba bên Mỹ-Nhật và Philippines hôm 11/04/2024 vừa qua :

    Pierre Antoine Donnet : «Thực ra thượng đỉnh ba bên Mỹ-Nhật và Philippines quan trọng không kém, vì Biển Đông trải rộng trên diện tích khoảng 4 triệu cây số vuông là nơi mà Trung Quốc không ngừng phô trương thanh thế, lắp đặt các cơ sở quân sự… Đây là một khu vực quan trọng bậc nhất về mặt địa chính trị và là một ngả giao thương quốc tế, mà hàng tỷ đô la hàng hóa đi qua. Những hành vi hù dọa, uy hiếp tàu thuyền Philippines từ hơn một tháng nay là nhằm thị uy, để Manila tách rời khỏi Washington và công nhận Trung Quốc là ông chủ trong vùng biển này. Qua đó Philippines phải thuần phục Bắc Kinh, thuần phục đảng Cộng Sản Trung Quốc »..  

    Chiến lược phát triển công nghiệp vũ khí của Nhật

    Để trở thành « đối tác toàn diện về kinh tế, kỹ thuật và an ninh » của Hoa Kỳ, Nhật Bản đã có những bước chuẩn bị dài hơi : tháng 12/2023 chính quyền Fumio Kishida thông qua ngân sách quốc phòng hơn 50 tỷ đô la cho giai đoạn 2024-2025, tăng 17 % so với một năm trước đó.

    Tokyo từ 2022 trong hai tài liệu về Chiến Lược Quốc Phòng và Chiến Lược An Ninh Quốc Gia đã đề ra mục tiêu dành đến 2 % GDP cho các chi phí quân sự mà chủ yếu là « tăng tốc hiện đại hóa quân đội » như vừa nói có nghĩa là, thiết kế tàu chiến thế hệ mới, trang bị hệ thống tên lửa chống hạm Aegis của Mỹ, tăng cường khối lượng dự trữ tên lửa, mua thêm tên lửa hành trình Tomahawk của Mỹ, phát triển hệ thống phòng không chống tên lửa siêu thanh... Tokyo cũng dành hẳn nhiều ngân sách cho các vế sản xuất drone, mở rộng các hoạt động về an ninh mạng và mảng « công nghệ không gian phục vụ các mục tiêu quân sự ».

    Nhà nghiên cứu Marianne Péron Doise, chuyên về an ninh biển ở khu vực Đông Bắc Á trường Khoa Học Chính Trị Sciences Po. Paris lưu ý, Nhật Bản là một quốc gia duy nhất trên thế giới quyết định « tăng chi phí quốc phòng tương đương với 1 % GDP lên thành 2 % tổng sản phẩm nội địa trong vỏn vẹn 5 năm ». Đó là yếu tố đầu tiên khiến Mỹ rất hài lòng.

    Hơn nữa, do cuộc chiến Ukraina, Tokyo đã nới lỏng một số nguyên tắc cho phép chuyển giao thiết bị quân sự, chuyển giao công nghệ quốc phòng cho một số quốc gia. Từ 2014 Nhật Bản đã bắt đầu xuất khẩu thiết bị quân sự với điều kiện đó không là vũ khí sát thương, nhưng đến cuối 2023 thì danh sách hàng được xuất khẩu trong lĩnh vực này đã được mở rộng thêm và bao gồm cả 80 « loại vũ khí và thiết bị sát thương, 13 quốc gia được giao dịch với các tập đoàn Nhật Bản trong lĩnh vực này ». Hãng tin Kyodo khẳng định « Nhật Bản, tựa như Hoa Kỳ hay Pháp muốn trở thành một nguồn xuất khẩu vũ khí trên thế giới và đây sẽ là một bước ngoặt lịch sử »

    Những thay đổi nói trên vừa là cơ sở vừa là cơ hội cho các chương trình hợp tác tập đoàn công nghiệp quốc phòng của Mỹ và Nhật Bản.

    Ẩn số về tiềm lực của mạng lưới công nghiệp Nhật Bản

    Câu hỏi còn lại là liệu rằng các tập đoàn công nghiệp của Nhật như Toshiba, Mitsubishi Electric hay Subaru, Daikin có đủ sức và dễ dàng chấp nhận lao vào cuộc chơi cộng tác rồi cạnh tranh với những « ông lớn » trong ngành như Lockheed Martin của Mỹ hay BAE Systems PLC của Anh hay không ?

    Theo một điều tra của Reuters (26/03/2023) nếu như trong nhiều thập niên qua các tập đoàn nói trên, với tên tuổi rất quen thuộc với người tiêu dùng, đã « kín đáo trang bị cho lực lượng phòng vệ Nhật Bản, tăng công suất để trở thành những con chim đầu đàn trong lĩnh vực xuất khẩu vũ khí không là chuyện dễ vì số này sợ rằng sẽ mất đi cảm tình của người tiêu dùng bình thường tại một quốc gia mà công luận có khuynh hướng chủ hòa. Một nhà báo độc lập tại Tokyo được báo The Diplomat hôm 10/04/2024 trích dẫn lo ngại về khả năng sản xuất của các tập đoàn công nghiệp Nhật Bản vừa phục vụ các mục tiêu dân sự và quân sự có hạn.

    Thí dụ như Mitsubishi Heavy Industries sản xuất máy bay phản lực và tên lửa để răn đe Trung Quốc nhưng hoạt động chính của tập đoàn này là chế tạo động cơ máy bay dân sự và trang thiết bị cho các nhà máy điện, sản xuất máy móc cho các dây chuyền lắp ráp xe ô tô … Các hợp đồng với chính phủ Nhật chỉ chiếm « 10 % doanh thu của đại công ty này ».  

    Không chắc các thỏa thuật phát triển vũ khí chung với Mỹ mà thủ tướng Fumio Kishida vừa đạt được nhanh chóng cho phép đảo ngược thế cờ.

    Phản ứng của Bắc Kinh ?

    Dù vậy nhìn từ Bắc Kinh, viễn cảnh Nhật Bản và Mỹ hợp tác để trở thành những nguồn cung cấp vũ khí cho thế giới, viễn cảnh tên lửa hiện đại hay các hệ thống phòng thủ chống tên lửa siêu thanh sắp ra đời ngay trên lãnh thổ Nhật Bản gần sát Trung Quốc không là một điềm lành.

    Đây sẽ là một yếu tố mới gây thêm hiềm khích giữa Tokyo và Bắc Kinh, nhất là vào thời điểm mà kinh tế Nhật Bản thì đã nhanh chóng phục hồi sau đại dịch Covid, các chỉ số chứng khoán của Tokyo đi từ kỷ lục này đến kỷ lục khác. Trái lại không khí trên các sàn chứng khoán Trung Quốc vẫn khá ảm đạm.

    Do vậy giới phân tích chờ đợi Trung Quốc sẽ đẩy mạnh đầu tư nhằm tăng cường tiềm năng công nghiệp quốc phòng để vẫn giữ được thế thượng phong so với các tập đoàn của Nhật, để không bị ảnh hưởng vì chiến thuật « răn đe » từ phía các đồng minh của Hoa Kỳ.

    10 min
  • Trung Quốc dùng công cụ tiền tệ cuối cùng để cứu vãn kinh tế ?

    Tăng trưởng chậm tại và khủng hoảng địa ốc kéo dài khiến Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc liên tục giảm lãi suất, "bơm thêm" thanh khoản để khuyến khích tiêu thụ và đầu tư. Những biện pháp "truyền thống" dường như chưa đủ mạnh. Bắc Kinh cân nhắc sử dụng đến "công cụ tiền tệ cuối cùng" để cứu vãn tình hình.

    « Mua lại công trái phiếu » của chính phủ là gì ? Hiệu quả đến đâu và tại sao giới trong ngành thận trọng với « công cụ tiền tệ này » ngay cả khi đã được chủ tịch Trung Quốc đã gợi ý ? RFI tiếng Việt mời chuyên gia về tiền tệ và ngân hàng, Victor Lequillerier, đồng sáng lập viên cơ quan tư vấn BSI Economics, Paris, trả lời các câu hỏi trên.

    Nhật báo Hồng Kông ngày 28/03/2024 nhắc lại tuyên bố từ tháng 10/2023 của ông Tập Cận Bình là « cần sử dụng triệt để hơn và mở rộng các công cụ tiền tệ », đã đến lúc « Ngân Hàng Trung Ương từng bước mở rộng các khoản giao dịch công trái phiếu trên thị trường mở ». Từ đó đến nay, chỉ thị này vẫn chưa được chấp hành. Thống đốc Phan Công Thắng (Pan Gongsheng) vẫn chưa mua vào công trái của chính phủ. Nhưng theo giới quan sát đấy chỉ là vấn đề thời gian, bởi Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đang chịu áp lực rất lớn để phải tính đến giải pháp đã « không được sử dụng từ hơn 20 năm qua ».

    Thiếu thanh khoản hay khối lượng tiền lưu hành tăng không đủ nhanh ?

    Trên đài RFI Việt ngữ, Victor Lequillerier ngạc nhiên về đề nghị của ông Tập Cận Bình đòi Ngân Hàng Trung Ương sử dụng một công cụ « gây nhiều tranh cãi » trong chính sách tiền tệ của Trung Quốc. Nhưng trước hết, đồng sáng lập viên cơ quan tư vấn BSI Economics, Paris phân tích vì sao báo chí Trung Quốc nhắc lại gợi ý của ông Tập từ mùa thu 2023.

    Victor Lequillirier : « Phải đặt lại bối cảnh tuyên bố này. Thực ra đề xuất đã được ông Tập Cận Bình nêu lên từ hồi tháng 2023 nhưng từ đó đến nay Ngân Hàng Trung Ương không tỏ ra mặn mà. Vả lại, tình hình kinh tế Trung Quốc hiện tại có vẻ khả quan hơn. Tháng 10 năm ngoái, tăng trưởng bị chựng lại ; Trung Quốc bị đặt trước nguy cơ bị giảm phát ; đầu tư tăng rất chậm và đó cũng là thời điểm người ta hoài nghi về khả năng thanh toán và khả năng đi vay thêm tín dụng của một số chính quyền cấp tỉnh, cấp địa phương. Sau khóa họp Quốc Hội vào tháng 3/2024 Bắc Kinh đề ra mục tiêu 5 % tăng trưởng cho năm nay. Mục tiêu đó chỉ đạt được nếu như chính quyền trung ương tăng ngân sách chi tiêu để kích cầu (…).

    Sở dĩ giờ đây báo chí Trung Quốc nhắc lại tuyên bố này của ông Tập, có lẽ công luận thực sự lo ngại là tình trạng tài chính của nền kinh tế thứ hai toàn cầu đang xấu đi và vì nên vậy phải kết hợp cùng lúc hai công cụ để vực dậy kinh tế. Nghĩa là vừa phải tăng ngân sách vừa phải nới rộng các chính sách tiền tệ và phải tích cực hơn trong nỗ lực vận dụng cả hai công cụ này ».

    Nhưng về cơ bản « mua lại công trái phiếu là gì » và trong trường hợp của Trung Quốc, giải pháp đó có hiệu quả hay không ?  

    Victor Lequillerier : « Áp dụng biện pháp đó có nghĩa là Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc trực tiếp hoặc gián tiếp can thiệp để thúc đẩy kinh tế. Ngân Hàng Trung Ương không bơm thêm tiền để làm tăng mức nợ công của nhà nước hay của các chính quyền địa phương. Định chế này chỉ mua lại công trái phiếu nhà nước phát hành và có thể là chúng đang do các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư … hay các chính quyền địa phương nắm giữ.

    Trong trường hợp của Trung Quốc có nghĩa là chính sách tiền tệ sẽ có hiệu quả lớn hơn, một khi mà những ai đang nắm giữ công trái phiếu được bảo đảm rằng, ở bất kỳ thời điểm nào, chúng cũng có thể được hoán chuyển thành tiền mặt. Điều đó có nghĩa là lãi suất chỉ đạo ngân hàng sẽ lại càng được giảm xuống, qua đó những lãi suất tín dụng khác cũng giảm xuống theo …. Câu đặt ra là liệu rằng biện pháp mua lại công trái phiếu có thích hợp với trường hợp của Trung Quốc hiện nay hay không ? Tôi nghĩ là không : bởi vì Ngân Hàng Trung Ương vẫn còn nhiều công cụ có thể sử dụng được trước khi cần phải mua lại công trái phiếu ».

    Chưa cần đến giải pháp cuối cùng 

    Mua lại công trái phiếu cho phép nới lỏng định lượng ngân hàng, qua đó giảm lợi suất trái phiếu và kích thích kinh tế nhưng đối với Trung Quốc, thì thứ nhất là lãi suất đã được giữ ở mức thấp và thứ hai là như chuyên gia về tài chính ngân hàng của Pháp Victor Lequillerier vừa giải thích Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc vẫn còn nhiều lá chủ bài trong tay trước khi phải sử dụng đến đòn mua lại công trái phiếu như ông Tập Cận Bình đề xướng. Đồng sáng lập viên cơ quan tư vấn BSI Economics cho rằng trước mắt Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc chưa sử dụng hết tất cả những công cụ có sẵn trong tay :

    Victor Lequillerier : « Những công cụ đó thông thường là các loại lãi suất ngân hàng, với một vài nét hơi đặc biệt của Trung Quốc. Tôi muốn nói đến lãi suất LPR, tức là lãi suất cho vay cơ bản. Ở Trung Quốc LPR có thời hạn 5 năm được xem là một lãi suất để tham khảo và từ đó ấn định lãi suất thế chấp trên thị trường. Ngoài ra còn có những công cụ tài chính khác như các khoản giao dịch Repo và Reverse Repo để những ai đang nắm giữ cổ phiếu hoặc công trái phiếu dễ dàng bán đi với cam kết là sẽ mua lại chúng trong một thời hạn nhất định với giá cao hơn so với giá đã bán ra ban đầu. Biện pháp này cho phép nhanh chóng huy động tiền mặt.

    Công cụ thứ ba là lãi suất cho vay trung hạn MLF. Cuối cùng, Ngân Hàng Trung Ương vừa có thể điều chỉnh các loại lãi suất ngân hàng như đã nói, vừa có thể điều chỉnh mức dự trữ bắt buộc của các ngân hàng. Hạ thấp khoản dự trữ bắt buộc cho phép ngân hàng dễ dàng mở van tín dụng, cấp thêm vốn cho tư nhân, cho các chính quyền địa phương để thúc đẩy kinh tế. Vậy tại sao lại phải sử dụng đến chính sách « mua lại công trái phiếu » ? Trên nguyên tắc, mua lại công trái phiếu là liều thuốc sau cùng, khi « đã hết thuốc chữa ». Tuy nhiên tình trạng của Trung Quốc không tuyệt vọng đến như vậy bởi vì Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc vẫn có thể tiếp tục hạ lãi suất để kích cầu ».

    Coi chừng lợi bất cập hại 

    Đề xuất của ông Tập Cận Bình là con dao hai lưỡi. Một mặt biện pháp này cho phép kích cầu nhờ lãi suất chỉ đạo ngân hàng được hạ xuống thấp. Mặt khác, lãi suất thấp cũng có nhiều bất lợi cho Trung Quốc nhất là khi mà suất ngân hàng ở Mỹ, châu Âu đang tăng lên cao. Đồng nhân dân tệ bị mất giá và vốn đầu tư ngoại quốc có khuynh hướng « chạy » sang nơi khác với hy vọng kiếm lời cao hơn.

    Ngoài ra Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc thận trọng với giải pháp của ông Tập Cận Bình do biện pháp mua vào công trái phiếu sẽ thổi nên những quả bóng đầu cơ khác và đó là điều Ngân Hàng Trung Ương không muốn xảy ra.

    Câu hỏi cuối cùng : giải pháp huy động Ngân Hàng Trung Ương mua lại công trái phiếu có cho phép kích thích tăng trưởng của Trung Quốc và ngăn chận hiện tượng chảy máu đầu tư trực tiếp nước ngoài khỏi Hoa Lục hay không ?  

    Victor Lequillerier : « Ở đây có hai vấn đề : quyết định của ông Tập là nhằm tăng cường mọi khả năng để hạ lãi suất ngân hàng và bảo đảm rằng mọi tác nhân trong chuỗi kinh tế của Trung Quốc không sợ bị thiếu thanh khoản, bởi đã có Ngân Hàng Trung Ương đứng ra bảo đảm. Hệ quả kèm theo là các chính quyền địa phương có thể huy động thêm vốn để tiếp tục tài trợ các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong trường hợp cần thiết, họ được trung ương, qua vai trò của Ngân Hàng Trung Ương cung cấp tiền mặt. Nói cách khác các cấp tỉnh, cấp vùng có phương tiện để đạt mục tiêu tăng trưởng 5 % như trung ương đã đề ra. Nhưng bên cạnh đó biện pháp này không giúp giải quyết vấn đề Trung Quốc đang để thất thoát đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hoa Lục giảm mạnh là do những chính sách kinh tế của Bắc Kinh, do môi trường cạnh tranh bất lợi cho doanh nghiệp ngoại quốc.... Thành thử biện pháp mua vào công trái phiếu không giúp Bắc Kinh đảo ngược thế cờ và lôi kéo trở lại các nguồn đầu tư của quốc tế vào Trung Quốc ».    

    Bên cạnh những phân tích thuần túy mang tính kỹ thuật của ngành ngân hàng đó, giới nghiên cứu cũng lưu ý rằng : Bắc Kinh đang đi tìm một « mô hình kinh tế mới » với « những mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng » có nghĩa là vừa phải « ổn định được những gì đang đem lại tăng trưởng cho Trung Quốc từ trước đến nay » (như bất thị trường nhà đất, như các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng) đồng thời phải « ồ ạt đầu tư vào các mảng công nghệ mới » (trong số này bao gồm từ trí tuệ nhân tạo đến công nghiệp sản xuất xe ô tô điện hay pin mặt trời …).

    Trung Quốc ý thức được rằng lĩnh vực địa ốc, có trọng lượng tương đương với gần 1/3 tổng sản phẩm nội địa trong ba năm liên tiếp cần phải được hồi sinh. Các giới chức chính trị và kinh tế ở Bắc Kinh hiểu rõ hơn ai hết là đầu tàu tăng trưởng của Trung Quốc trong những năm sắp tới không phải là sản xuất hàng may mặc hay máy tính điện tử và kể cả những tấm pin mặt trời mà là những trang thiết bị viễn thông thế hệ mới, là bí quyết làm chủ trí tuệ nhân tạo … do vậy Trung Quốc cần rất nhiều vốn trong giai đoạn chuyển đổi sang một nền công nghệ của tương lai. 

    Để bảo đảm tăng trưởng cho cả các lĩnh vực truyền thống và tương lai đó mà Trung Quốc cần huy động nhiều vốn tối đa và trong thời gian ngắn nhất. Có lẽ đấy mới là chủ đích khi ông Tập huy động Ngân Hàng Trung Ương mở rộng chính sách tiền tệ. 

    10 min
  • Dịch vụ điện toán - digital của Pháp : Atos, con chim đầu đàn gẫy cánh

    Hơn 100 ngày trước lễ khai mạc Olympic Paris 2024, tập đoàn Pháp Atos, một trong những cột trụ bảo đảm các dịch vụ điện toán, an toàn cho môi trường digital của sự kiện thể thao trọng đại nhất toàn cầu, rơi vào tâm bão. Atos mất đến 97 % trị giá trên các sàn chứng khoán trong 4 năm và có đúng 4 tháng để huy động 3,5 tỷ euro thanh toán nợ đáo hạn.

    Công ty Atos bảo đảm các dịch vụ máy tính cho các nhà máy điện hạt nhân và quản lý, cất giữ các dữ liệu hành chính liên quan đến gần 70 triệu dân Pháp. Chính phủ kỳ vọng vào con chim đầu đàn về tin học này để phát triển trí tuệ nhân tạo, để độc lập với công nghệ digital của Mỹ, để bảo mật các dữ liệu « nhậy cảm » về an ninh, đề phòng những hoạt động phi pháp từ các toán tin tặc, nhất là của Nga, Trung Quốc hay Iran, Bắc Triều Tiên. 

    Olympic Paris 2024 không chỉ là sân chơi cho các vận động viên quốc tế tranh tài. Đây còn là tủ kính để các tập đoàn công nghệ số hàng đầu thế giới cạnh tranh. Thế Vận Hội cũng là đấu trường giữa các công ty bảo vệ an ninh mạng với các toán tin tặc càng lúc càng năng động với những kỹ thuật và chiến lược càng lúc càng tinh vi. Tổ chức trên sân nhà, Pháp kỳ vọng nhiều vào Atos.

    Một cách cụ thể, Atos lo liệu nhiều khâu dịch vụ khác nhau, từ việc đăng ký và cấp giấy phép cho các vận động viên, các phái đoàn đến dự Olympic Paris, phân phối vé vào cửa cho mỗi cuộc tranh tài, bảo đảm dịch vụ niêm yết trực tiếp về kết quả các cuộc thi đấu trong suốt thời gian diễn ra Thế Vận Hội và Paralympic. Điều đó cũng có nghĩa là tập đoàn Pháp này nắm giữ rất, rất nhiều thông tin cá nhân nhậy cảm liên quan đến các vận động viên của thế giới, đến các quan chức trong những phái đoàn quốc gia, liên quan đến thẻ tín dụng ngân hàng của tất cả những ai đặt vé vào xem các cuộc tranh tài … Atos cũng sẽ phải bảo đảm rằng trong 3 tuần lễ Olympic và gần 2 tuần Paralympic, không một tác nhân « ngoài cuộc nào thâm nhập được vào các hệ thống tin học » của nước chủ nhà, của các hãng gia công, không một sự cố nghiêm trọng nào « đánh sập » trang nhà Thế Vận Hội Paris, làm tê liệt hệ thống mua bán vé trên mạng, hay can thiệp vào mạng các cơ sở hạ tầng thiết yếu trên toàn quốc …

    Được thành lập từ 1997, theo bảng xếp hạng NelsonHall (của Anh), Atos là một trong ba tập đoàn hàng đầu thế giới có mức độ « đáng tin cậy nhất, hiệu quả nhất » để chận các vụ thâm nhập bất hợp pháp vào mạng tin học của các mục tiêu bị nhắm tới. Atos có « 15 trung tâm an ninh mạng, 6.000 chuyên gia và 30 năm kinh nghiệm », áp dụng các hệ thống tin học được sử dụng trong thế giới thể thao.

    Một cột trụ lung lay trước những thách thức lớn

    Chỉ có điều là con chim đầu đàn này đang gặp nạn vào lúc nguy cơ Olympic Paris gặp sự cố tin học « cao hơn gấp từ 8 đến 10 lần so với Thế Vận Hội Tokyo hồi năm 2021 ». Một lãnh đạo cao cấp của Atos đã nhắc lại là « 450 triệu sự cố cyber » đã xảy ra nhân Olympic Tokyo 2021. Cơ quan quốc gia Pháp đặc trách về an toàn cho các hệ thống tin học ANSSI trong báo cáo cuối tháng 2/2024 đặc biệt chú ý đến các hoạt động của tác toán tin tặc do Nga, Trung Quốc, Iran và Bắc Triều Tiên giật dây.

    Hỏa ngục tài chính

    Vậy mà hơn 100 ngày trước lễ Khai Mạc Thế Vận Hội Paris, các tin xấu dồn dập đổ vào Atos : Từ nay đến cuối tháng 7, tập đoàn này phải gấp rút huy động 3,5 tỷ euro thanh toán nợ đáo hạn (trước cuối 2025). Hai đối tác duy nhất và được coi là có triển vọng nhất đang đàm phán để mua lại một phần vốn của Atos thì vào giờ chót tuyên bố bỏ cuộc.

    Điều đó có nghĩa là tập đoàn số 3 thế giới trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tin học phải đàm phán lại - gần như là từ đầu, mất thêm thời gian để huy động vốn. Trên sàn chứng khoán, cổ phiếu của Atos rơi xuống còn chưa đầy 2 euro thay vì cả trăm euro như hồi năm 2020.

    Trên kênh truyền hình tư nhân BFM TV, Guy Mamou Mani, chủ tịch - tổng giám đốc cơ quan tư vấn Gadax Conseil, trụ sở tại quận 9 Paris, nhấn mạnh đến một nghịch lý khó hiểu : Atos bị các cổ đông ruồng bỏ cho dù vẫn không ngừng thu vào thêm những hợp đồng mới.

    Những khách hàng của Atos là những « giá trị đáng tin cậy » như Ủy Ban Thế Vận Quốc Tế CIO, như nhà nước Pháp, quân đội Pháp, như Cơ Quan Vũ Trụ và Không Gian Châu Âu, là những tên tuổi lớn trong ngành tài chính ngân hàng, năng lượng … của Pháp và châu Âu : « Atos là một tập đoàn với hơn 100 ngàn nhân viên trên thế giới, là một hãng chuyên cung cấp những dịch vụ về điện toán hiếm có trên thế giới, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Nghịch lý ở đây là Atos vẫn đang ký thêm hợp đồng, làm việc với nhiều hãng lớn, không ngừng mở rộng danh sách các thân chủ tín nhiệm Atos và nhất là đang nắm giữ nhiều lĩnh vực then chốt và chiến lược, khó có thể ủy thác cho các công ty nước ngoài. Nhưng bên cạnh đó là tình trạng tài chính vô cùng tệ hại của con chim đầu đàn này ».

    Nguy cơ bị xẻ lẻ

    Ngay từ khi được thành lập năm 1997 Atos có nhiệm vụ quản lý hệ thống tin học cho các cơ quan nhà nước. Với vai trò càng lớn của công nghệ kỹ thuật số, của các dịch vụ trên mạng, Atos giờ đây quản lý, bảo đảm an ninh cho hệ thống điện toán của sở thuế vụ quốc gia, của các cơ quan bảo hiểm y tế, xã hội, thất nghiệp … tại Pháp. Các nhà máy điện lực, hệ thống giao thông công cộng, hệ thống tài chính ngân hàng của Pháp … và nhiều đối tác châu Âu đều trong tay Atos. Các hoạt động này được tập trung trong thực thể mang tên Tech Foundations. 

    Ngoài ra, Atos còn là một trong những nhà sản xuất « siêu máy tính » hiếm hoi trên thế giới với chức năng tiến hành hàng tỷ, tỷ phép tính số học mỗi ngày để sử dụng trong cac lĩnh vực khoa học, quân sự hay trí tuệ nhân tạo … Atos cũng chuyên về phát triển trí tuệ nhân tạo, công nghệ data, bảo đảm an ninh trong môi trường digital. Mảng hoạt động này đang được phát triển mạnh, do Eviden và BDS điều hành, cả hai cùng là những chi nhánh của Atos. 

    Trở lại câu hỏi vì sao Atos rớt đài ? Chủ tịch - tổng giám đốc cơ quan tư vấn Gadax Conseil của Pháp thực sự lấy làm tiếc là tương tự như nhiều đại tập đoàn công nghiệp trên thế giới, tiếng nói của các cổ đông càng lúc càng được lắng nghe. Hệ quả kèm theo là « không một kỹ sư có kinh nghiệm trong ngành được mời tham gia hội đồng quản trị của Atos. Đây là câu lạc bộ độc quyền của một số chính khách và rất nhiều ông chủ ngân hàng, chủ nhân các quỹ đầu tư … »  

    Leïla Marchand, nhà báo chuyên phụ trách chuyên mục Tech Medias của báo kinh tế Les Echos, giải thích : « Về mặt chính thức, chúng ta biết hãng này đang gặp khó khăn, sau một loạt những tính toán sai lầm, và từ năm 2021 Atos đã tính đến khả năng chuyển nhượng lại một số hoạt động của công ty. Chủ yếu là tách rời hai mảng : bán đi các chi nhánh đang gặp khó khăn, để chỉ giữ lại những lĩnh vực đang cho phép thu về lợi nhuận cao và như là bảo đảm các dịch vụ an ninh mạng và sử dụng siêu máy tính để điều hành các nhà máy điện hạt nhân ».

    Nguy cơ chuyển nhượng một lĩnh vực « nhậy cảm » cho một nhà đầu tư nước ngoài

    Do vậy, nghịch lý ở đây là Atos bị đẩy vào thế phải chạy đua với thời gian, tìm ra vài tỷ euro để thỏa mãn đòi hỏi ngày càng lớn của các cổ đông. Trong cuộc chạy đua đi tìm lợi nhuận đó, « một trong những con chim đầu đàn có thể bảo đảm được thế tự chủ của Pháp về công nghệ trong thời đại kỹ thuật số » có nguy cơ đánh mất đi những công cụ quý giá, như là một đội ngũ chuyên gia với tay nghề cao, uy tín của một rào cản đáng tin cậy để bảo mật những thông tin liên quan đến an ninh quốc gia. Tệ hơn nữa, Atos, trong thế yếu, đang đàm phán với một nhà tài phiệt gốc Séc để chuyển nhượng lại một phần những hoạt động mà chính nhà nước Pháp coi là « ưu tiên hàng đầu để giành lấy quyền tự chủ và độc lập với công nghệ của Mỹ ».

    Leïla Marchand, báo Les Echos của Pháp, giải thích tiếp : « Điều cấp bách nhất hiện nay là phải có tiền mặt vì Atos đang bị đẩy vào chân tường, trước một núi nợ 5 tỷ euro, trong đó 3,5 tỷ phải được thanh toán trước cuối năm 2025. Tức là trong bối cảnh đó, Atos đang phải đàm phán lại với các chủ nợ, đồng thời nằm trong tầm ngắm của các cơ quan thẩm định tài chính. Tháng Giêng 2024, mức độ đáng tin cậy của Atos đã bị hạ 3 nấc điểm. Vào lúc cần phải đi vay thêm, cần phải tìm kiếm các đối tác để mua lại một phần các hoạt động của mình thì Atos lại bị công ty thẩm định tài chính Mỹ, S&P, xếp vào loại những tập đoàn mang tính rủi ro cao ».

    Về phần Gwenaëlle Barzic, cũng thuộc tờ Les Echos, bà coi việc Atos bị S&P hạ điểm tín nhiệm là một đòn chí tử gây thêm khó khăn cho một trong những công ty có triển vọng nhất của Pháp trong lĩng vực digital : « Đây là một tin quan trọng vì bị hạ điểm tín nhiệm như vậy tạo hoang mang nơi một số thân chủ của Atos, và thậm chí là một số khách hàng có thể quay lưng lại với một tập đoàn có điểm tín nhiệm quá thấp. Hơn nữa, với điểm tín nhiệm thấp như vậy, Atos càng bị suy yếu vào lúc hãng này cần đàm phán lại về hợp đồng để chuyển nhượng lại một số hoạt động và cần huy động vốn để chuẩn bị thanh toán nợ hàng tỷ euro sắp đáo hạn ».

    Trước mắt, Atos khẳng định những biến động về tình hình tài chính của tập đoàn này không ảnh hưởng đến các thân chủ và sẽ vẫn chu toàn nhiệm vụ theo hợp đồng trong mùa Thế Vận Hội Paris năm nay.   

    Ba bài học từ Atos

    Tuy nhiên, hiện thời có ít nhất ba bài học có thể rút ra được từ trường hợp đặc biệt của Atos : một là thế rất mạnh của các cổ đông có thể tạo nên một cơn bão vô tiền khoáng hậu và thậm chí là có nguy cơ khai tử một trong những tập đoàn được cho là thuộc diện an toàn nhất.

    Thứ hai là bên cạnh những tính toán đầy mạo hiểm từ nhiều đời lãnh đạo khác nhau để phát triển và vươn lên thành một trong những công ty mũi nhọn trên thế giới digital, Atos đang trả giá cho một số sai lầm, mà điển hình là núi nợ 5 tỷ euro phải thanh toán trước ngưỡng 2029.

    Điểm thứ ba là cho dù chính phủ Pháp, cũng như Liên Âu, đã đề ra mục tiêu « tự chủ về công nghệ, data, trí tuệ nhân tạo, tăng cường an ninh mạng ... », nhưng những khẩu hiệu đó đang vấp phải thực tế như trong trường hợp của Atos hiện nay. Đó là chưa kể đến những đòn cạnh tranh nguy hiểm ngay giữa các thành viên của châu Âu là Pháp và Đức. Bởi trong hồ sơ giải cứu Atos này, dự án tập đoàn Airbus, mà Pháp và Đức là hai thành viên chủ chốt, mua lại chi nhánh BDS đã nhiều lần bị hỏng, để rồi tạm thời một tập đoàn của Đức, đối thủ cạnh tranh với Atos, hưởng lợi.

    115 ngày trước Olympic Paris 2024 và trước áp lực rất lớn mà các toán tin tặc đang đặt ra, ai cùng biết rằng thành công hay thất bại của Thế Vận Hội lần này phần nào tùy thuộc và khả năng của Pháp « bảo đảm an ninh và an toàn cho các hệ thống tin học ». Đối với Atos cũng như nước chủ nhà, mục đích duy nhất sẽ là làm thế nào để tất cả các toán tin tặc bị việt vị trong suốt mùa Thế Vận Hội và Paralympic Paris.

    10 min
  • Nông sản Ukraina trong tầm ngắm của nông dân châu Âu : Nga thắng lớn

    Nông dân tại nhiều nước trong Liên Hiệp Châu Âu, những đồng minh gắn bó với Kiev, phẫn nộ vì nông phẩm rẻ Ukraina phá giá thị trường. Trong khi đó lúa mì, ngô và ngũ cốc của Nga dễ dàng được nhiều nước trong Liên Âu « mở rộng vòng tay chào đón » mà không bị cáo buộc « cạnh tranh bất bình đẳng » với nông phẩm của châu Âu. Đây là một « thắng lợi quan trọng về nhiều mặt » đối với Matxcơva từ khi Vladimir Putin đưa quân xâm chiếm Ukraina.  

    25 tháng sau khi những người lính Nga đầu tiên tràn sang biên giới Ukraina, mãi đến hôm 22/03/2024 Ủy Ban Châu Âu mới đề nghị tăng thuế đánh vào ngũ cốc, dầu ăn của Nga. Một công đôi việc : vừa ngăn chận nông phẩm rẻ khuynh đảo thị trường châu Âu (qua đó xoa dịu nỗi công phẫn trong giới nông gia trước bầu cử Nghị Viện châu Âu), vừa ngừng tài trợ cho cỗ máy chiến tranh của Vladimir Putin.

    Tại sao phải mất hơn 2 năm, Liên Âu mới nhắm tới đến nông phẩm của Nga ? Sau nhiều tháng « khủng hoảng », nông dân Ba Lan, Solvakia hay các nước vùng Baltic, chận xe tải chở lương thực, thực phẩm Ukraina ở các đường biên giới, sau việc 5 nước thành viên Liên Âu đầu mùa thu 2023 tạm cấm nhập khẩu ngũ cốc Ukraina, Bruxelles mới đề nghị tăng thuế nhập khẩu đánh vào nông phẩm của Nga (ngũ cốc, ngô, lúa mì, dầu thực vật và các sản phẩm chế biến từ dầu…) bán trực tiếp cho Liên Âu. Biện pháp đề xuất đó không liên quan đến nông phẩm của Nga chỉ trung chuyển qua khối này để xuất khẩu sang một thị trường khác như châu Phi, hay Trung Đông …

    Chiến tranh Ukraina, nông dân Nga hưởng lợi

    Thống kê của châu Âu cho thấy từ tháng 7/2023 đến tháng 1/2024, Liên Âu hàng tháng nhập khẩu ngũ cốc từ Nga cao hơn « gấp 5 lần so với mức trung bình của 5 năm gần đây ».  

    Ý và Tây Ban Nha là hai nước mua vào nhiều nhất ngũ cốc của Nga. Lúa mì của Nga bán cho Ý tăng 82 % trong chưa đầy một năm, đạt 423.000 tấn hồi 2023.

    Theo giới quan sát, điện Kremlin có nhiều lý do để vẫn yên tâm « trên mặt trận nông nghiệp » vào lúc mà Bruxelles đòi đánh thuế nông phẩm Nga. Thứ nhất, đây mới chỉ là một đề xuất được Liên Hiệp Châu Âu đưa ra trong phiên hôm 22/03/2024, mà ai cũng biết là về bất cứ một vất đề gì, 27 thành viên Liên Âu luôn cần « thảo luận, đàm phán » rất nhiều trước khi tìm được đồng thuận và thực sự áp dụng chính sách đã đề ra.

    Điểm thứ nhì là đành rằng do tác động chiến tranh Ukraina và châu Âu vẫn để ngỏ cửa cho hàng của Nga thâm nhập, nhưng chỉ riêng về ngũ cốc, nhập khẩu của Liên Âu (mà Nga chỉ là một trong số các đối tác) tính ra chưa đầy 0,56 % so với khối lượng ngũ cốc mà khối này bán ra cho toàn thế giới. Nói cách khác, đánh thuế nông phẩm của Nga chỉ mang tính tượng trưng chứ không ảnh hưởng gì đến nông dân Nga, đến các hoạt động xuất khẩu nông phẩm của Nga.

    Điểm thứ ba là vào lúc Liên Âu bàn thảo về khả năng tăng thuế nhập khẩu đối với nông phẩm Nga thì Bruxelles, vì bảo vệ lợi ích cho nông dân khối châu Âu, cũng trở nên ích kỷ hơn và ít đoàn kết hơn với nông dân Ukraina.

    Hầu như mỗi ngày các phương tiện truyền thông của Pháp, Đức hay Ba Lan, Slovakia đều điểm danh thịt gà, trứng, đường, ngô, dầu ăn… của Ukraina nhân gây xáo trộn trên thị trường lương thực thực phẩm của Liên Hiệp Châu Âu, gây thiệt hại cho giới chăn nuôi của khối này.

    Nông gia Châu Âu có lợi cho Putin tịch thu một công cụ kháng chiến của Kiev

    Châu Âu càng đau đầu vì nông phẩm Ukraina, Nga càng mừng. Hình ảnh nông dân Ba Lan (mà Vacxava là điểm tựa trung thành và vững chắc của chính quyền Kiev ngay từ những ngày đầu chiến tranh), đổ nông phẩm Ukraina xuống đường, cũng đủ để thách thức tính đoàn kết của quốc gia đông Âu này với Ukraina. Đó là một thắng lợi về mặt tâm lý mà Matxcơva không phải tốn đến một xu !

    Hơn thế nữa, từ khi nổ ra chiến tranh, nếu như tổng thống Nga Vladimir Putin trông cậy vào năng lượng để tài trợ « chiến dịch quân sự đặc biệt », thì nông phẩm đối với tổng thống Ukraina, Volodymyr Zelenski, cũng là một công cụ kháng chiến.

    Trong một chương trình về địa chính trị, do giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp, ông Pascal Boniface điều hành, nhà nghiên cứu về lương thực, thực phẩm Sébastien Abis, giám đốc Câu Lạc Bộ Club Déméter phân tích :

    Sébastien Abis : Trong trường hợp cụ thể của Ukraina, một cường quốc nông nghiệp trên thế giới, bị ngăn cản xuất khẩu qua ngả Biển Đen cho nên chính quyền Kiev đã phải tìm những giải pháp thay thế, bằng đường sông, đường bộ. Tuy nhiên, sau hai năm chiến tranh, Ukraina đã có khả năng thích nghi, xuất khẩu trở lại qua Biển Đen. Từ một vài tháng trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu lương thực, thực phẩm của quốc gia này đã trở lại ngang bằng với thời kỳ trước khi bị Nga xâm chiếm. Đối với Ukraina thì xuất khẩu nông phẩm mang yếu tố sống còn. Đây là một trong những cột trụ của kinh tế Ukraina trong giai đọan chiến tranh. Nhờ xuất khẩu nông phẩm mà Kiev có phương tiện kháng cự trước sức mạnh quân sự của Nga.

    Cũng chính hồ sơ nông nghiệp đã đẩy căng thẳng giữa Kiev và Vacxava lên cao đến mức, vào tháng 9/2023, vài tuần trước bầu cử Quốc Hội, Ba Lan tuyên bố « ngừng cung cấp vũ khí cho Ukraina ». Ba Lan là cửa ngõ chính đưa viện trợ vũ khí của phương Tây vào Ukraina.

    Tuyên bố cuả thủ tướng khi đó là ông Mateusz Morawiecki, (với lâp trường bảo thủ) đã gây chấn động đến nỗi tổng thống Ba Lan cùng phe với Morawiecki đã vội vàng giải thích đấy là một sự « hiểu nhầm ».

    Sau bầu cử Quốc Hội Ba Lan, tân chính phủ do thủ tướng Donald Tusk, một người có lập trường cởi mở với châu Âu đứng đầu, nhưng nông dân Ba Lan vẫn bất mãn vì bị nông phẩm rẻ của Ukraina cạnh tranh.

    Sự phẫn nộ đó dễ hiểu do : từ đầu chiến tranh Ukraina, Bruxelles mở cửa cho Kiev tự do xuất khẩu từ lúa mì đến ngũ cốc vào Liên Âu bằng đường bộ. Liên Hiệp Châu Âu không áp dụng các hàng rào quan thuế, cũng không quy định hạn ngạch quota.

    Trên nguyên tắc, khối lượng thực phẩm đó sẽ tiếp tục được chuyển tới một thị trường ở ngoài khối châu Âu. Thực tế có phần khác. Thống kê của Liên Hiệp Châu Âu Eurostat cho thấy : lượng lúa mì Ukraina tràn vào Liên Âu trong hai năm đã được « nhân cao lên tới 17 lần so với trước chiến tranh ». Cùng thời kỳ, giá một tấn lúa mì trên thị trường quốc tế đang từ 430 euro nay đã giảm xuống còn chưa đầy 200 euro/tấn. Giới chăn nuôi trong Liên Hiệp Châu Âu nói đến một « sự sụp đổ trên thị trường » và lên án Ukraina « cạnh tranh bất bình đẳng ».

    Về phía Kiev, tổng thống Zelensky hoàn toàn ý thức được là « già néo đứt dây » nên đã liên tục tỏ thiện chí trên hồ sơ nông nghiệp. Gần đây nhất, hôm 25/03/2024, Ukraina khẳng định sẵn sàng « kiểm soát các luồng xuất khẩu liên quan đến 4 loại ngũ cốc » sang Ba Lan và đã có những thỏa thuận tương tự với một số quốc gia khác như Rumani hay Bulgari.

    Lòng tốt của Liên Âu có hạn

    Chuyên gia về tầm mức địa chính trị của lương thực, thực phẩm Sébastien Abis cũng trong chương trình của Viện IRIS phân tích thêm :

    Sébastien Abis : Vấn đề Ukraina rất tế nhị bởi ở đây bao hàm tất cả những mâu thuẫn giữa tầm nhìn đôi khi thiển cận của Liên Âu. Ở đây đặt ra hai vấn đề : một là chính sách nông nghiệp chung châu Âu PAC mà trên thực tế trong thời gian gần đây, mỗi thành viên đều chủ động đưa ra một số biện pháp riêng lẻ để bảo vệ nông dân của mình. Tình thần cộng hưởng của chính sách nông nghiệp chung châu Âu trong một chừng mực nào đó đã bị một số thành viên xé rào từ 2023. Điểm thứ nhì là trong bối cảnh chiến tranh Ukraina, thì ngay từ những ngày đầu, Liên Hiệp Châu Âu đã rất đoàn kết với Ukraina và đã giúp đỡ Kiev về mọi mặt, kể cả trong việc tìm cách đưa lúa mì, ngũ cốc … của Ukraina ra khỏi các vùng chiến sự để bán được cho nước ngoài. Cũng ngay từ những ngay đầu cuộc chiến, Bruxelles đã lập tức cắt giảm các hàng rào thuế quan đánh vào nông phẩm của Ukraina. Liên Âu thực sự đứng về phía Ukraina và nhấn mạnh đến vị trí của quốc gia này trong khối Châu Âu. Song Ukraina như vừa nói là một cường quốc nông nghiệp, mà mại không phải tuân thủ các chuẩn mực hay quy định nghiêm ngặt của Liên Hiệp Châu Âu về môi trường, về sinh thái, về các điều khoản vệ sinh, y tế …. Lao động của Ukraina rẻ hơn nhiều so với trong khối 27 nước thành viên Liên Âu. Thành thử nhiều lĩnh vực nông nghiệp của châu Âu cạnh tranh không lại với nông phẩm Ukraina. Thí dụ như ban đầu ngũ cốc của Ukraina đánh bại hàng từ phía các nước đông Âu, rồi tới gà Ukraina rẻ hơn so với của các nước Tây Âu, thế rồi đường, lúa mì của Ukraina rẻ hơn so với giá thành ở Pháp…. Đến một lúc nào đó, nông gia châu Âu phẫn nộ …

    Phòng Nông Nghiệp Pháp ghi nhận : Năm 2022, hơn 50 % trứng gà Ukraina bán ra cho thế giới bán sang Liên Hiệp Châu Âu. Xuất khẩu của Ukraina sang thị trường châu Âu trên mặt hàng này đã nhân lên gấp 10 trong vòng một năm. Trước khi Nga xâm lược Ukraina, chỉ có 20 % đường cát sản xuất tại Ukraina được dành để bán sang Liên Âu. Dưới tác động chiến tranh, tỷ lệ đó tăng lên tới 74 %

    Điều khiến nhiều thành viên trong Liên Hiệp Châu Âu bất bình là sau hai năm chiến tranh, Ukraina đã thích nghi với tình huống, giao thương hàng hải ở Biển Đen không còn bị đứt quãng như trong nửa đầu năm 2022. Lạm phát vẫn tồn tại và giá nhu yếu phẩm tại một số quốc gia vẫn còn cao, nhưng giá một tấn lúa mì giờ đây đã giảm đi hơn 50 % so với những tháng đầu cuộc chiến. Thậm chí, các hoạt động ở những bến cảng Ukraina chung quanh Biển Đen đã phục hồi và tìm lại được « nhịp độ như trước tháng 2/2022 ».

    Do vậy, Kiev khó chỉ trích Bruxelles ích kỷ khi mà Ủy Ban Châu Âu « điều chỉnh lại » các biện pháp hỗ trợ nông nghiệp cho Ukraina. Đó là chưa kể bài toán của Liên Âu càng thêm khó hơn hai tháng trước bầu cử Nghị Viện. Khuynh hướng chung là các đảng cực tả và cực hữu khai thác phẫn nộ của nông dân châu Âu để kiếm phiếu. 

    10 min
  • Giải quyết nợ ở cấp địa phương Trung Quốc : Thất bại được báo trước

    Khóa họp Lưỡng Hội Trung Quốc 2024 kết thúc với kết quả « 3 Không » : « Không thuyết phục được giới đầu tư quay lại Hoa Lục ; Không đạt được mục tiêu tăng trưởng 5 % và Không có chính sách kinh tế rõ ràng ». Chuyên gia về Trung Quốc, sáng lập viên cơ quan tư vấn Cercius tại Montréal, Canada, Alex Payette nhận xét như trên về sự kiện chính trị vừa khép lại tại Bắc Kinh hôm 11/03/2024.   

    Cho dù lần này thủ tướng Lý Cường đã không họp báo như thông lệ bên lề khóa họp Quốc Hội nhưng trong phiên khai mạc hôm 05/03/2024, như mọi năm, chủ tịch Quốc Vụ Viện thông báo mục tiêu tăng trưởng và Bắc Kinh dự phóng GDP năm nay tăng 5 %. Tuy nhiên không một nhà quan sát nào tin vào con số đó. Các nhà đầu tư thất vọng trước những thông báo bị cho là « trống đánh xuôi, kèn thổi ngược » của Bắc Kinh trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng và cũng không ai tin tưởng vào mục tiêu giải quyết nợ cho các chính quyền địa phương, đã tương đương với 50 % GDP của Trung Quốc theo thẩm định của nhiều cơ quan tài chính quốc tế.

    Mục tiêu tăng trưởng 5 % KHÔNG có cơ sở

    Trước hết về về mục tiêu tăng trưởng được ông Lý Cường loan báo, giám đốc và đồng sáng lập viên cơ quan tư vấn Cercius cho rằng chỉ tiêu GDP tăng 5 % cho năm 2024 « không thực tế ». Lý do là tiêu thụ nội địa không khởi động lại từ sau đại dịch Covid mà đây là hệ quả từ khủng hoảng địa ốc kéo dài. Nhìn đến xuất khẩu, các chỉ số đều cho thấy hoạt động tăng chậm lại khi mà hai thị trường lớn nhất là Mỹ và châu Âu thận trọng hơn với hàng rẻ Trung Quốc, khi mà bất ổn ở Hồng Hải gây xáo trộn các tuyến đường giao thương trên biển trong lúc mà tiêu thụ ở châu Phi, tại Đông Nam Á và cả Nga đã không tăng nhanh như mong muốn.

    KHÔNG có những biện pháp cụ thể chặn chẩy máu đầu tư

    Vẫn về kinh tế, điểm thứ nhì khóa họp Chính Hiệp và Quốc Hội Trung Quốc lần này gây thất vọng là « ngoại trừ một vài con số và khẩu hiệu được đưa ra », về thực chất sự kiện vừa rồi đã « không cung cấp bất kỳ một thông tin nào đáng chú ý về chính sách của Trung Quốc cho năm nay ». Thất vọng hơn nữa theo chuyên gia Alex Payette là vào lúc tình hình kinh tế đang xấu đi và giới quan sát chờ đợi Bắc Kinh phải đưa ra một số biện pháp mạnh để « điều chỉnh » lại tình hình, thí dụ như là ngăn chận hiện tượng « chảy máu tư bản » khỏi Hoa Lục, thì chỉ thấy Bắc Kinh cảnh báo sẽ gia tăng kiểm soát hoạt động của các thị trường tài chính.

    Mới chỉ một vài năm trước đây, các kỳ hợp Lưỡng Hội diễn ra trong vòng từ 10 đến 15 ngày, thì lần này sự kiện chính trị đó đã bị thu gọn trong đúng 1 tuần lễ, rồi sự kiện thủ tướng Lý Cường -người quản lý các bộ và cơ quan ngang bộ, hủy cuộc họp báo thường niên, như thể Lưỡng Hội và Quốc Vụ Viện « chỉ còn là cái vỏ rỗng », thực quyền và vai trò của bộ phận này đã « được dịch chuyển đi nơi khác ».

    Hệ quả là cho dù các bộ trưởng trưởng liên quan, các giới chức kinh tế, tài chính tổ chức một  họp báo hôm 06/03/2024 với sự tham gia của bộ trưởng Thương Mại, Tài Chính, Thống Đốc Ngân Hàng Trung Ương và Chủ Tịch Ủy Ban Điều Tiết Chứng Khoán ...Các quan chức cao cấp này đã đề cập đến những hồ sơ như định hướng phát triển, hỗ trợ thương mại, đầu tư, điều tiết thị trường tài chính, ngân sách nhà nước …. Nhưng theo giới phân tích, kết thúc cuộc họp báo đường lối sắp tới của Trung Quốc vẫn là một « chiếc hộp đen ».

    Trả lời RFI Việt ngữ, từ Montréal- Canada, chuyên gia về Trung Quốc Alex Payette giải thích rõ hơn :

    Alex Payette : « Trong cuộc họp báo (hôm 06/03/2024), ông Ngô Thanh (Wu Qing), chủ tịch Ủy Ban Điều Tiết Chứng Khoán Trung Quốc đã đưa ra một số thông báo liên quan đến thị trường tài chính, đến lĩnh vực địa ốc và ngân hàng. Ông cam kết là sẽ ‘nghiêm ngặt trừng phạt’ những nhà đầu cơ làm lũng đoạn thị trường và xem việc bảo vệ các cổ đông cò con là một ‘ưu tiên’. Những tuyên bố này dễ hiểu trong bối cảnh nhiều cổ đông tư nhân đang phẫn nộ vì bị thua lỗ quá nhiều trong thời gian gần đây nhưng cam kết kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các hoạt động mua bán bất động sản, trong giới ngân hàng … không nhằm trấn khuyến khích đầu tư vào Trung Quốc. Giới quan sát cũng đã thất vọng vì kết thúc khóa họp lưỡng hội, chính quyền Bắc Kinh không hề đưa ra bất kỳ một đường lối rõ ràng nào về chính sách tài chính và kinh tế của Trung Quốc trong tương lai ».

    Alex Payette sở dĩ chú ý đến phát biểu của chủ tịch Ủy Ban Điều Tiết Chứng Khoán Trung Quốc Ngô Thanh, do ông này vừa được bổ nhiệm hồi đầu tháng 2/2024 và nổi tiếng là nghiêm khắc, ông từng mạnh tay « khai tử những con vịt què trên các sàn chứng khoán ». Ông Ngô Thanh còn chủ trương kiểm soát chặt chẽ hơn nữa tất cả những doanh nghiệp muốn tham gia sàn chứng khoán. Về thực chất theo Alex Payette, « lành mạnh hóa » thị trường tài chính là điều chính đáng và quả là từ khi ông được chỉ định điều hành ủy bàn này, chỉ số  tài chính ở Thượng Hải đã tăng lên 14 % sau khi đã rơi xuống mức thấp nhất kể từ 2019. Có điều chủ trương « gia tăng kiểm duyệt » tài chính đó không chắc sẽ có sức thu thút đầu tư của Trung Quốc và nước ngoài vào lúc mà Trung Quốc đang bị thất thoát vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Cũng không chắc đường lối này giúp Trung Quốc nhanh chóng trở thành một « cường quốc tài chính » như tham vọng từng được ông Tập Cận Bình đề xướng.

    KHÔNG chắc Trung Quốc muốn giải quyết nợ LGFV 

    Nhưng điểm khiến đồng sáng lập viên cơ quan tư vấn Cercius lo ngại hơn cả là những mâu thuẫn trong phát biểu của bộ trưởng tài chính Lam Phật An (Lan Po’An), vừa đòi các chính quyền địa phương cắt giảm chi tiêu, vừa loan báo Bắc Kinh phát hành công trái phiếu, bơm thêm 1.000 tỷ nhân dân tệ (138 tỷ đô la) để kích cầu, thí dụ như là để « đẩy mạnh đầu tư vào các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật số » vì đó là công nghệ của tương lai. :

    Alex Payette : « Trung Quốc không có sự chọn lựa nào khác là phải phát triển công nghệ số bởi vì thứ nhất các hoạt động công nghiệp truyền thống không còn có tương lai. Không còn mấy ai muốn lam lũ làm việc trong các nhà máy như 10 hay 20 năm trước nữa. Thứ nhì, là công nghệ kỹ thuật số đang là một lĩnh vực của tương lai, không cần quá nhiều nguồn lực mà lại có triển vọng nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi nhiều. Thành thử chúng ta dễ hiểu khi mà Trung Quốc dồn nỗ lực để phát triển công nghệ ». 

     

    "Đi vay thêm nợ để trả nợ"

    Nhưng vừa cắt giảm chi tiêu vừa đi vay thêm để thúc đẩy tăng trưởng, liệu có là một cái vòng luẩn quẩn báo trước Trung Quốc không bao giờ thanh toán được bớt nợ, nhất là những khoản nợ « không chính thức » mà các chính quyền địa phương đã đi vay dưới dạng trái phiếu mà không được Trung Ương đứng ra bảo lãnh, gọi tắt theo tiếng Anh là LGFV ? 

    Alex Payette : « Chúng tôi ghi nhận hai thông điệp hoàn toàn trái ngược nhau về tình hình tài chính của Trung Quốc. Trong cuộc họp báo, bộ trưởng Tài Chính Lam Phật An cho biết Bắc Kinh sẽ phát hành công trái phiếu trong dài hạn để tài trợ rất nhiều dự án phát triển trong những lĩnh vực khác nhau, vì mục tiêu hỗ trợ kinh tế, vì mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng trong công nghệ kỹ thuật số, vì mục tiêu phát triển công nghệ cao …. . Nhưng ngay sau đó cũng vị bộ trưởng này tuyên bố chủ trương cắt giảm chi tiêu, tiết kiệm ngân sách. Ông Lam đã trực tiếp chỉ trích các chính quyền địa phương, từ lâu nay vay mượn quá trớn để tài trợ hàng loạt các dự án xây dựng vô cùng tốn kém mà xây dựng xong thì cũng không biết là để làm gì. Hệ quả kèm theo là giờ đây các chính quyền địa phương ở Trung Quốc đang ngồi trên những núi nợ khổng lồ. Nhìn dưới góc độ đó, kêu gọi « thắt lưng buộc bụng » là hoàn toàn có cơ sở (…)

    Điều mà bộ trưởng Tài Chính Trung Quốc không nói ra ở đây là nợ mà các chính quyền cấp vùng, cấp tỉnh đi vay là để thanh toán nợ đáo hạn cho các ngân hàng, để trả tiền lương cho công nhân viên chức nhà nước, để tiếp tục đài thọ cho một số công trình xây dựng đang bị bỏ dở ... Vậy nếu ngân sách của các chính quyền địa phương thì hậu quả sẽ ra sao ? Kinh tế địa phương lại còn tiếp tục đổ dốc thêm nữa. Thế rồi khi mà chính phủ thông báo giải ngân 1.000 tỷ nhân dân tệ để tài trợ cho các chương trình đầu tư lâu dài … thì số tiền đó sẽ được sử dụng vào việc gì ? Trung Quốc đã bị lôi vào vòng xoáy nợ nần, nhưng vẫn thông báo phát hành thêm công trái phiếu dài hạn để tài trợ cho các dự án phát triển …. Nợ lại càng lớn thêm lên thôi ! Thành thử những thông điệp từ đại hội vừa rồi đầy mâu thuẫn và Bắc Kinh lại chuẩn bị bơm thêm tiền vào cho các chính quyền địa phương để có được thành tích tăng trưởng một cách giả tạo ».  

    Giải quyết nợ LGFV : nhiệm vụ bất khả thi 

    Chiến thuật « một bước tiến, hai bước lùi » nói trên của Bắc Kinh khiến Nikkei Asia, báo tài chính Nhật Bản (ngày 18/03/2024) cho rằng những nỗ lực để giải quyết núi nợ hơn cả chục ngàn tỷ đô la của các chính quyền địa phương Trung Quốc đều sẽ thất bại.

    Bắc Kinh ý thức được là không còn nhiều thời gian khi mà  khối nợ « không chính thức » LGFV, ước tính lên tới từ 10.000 đến 12.000 tỷ đô la (tương đương với 2 lần GDP của toàn nước Đức và bằng 50 % so với GDP của Trung Quốc). Từ nửa cuối 2023, Bắc Kinh đã có một số biện pháp « hỗ trợ các chính quyền ở cấp tỉnh tái cơ cấu nợ, giảm thiểu nguy cơ mất khả năng thanh toán ». Hiện tại Trung ương can thiệp theo 2 phướng : một là huy động các ngân hàng nhà nước đứng ra bảo lãnh một phần khối nợ LGFV (với lãi suất hơn 10 %)  và giải pháp thứ nhì là kêu gọi các tỉnh thành đi vay thêm để thanh toán nợ đáo hạn. Ngay chính các chuyên gia Trung Quốc được báo Nhật Nikkei Asia và tờ báo tài chính Trung Quốc Caixin trích dẫn đồng loạt ghi nhận đấy chỉ là những « giải pháp tạm thời ». Vấn đề nợ của Trung Quốc chỉ có thể được giải quyết một khi mà các khoản « chi, thu » và cả « trách nhiệm » giữa cấp trung ương và địa phương được « san sẻ một cách cân đối hơn ».  

    Bên cạnh những thất vọng vừa nêu sau khóa họp Lưỡng Hội lần này tại Bắc Kinh, Alex Payette tuy nhiên cũng nhắc lại; thông thường vai trò của Chính Hiệp và Quốc Hội Trung Quốc không nhằm đề xuất các chính sách hay các biện pháp cải tổ. Cuộc họp này chỉ nhằm nhắc lại những đường lối chính đã được thông qua trong các cuộc họp kín của Đảng trước đó. Có điều lần này khóa họp từ ngày 04-05 đến 10 và 11/03/2024 tuyệt đối không « nói lên được một điều gì » ngoại trừ khả năng là ở trong hậu trường, ngay cả trên vấn đề kinh tế, các giới chức Trung Quốc dường như cũng đang có một cuộc đấu đá ác liệt để ghi điểm với ông Tập Cận Bình.

    Đồng sáng lập viên cơ quan tư vấn Cercius không loại trừ khả năng thủ tướng Lý Cường đang trong tư thế khá tế nhị : hoặc là vai trò của ông điều hành các hoạt động kinh tế đang bị thu hẹp lại, hoặc là nhân vật này chịu áp lực lớn đến nỗi tự ý hủy cuộc họp báo thường niên trong dịp này. 

    10 min

About Tạp chí Kinh Tế

From the publisher's feed

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

More shows like Tạp chí Kinh Tế

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

221 Listeners

Tạp chí Âm Nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Âm Nhạc

2 Listeners

Tạp chí Tiêu Điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Tiêu Điểm

0 Listeners

Tạp chí Khoa Học Môi Trường by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Khoa Học Môi Trường

0 Listeners

Tạp chí Văn Hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Văn Hóa

0 Listeners

Spiderum Official by Spiderum

Spiderum Official

25 Listeners

Tâm Sự Tài Chính by Trịnh Công Hoà

Tâm Sự Tài Chính

2 Listeners

Huynh Duy Khuong Show by Huỳnh Duy Khương

Huynh Duy Khuong Show

7 Listeners

Sách Nói Chất Lượng Cao by Voiz FM

Sách Nói Chất Lượng Cao

5 Listeners

More Perspectives by Duy Thanh Nguyen

More Perspectives

12 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

7 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí Thể Thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Thể Thao

0 Listeners

Tạp chí Xã Hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Xã Hội

0 Listeners

Tạp chí Đặc Biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Đặc Biệt

0 Listeners

Better Version by Better Version

Better Version

46 Listeners

điêu khắc bản thân by Chuyện đời Sales

điêu khắc bản thân

1 Listeners

Nguyễn Hữu Trí Podcast by Nguyễn Hữu Trí

Nguyễn Hữu Trí Podcast

24 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners