Tạp chí Kinh Tế

Tạp chí Kinh Tế

By RFI Tiếng ViệtBusiness
Download on the App Store

Tạp chí Kinh Tế episodes

  • Trung Quốc thủ lợi từ chiến tranh Ukraina

    Chiến tranh Ukraina càng kéo dài càng có lợi cho Trung Quốc. Bắc Kinh không trực tiếp giao vũ khí hạng nặng cho Matxcơva, nhưng lại gián tiếp tài trợ và nuôi dưỡng cỗ máy chiến tranh của Nga. Điều đó không cấm cản ông Tập Cận Bình bắt đầu "đặt gạch" cho giai đoạn tái thiết Ukraina. Emmanuel Véron, Viện Ngôn Ngữ và Văn Hóa Phương Đông ( INALCO ) và Trường Hải Quân Pháp ( Ecole Navale ) phân tích những nước cờ của Bắc Kinh trong một xung đột ở rất xa lãnh thổ Trung Quốc.  

    Đặc sứ Trung Quốc về các hồ sơ Á-Âu, ông Lý Huy vừa kết thúc chuyến công du nhiều nước châu Âu với những chặng Matxcơva, Kiev, Paris, Berlin, Bruxelles và Vacxava. Đây là lần thứ nhì quan chức này trở lại châu Âu để bàn về chiến tranh Ukraina. Tại Bruxelles, đặc sứ của ông Tập Cận Bình đòi Liên Âu ngừng cung cấp vũ khí cho Ukraina và phản đối Liên Âu đưa vào danh sách trừng phạt Nga ba doanh nghiệp của Trung Quốc bị nghi ngờ tiếp tay với quân đội Nga trong « chiến dịch quân sự đặc biệt » điện Kremlin tiến hành ở Ukraina từ 2022.

    Kiev vẫn tin vào « vai trò trung gian » của Bắc Kinh, nhưng hình ảnh của Trung Quốc đối với công luận Ukraina đã xấu đi so với hồi tháng 5/2023, khi đặc sứ Trung Quốc lần đầu đến Kiev. Theo thăm dò của Trung Tâm Razumkov, 72,5 % những người được hỏi có cái nhìn « tiêu cực » về Trung Quốc (thay vì 59 % một năm trước đây) và gần 2/3 người Ukraina không có thiện cảm với chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, « người bạn thân thiết của tổng thống Nga Vladimir Putin ».  

    Trung Quốc đến nay luôn khẳng định thái độ « trung lập » trong cuộc chiến Ukraina, chưa bao giờ lên án Nga đưa quân xâm lược một quốc gia có chủ quyền. Tháng 2/2023, Bắc Kinh đã trình bày một kế hoạch 12 điểm vãn hồi hòa bình cho Ukraina, đặt mình vào thế một « nhà trung gian » hòa giải. Ông Tập Cận Bình đang tính toán những gì và liệu có thể tin rằng Trung Quốc sẽ là một nhà trung gian đáng tin cậy khi mà lãnh đạo Nga- Trung liên tục ca ngợi « tình bạn vô bờ bến » và « vững như bàn thạch » giữa Matxcơva và Bắc Kinh ?

    Trong cuộc trả lời dành cho RFI tiếng Việt, chuyên gia về Trung Quốc đương đại, giảng dạy tại Trường Hải Quân Ecole Navale ở Brest, miền tây bắc nước Pháp và tại Viện Ngôn Ngữ và Văn Hóa Phương Đông, trước hết ghi nhận : Chiến tranh Ukraina mà tổng thống Nga Vladimir Putin khởi động ngày 24/02/2022 đang mở ra rất nhiều « cơ hội » cho Trung Quốc.

    Emmanuel Véron : « Đầu tiên hết và nổi bật hơn cả là những cơ hội để Trung Quốc gia tăng trao đổi mậu dịch, mở rộng quan hệ ngoại giao với Nga. Ý đồ ở phía sau là về mặt chiến lược, Bắc Kinh và Matxcơva thành lập một mặt trận chống lại Washington nói riêng, và để đương đầu với phương Tây nói chung. Tổng trao đổi mậu dịch hai chiều giữa Nga và Trung Quốc năm 2021 là 140 tỷ đô la, rồi chỉ trong hai năm đã được đẩy lên tới hơn 200 tỷ vào cuối 2023. Dưới góc độ đó, Trung Quốc đã gián tiếp giúp Nga trong cuộc chiến tại Ukraina. Đôi bên chủ yếu trao đổi với nhau những gì ? Nga xuất khẩu sang Trung Quốc dầu hỏa và khí đốt, các loại nguyên liệu, từ gỗ đến khoáng sản …. Còn Trung Quốc thì cung cấp từ đồ điện gia dụng đến linh kiện bán dẫn, phụ tùng và nhất là một số công nghệ sản xuất một số vũ khí cho Nga, vừa để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa, vừa để phục vụ cho chiến tranh ».  

    Đối với Ukraina, từ hai năm nay, Trung Quốc chủ yếu mua thêm nông phẩm đặc biệt là lúa mì, ngũ cốc để bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm cho 1,5 tỷ dân. Nhưng thực tế phũ phàng là nhờ có chiến tranh Ukraina, xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga đã tăng mạnh vào lúc tiêu thụ nội địa của quốc gia châu Á này chựng hẳn lại sau đại dịch Covid, còn Âu Mỹ thận trọng, khó tính hơn với hàng rẻ của Trung Quốc.

    Trong chiều ngược lại thì các đối tác Nga cũng đã phải nhượng bộ nhiều các khách hàng Trung Quốc, mà điển hình là Trung Quốc đã mua được dầu khí của Nga với giá thấp hơn so với thị trường. Tuy nhiên, giới quan sát lưu ý : Đối với Trung Quốc, các thị trường tiềm năng nhất trong các hoạt động xuất nhập khẩu vẫn là với Châu Âu, Mỹ và với các đối tác Đông Nam Á.

    Cơ hội để khẳng định thêm vai trò đầu tầu với các nước « Phương Nam »

    Do vậy theo ông Véron, những cơ hội về giao thương với Nga tuy là quan trọng, nhưng cuộc chiến mà tổng thống Nga khởi động cách này hơn 2 năm còn đem lại cho Trung Quốc nhiều lợi ích về phương diện quân sự và ngoại giao. Đó mới là điều quan trọng đối với ông Tập Cận Bình :  

    Emmanuel Véron : « Như vừa nói, chiến tranh Ukraina đang cho phép Nga thành lập một mặt trận để đương đầu với Mỹ và nhìn rộng ra hơn đây là một sự đương đầu giữa các nền dân chủ phương Tây với nhiều nước không thuộc khối đó, như là Trung Quốc và Nga. Trong cuộc đối đầu về các phương diện chính trị, chiến lược và quân sự đó, Trung Quốc cố gắng tránh cung cấp vũ khí hạng nặng cho Nga, nhưng lại gián tiếp ủng hộ Matxcơva bằng nhiều cách. Chúng ta vừa nêu lên vế kinh tế và ngoài ra, thông qua Bình Nhưỡng, Bắc Kinh đã bật đèn xanh cho Bắc Triều Tiên cung cấp hàng triệu đạn pháo cho Nga, trong đó có những lô đạn dược mà Bắc Triều Tiên mua từ thời Liên Xô. Ở đây có một trục tam giác Bắc Kinh - Bình Nhưỡng - Matxcơva. Thêm vào đó Trung Quốc cũng gián tiếp khuyến khích một số nước ở Trung Á, nhất là Iran, tiếp sức cho cỗ máy chiến tranh của Nga. Nói cách khác, Trung Quốc gián tiếp ủng hộ Nga về mặt quân sự, giúp Matxcơva có công nghệ để sản xuất một số vũ khí cần thiết cho chiến tranh ».

    Cũng chuyên gia Véron nhắc lại, vào năm 2023, Trung Quốc đã rất năng động về mặt ngoại giao, đặc biệt là hướng tới các quốc gia « ngoài khối phương Tây ». Bắc Kinh theo đuổi 2 mục đích : Tìm kiếm các thị trường mới để xuất khẩu và lôi kéo các nước « phương Nam » chia sẻ quan điểm của Trung Quốc về cuộc chiến Ukraina. Điều đó đã được thể hiện qua các thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải tại Ouzbekistan, thượng đỉnh G20 tại Bali, Indonesia, hay thượng đỉnh khối BRICS vào tháng 8/2023 ở Nam Phi… Cuối tháng 2/2023, Bắc Kinh đã trình bày kế hoạch 12 điểm vãn hồi hòa bình cho Ukraina, cho dù Trung Quốc tuyệt đối tránh sử dụng cụm từ « chiến tranh » và « hòa bình » khi nói về xung đột đang diễn ra tại châu Âu, rất xa Hoa Lục. Văn bản chính thức của Trung Quốc mang tựa đề : « Quan điểm của Trung Quốc để giải quyết khủng hoảng Ukraina ».

    « Lộ hàng » vũ khí hiện đại của phương Tây

    Về mặt quân sự, một số nhà quan sát cho rằng, trong cuộc chiến Ukraina, điều ngoài mong đợi đối với Bắc Kinh là các nước phương Tây đã cung cấp nhiều loại vũ khí hiện đại giúp Kiev bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và đây là « những bài học quý giá cho Trung Quốc », trong trường hợp phải đương đầu với một cuộc xung đột vũ trang với Hoa Kỳ. 

    Emmanuel Véron : « Đúng vậy. Thuần túy về quân sự, các giới chức chiến lược và quân sự của Trung Quốc theo dõi rất kỹ tình hình tại Ukraina, cũng như là những gì đang diễn ra ở Hồng Hải, ở dải Gaza. Tình hình được theo dõi hàng ngày và được phân tích một cách rất cặn kẽ, bởi Trung Quốc muốn học hỏi kinh nghiệm, muốn tìm hiểu xem quân đội của Mỹ, của phương Tây được tổ chức như thế nào, hoạt động ra sao. Bắc Kinh đang quan sát xem trong một cuộc xung đột ở cường độ cao, các giới chức ngoại giao, quân sự phối hợp với nhau như thế nào. Trung Quốc đặc biệt chú trọng vào vai trò của quân đội Mỹ ».

    Tầm nhìn về lâu dài : BRI và công cuộc tái thiết Ukraina

    Cuộc chiến nào rồi cũng có hồi kết. Một dụng ý khác trong những nỗ lực ngoại giao của Bắc Kinh « giải quyết khủng hoảng Ukraina » liên quan trực tiếp đến dự án Con Đường Tơ Lụa Thế Kỷ 21 – BRI : Ukraina là một mắt xích quan trọng trong kế hoạch được ông Tập Cận Bình khởi động cách nay hơn 10 năm. Các dự án trên bộ, trên biển bị chựng lại do chiến tranh. Hơn nữa Trung Quốc luôn nhìn xa và đang chuẩn bị sẵn những nước cờ cho giai đoạn tái thiết Ukraina. Không yểm trợ Kiev về mặt nhân đạo, tài chính hay quân sự, Trung Quốc liệu có tính chính đáng để tham gia vào các chương trình tái thiết Ukraina sau chiến tranh hay không ? Emmanuel Véron, viện INALCO, trả lời :

    Emmanuel Véron : « Chúng tôi bắt đầu có một số yếu tố để trả lời câu hỏi này, sau hơn hai năm Nga xâm chiếm Ukraina. Trung Quốc đã bắt đầu đặt một số con chốt cho giai đoạn tái thiết Ukraina, cho dù chiến tranh chưa dứt. Bắc Kinh ý thức được rằng, về mặt địa lý, Trung Quốc ở rất xa nơi có giao tranh, không giúp đỡ gì Kiev ngoài những lời kêu gọi vãn hồi hòa bình và tuyên bố sẵn sàng đóng vai trò trung gian hòa giải. Nhưng Trung Quốc muốn cũng có phần trong giai đoạn tái thiết Ukraina, nhất là trong các khâu xây dựng lại hệ thống giao thông, cung cấp điện lực … Ngoài ra, Bắc Kinh còn nhòm ngó đến các công trình ở những khu vực chung quanh Biển Đen ».

    Vẫn chuyên gia về Trung Quốc đương đại Emmanuel Véron cho rằng, trong hai chuyến công tác tại Kiev năm ngoái và năm nay, đặc sứ Trung Quốc Lý Huy đều đã « bắn đi một số tín hiệu để Ukraina hiểu rằng, Bắc Kinh có thể là một mắt xích quan trọng trong công cuộc tái thiết Ukraina ». Dường như chính quyền của tổng thống Volodymyr Zelensky tỏ ra rất thực tiễn trong quan hệ đối với Trung Quốc, cho dù không mấy ai tin vào tính « trung lập » của Bắc Kinh trên hồ sơ này :

    Emmanuel Véron : « Mức độ gần gũi giữa Bắc Kinh với Matxcơva khiến chúng ta khó có thể nghĩ rằng (dù chỉ là về mặt kỹ thuật) Trung Quốc ‘trung lập’ trên vấn đề Ukraina. Khó có thể tin rằng Trung Quốc thật sự đóng vai trò trung gian hòa giải, vãn hồi hòa bình, chấm dứt chiến tranh. Lại càng khó tin hơn vào ý tưởng Bắc Kinh có trọng lượng đủ lớn để can thiệp vào một số quyết định của Matxcơva trong lĩnh vực chính trị và quân sự. Cũng phải nói là ý tưởng đó hoàn toàn sai. Nói cách khác, trong mọi trường hợp, Trung Quốc không đủ ‘nặng’ để có thể tác động đến những quyết định quân sự của Matxcơva trên vấn đề Ukraina ».

    10 min
  • « Tách rời khỏi Trung Quốc »: Trump và Biden đều thất bại

    Các dự phóng đều báo trước: Donald Trump và Joe Biden sẽ gặp lại nhau trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 11/2024. Có rất nhiều khác biệt giữa hai ứng cử viên Cộng Hòa và Dân chủ, ngoại trừ mối lo ngại kinh tế và thương mại của Mỹ lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Ở Nhà Trắng, cả hai cùng nỗ lực « tách rời khỏi » Trung Quốc, nhưng gần 8 năm qua, hai đời tổng thống Hoa Kỳ liên tiếp đều đã « thất bại ». Vì sao ?

    Tổng thống Joe Biden tranh cử nhiệm kỳ hai với ít nhất một thành tích rõ ràng : Nhập siêu của Mỹ năm ngoái thấp nhất kể từ đầu thập niên 2020. Xuất khẩu tăng so với 2022, trái lại nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ giảm 3,6 %. Điểm nổi bật thứ nhì là Trung Quốc đánh mất danh hiệu đối tác thương mại số một của Mỹ, bị Mêhicô qua mặt. Mậu dịch hai chiều giữa Trung Quốc và Mỹ cùng sụt giảm trong năm 2023 so với 12 tháng trước đó.

    Decoupling để rồi lại lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc ?

    Theo thống kê của bộ Thương Mại Hoa Kỳ, nhập khẩu với bạn hàng Trung Quốc từ 2017 đã giảm đi 1/3. Cứ trên 100 đô la hàng nhập vào Mỹ, thì chỉ có 14 đô la hàng của « công xưởng lớn nhất trên thế giới ». Cả hai ứng cử viên tổng thống Dân Chủ và Cộng Hòa đều khoe đấy là công lao của mình.

    Không thể phủ nhận là Washington đã thu hẹp thâm hụt mậu dịch với Bắc Kinh nhờ các biện pháp trừng phạt và áp thuế nhập khẩu chính quyền Donald Trump ban hành từ 2018 và đã được chính quyền Joe Biden duy trì. Nhưng như tuần báo Anh The Economist hôm 27/02/2024 ghi nhận : sẽ là một sai lầm nếu vội vã kết luận Mỹ thành công trong việc « cai nghiện hàng made in China ».

    Tại sao cả Trump và Biden đều thất bại trong việc giảm thâm hụt mậu dịch với Trung Quốc ? Giới quan sát đồng loạt trả lời : Dân Mỹ vẫn ưa chuộng và vẫn cần hàng rẻ của Trung Quốc trong bối cảnh lạm phát kéo dài. Về tài chính, cho đến nay Bắc Kinh vẫn là một chủ nợ chính của Hoa Kỳ, nắm giữ 1200 tỷ đô la công trái phiếu của Mỹ. Về công nghệ cao, những tên tuổi như Hoa Vi hay ZTE của Trung Quốc vẫn vừa là nỗi ám ảnh, vừa là những« miền đất hứa » với nhiều tập đoàn công nghệ cao của Hoa Kỳ. 

    Cần thận trọng với các thống kê  

    Điều đầu tiên buộc độc giả thận trọng là khác biệt về thống kê hải quan của Trung Quốc và Mỹ liên quan đến cùng một thời kỳ. Bắc Kinh xác nhận tổng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 30 tỷ đô la so với tài khóa 2022. Trái lại nhìn từ phía Mỹ, hàng Trung Quốc nhập vào Mỹ giảm 100 tỷ đô la. Vậy biết tin ai bây giờ ?

    Yếu tố thứ hai cũng quan trọng không kém. Căn cứ vào các số liệu của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu ADB, năm 2017, tức là trước khi chính quyền Trump ban hành các biện pháp áp thuế hàng Trung Quốc, để tạo ra một đô la của cải cho nước Mỹ, các doanh nghiệp Hoa Kỳ sử dụng 0,41 % hàng Trung Quốc. Năm 2022, tỷ lệ này đã bị đẩy lên tới 1,06 %. Điều đó đơn giản cho thấy là Mỹ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc. Tệ hơn nữa, ngay cả trong lĩnh vực dịch vụ ở Hoa Kỳ, dường như « các hãng Mỹ ngày càng phụ thuộc vào bản quyền hiện đang do một số công ty Trung Quốc nắm giữ ».

    Lý do thứ ba là, cho đến hiện tại, không một dấu hiệu nào cho thấy Trung Quốc đầu hàng, nhượng bộ, hay sẵn sàng chia sẻ vị trí chiến lược và then chốt của mình trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong cuộc họp Hội Đồng Kinh Tế tháng 12/2023, Bắc Kinh đã nhắc lại xuất khẩu là một ưu tiên trong chiến lược phát triển quốc gia. Các ngân hàng nhà nước được chỉ thị huy động tín dụng từ trước đến nay dành để đầu tư vào cơ sở hạ tầng và địa ốc cho khu vực xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, The Economist báo trước là rồi đây hàng của Trung Quốc sẽ còn tràn ngập thị trường quốc tế mạnh hơn nữa, chủ yếu là trong lĩnh vực công nghệ và năng lượng xanh. Mỹ tiếp tục là một điểm tiêu thụ chính.

    Một mô hình thương mại đường vòng

    Tháng 8/2023 cũng tuần báo The Economist đã ghi nhận liên hệ về thương mại và kinh tế giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới đang trở nên « chặt chẽ hơn bao giờ hết », cho dù Trung Quốc không còn là bạn hàng số 1 của Mỹ.

    Hai đời tổng thống Mỹ Donald Trump và Joe Biden trên thực tế đã chỉ « vẽ lại » một bản đồ thương mại mới mà ở đó hai cực chính vẫn là Mỹ và Trung Quốc, nhưng thay vì hai siêu cường kinh tế này trao đổi trực tiếp với nhau thì họ đã « đánh đường vòng » đi qua một loạt các trung gian như Ấn Độ, Mêhicô, Đài Loan, hay Việt Nam.

    Vào lúc nhập khẩu của Mỹ với Trung Quốc giảm, thì trái lại cán cân thương mại của Mỹ với từ Mêhicô đến Việt Nam hay Đài Loan đã bị thâm hụt nhiều hơn và Mỹ đã mua vào những sản phẩm mà Trung Quốc bán nhiều hơn cho Việt Nam hay Đài Loan, Ấn Độ … 

    Trả lời đài truyền hình Pháp France 24 hồi tháng 11/2023 sau cuộc gặp rất được chờ đợi giữa tổng thống Joe Biden và chủ tịch Tập Cận Bình bên lề thượng đỉnh Diễn Đàn APEC tại San Francisco, kinh tế gia Jean Paul Chang nhấn mạnh : Mục tiêu decoupling mối liên hệ giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới như Donald Trump và Joe Biden đề xuất là điều không tưởng :

    « Cắt đứt liên hệ tài chính là điều bất khả thi. Người ta có thể viện lý do an ninh quốc gia, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, để kềm chế đối phương, nhưng chúng ta biết rõ là mỗi biện pháp trừng phạt đó lại càng thúc đẩy bên bị trừng phạt tìm ra những ngõ thoát mới. Nghịch lý ở đây là, càng bị Mỹ kềm tỏa, Bắc Kinh lại càng tăng tốc đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ bán dẫn và hight tech. Trung Quốc hào phóng hơn nữa trong các chương trình nghiên cứu, đào tạo nhiều kỹ sư và cả một đội ngũ chuyên gia, khoa học …. Nói cách khác, nếu như có một sự thay đổi trong chuỗi cung ứng toàn cầu, kể cả đối với công nghệ cao, thì lập tức các bên liên quan sẽ tìm cách để thích nghi với tình huống ».    

    Nhà báo Pierre Antoine Donnet của báo mạng chuyên về châu Á Asialyst giải thích thêm : 

    « Tách rời khỏi nhau giữa Mỹ và Trung Quốc, hiểu theo đúng nghĩa của nó, là điều hoàn toàn không thể làm được, do các nền kinh tế trên thế giới giờ đây đã đan kết quá chặt chẽ với nhau, đặc biệt là về công nghệ cao. Tuy nhiên, Bắc Kinh lẫn Washington đều đã có một sự uyển chuyển, khi thay thế cụm từ tách rời khỏi nhau –decoupling, bằng derisking, tức là giảm thiểu rủi ro. Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu Ursula von der Leyen là người đưa ra khái niệm này và Hoa Kỳ đã xem đó là một sáng kiến hay. Derisking có nghĩa là trước khi ký hợp đồng với một đối tác nước ngoài, cần cân nhắc về những ‘rủi ro’ bị sao chép, rủi ro về tác quyền, rủi ro công nghệ hay sản phẩm, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, có thể bị đối phương sử dụng vào những mục tiêu quân sự … Như vậy có nghĩa là trước khi hợp tác với một doanh nghiệp nước ngoài, cần nghiên cứu và tìm hiểu về những rủi ro có thể xảy ra».  

    Nhưng liệu Mỹ có thể yêu cầu một doanh nghiệp « nghiên cứu », cân nhắc các rủi ro hay không? Đừng quên rằng, mục tiêu của doanh nghiệp là kiếm lời. Vế an ninh quốc gia tuy quan trọng, nhưng không chắc đó là ưu tiên số một của các doanh nhân Mỹ, như chủ nhân hãng xe Tesla, hay các nhà sản xuất trang thiết bị điện tử. 

    Cũng trong cuộc trả lời trên đài truyền hình France24 tháng 11/2023, nhà nghiên cứu Mathilde Velliet, thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp, đang công tác tại Washington, đã đặt quan hệ Mỹ-Trung ở một góc độ khác : 

    « Bối cảnh hiện nay là một cuộc cạnh tranh rất gay gắt về công nghệ và thực tế đó sẽ còn kéo dài. Thậm chí là cuộc đọ sức có phần gia tăng cường độ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Mỗi bên sẽ mở rộng thêm các biện pháp trừng phạt, cấm đoán, hạn chế các hoạt động của đối phương. Tại Washington chúng ta thấy, tháng 10/2022 chính quyền Biden đã ban hành lệnh cấm nhắm vào các tập đoàn công nghệ Trung Quốc. Đúng một năm sau, chính phủ Mỹ mở rộng thêm danh sách này. Hơn nữa, từ nhiều năm nay Mỹ kiểm soát đầu tư của Trung Quốc vào thị trường nội địa, nhưng từ tháng 8/2023, Nhà Trắng ban hành quyết định kiểm soát luôn cả một số dự án đầu tư của các tập đoàn Mỹ sang Trung Quốc, tránh để công nghệ của Mỹ rơi vào tay Bắc Kinh, đặc biệt là trong lĩnh vực trí thông minh nhân tạo. ( …) Mục tiêu của chính quyền Biden là « bình thường hóa » tất cả những đòn kềm tỏa đó trong bang giao song phương. Tức là Mỹ vẫn duy trì quan hệ ổn định với Trung Quốc, nhưng cũng sẽ tiếp tục ban hành các biện pháp trừng phạt và hạn chế các khoản giao dịch giữa các công ty của hai nước. Về mặt chính trị, trong bối cảnh bầu cử tổng thống 2024, không ai dám mạo hiểm thay đổi lập trường đó, tức là Mỹ sẽ tiếp tục tỏ ra rất cứng rắn với Trung Quốc ».

    Biden và Trump giúp Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng qua kênh kinh tế ?

    Vẫn báo The Economist tháng 8/2023 lưu ý độc giả rằng chính sách trừng phạt Trung Quốc do hai tổng thống Trump và Biden tiến hành dẫn đến hệ quả là « một phần lớn các nước ở châu Á, Mêhicô và ở một số nơi khác tại châu Âu nhập nhiều hơn hàng của Trung Quốc và qua đó trở nên thân thiện hơn với Bắc Kinh ». Đó cũng là một kênh giúp Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng.

    Cách nay 5 năm, trong một chương trình truyền hình của kênh France 5, Alice Ekman, chuyên nghiên cứu về Trung Quốc và điều hành khoa châu Á Viện Nghiên cứu về an ninh châu Âu, đã thấy trước là, càng bị Âu Mỹ trừng phạt, Trung Quốc càng tăng cường quan hệ với Nga :

    « Trung Quốc và Nga đã xích lại gần nhau từ 2014 sau khi Matxcơva bị trừng phạt vì thôn tính bán đảo Crimée của Ukraina. Vladimir Putin bắt đầu chính sách ‘đông tiến’ từ đấy. Nhưng rồi Matxcơva liên tục đẩy mạnh hợp tác về năng lượng với Trung Quốc và cũng chờ đợi đón nhận đầu tư của nước này đặc biệt là về công nghệ cao. Trên các hồ sơ lớn về thời sự quốc tế như Syria hay về Biển Đông, tầm nhìn của Nga và Trung Quốc không đối chọi với nhau. Đôi bên cũng đã tiến hành nhiều cuộc tập trận chung ở Địa Trung Hải, trong vùng Biển Baltic hay ở Biển Đông : Trong cuộc chiến thương mại với Hoa Kỳ, Trung Quốc hoàn toàn không bị cô lập như chính quyền Donald Trump mong muốn. Nhưng đây không chỉ có cuộc chiến thương mại, Washington và Bắc Kinh còn đối đầu nhau trên nhiều mặt trận khác và cần theo dõi tình hình ở những điểm nóng trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á ».

    10 min
  • Dầu hỏa : « Hạm đội ma », cánh tay đắc lực giúp Nga lách trừng phạt quốc tế

    10 % các tàu chở dầu trên thế giới hiện nay là « tàu ma ». Đó là phương tiện xuất khẩu 70 % dầu hỏa của Nga bằng đường biển. Hạm đội « dark fleet » trên thế giới trong vỏn vẹn một năm đã được nhân lên gấp đôi để cho phép Matxcơva tiếp tục bán dầu hỏa với giá cao hơn giá trần 60 đô la/thùng. « Hạm đội ma » là gì, hoạt động ra sao và đã giúp Nga lách các lệnh trừng phạt của Âu Mỹ đến mức độ nào ?

    Qua đó là câu hỏi về tính hiệu quả của các biện pháp cắt nguồn tài trợ cho cỗ máy quân sự của Vladimir Putin, hai năm sau « chiến dịch đặc biệt » xâm chiếm Ukraina.

    Hai ngày trước kỷ niệm tròn 2 năm chính quyền Putin đưa quân xâm chiếm Ukraina, hôm 22/02/2024, Hoa Kỳ loan báo ban hành lệnh trừng phạt nhắm vào tập đoàn vận tải đường biển của Nga Sovcomflot và 14 « tàu chở dầu ma » Matxcơva sử dụng.  

    Từ tháng 12/2022 Liên Hiệp Châu Âu, khối G7 và Úc đã quy định « mức giá trần 60 đô la một thùng dầu ». Đây là giá tối đa mà các thành viên liên minh này có thể mua vào dầu hỏa của Nga. Thêm vào đó, các hãng bảo hiểm tại các quốc gia này bị cấm cung cấp mọi dịch vụ cho các tàu chở dầu của Nga giao dịch trên mức giá trần quy định. Theo một thông cáo của liên minh Âu - Mỹ (UE – G7 và Úc) cuối năm 2023, dưới tác động các biện pháp trừng phạt của phương Tây, « thu nhập của Nga từ các hoạt động xuất khẩu dầu hỏa và các sản phẩm chế dầu giảm 1/3 so với hồi 2022 ».

    « Tương kế, tựu kế » 

    Tại Washington, thứ trưởng Tài Chính Mỹ, Wally Adeyemo giải thích biện pháp áp giá trần đánh vào dầu của Nga tiếp tục phục vụ hai mục tiêu « hạn chế thu nhập của điện Kremlin để tài trợ chiến tranh Ukraina đồng thời duy trì ổn định trên các thị trường năng lược quốc tế ».

    Tuy nhiên báo tài chính Anh, Financial Times, tháng 10/2023 trích dẫn « nhiều nguồn tin chính thức » của Liên Hiệp Châu Âu cho biết trong tháng « không một lô dầu xuất khẩu bằng đường biển nào của Nga bán ra với giá dưới 60 đô la/thùng. Theo các thống kê của Matxcơva, Nga xuất khẩu vàng đen với cái giá trung bình hơn 80 đô la » kể cả dầu hỏa của Nga bán cho Liên Âu.

    Chính các « Hạm đội ma » đã giải thích cho khác biệt nói trên.  

    Tạp chí chuyên về vận tải đường biển của Anh Lloyd’s List Intelligence báo động « số lượng tàu thuộc diện hạm đội ma năm ngoái đã tăng lên gấp đôi và chiếm 10 % toàn bộ tàu chở dầu đang hoạt động trên trường quốc tế ». Theo trung tâm nghiên cứu về quan hệ quốc tế Atlantic Council, trụ sở tại Washington, hiện có khoảng 1.400 « tàu ma » đi khắp nơi trên thế giới, chủ yếu là chở dầu của Nga hướng về châu Á, với hai mắt xích quan trọng là Trung Quốc và Ấn Độ.

    Nhưng không hẳng đấy là những « điểm đến cuối cùng » của những thùng dầu do Nga sản xuất. Elina Ribakova, Đại Học Kinh Doanh KSE tại Kiev được AFP trích dẫn đi sâu thêm vào chi tiết : 70 % dầu của Nga được chuyên chở bằng đường biển sử dụng « Hạm đội ma ». Chỉ riêng trong tháng 11/2023, đã có 179 tàu chở dầu thuộc diện « dark fleet » rời các hải cảng của Nga. Tháng 10/2023 mỗi ngày Nga « xuất khẩu 2,3 triệu thùng dầu thô và 800.000 thùng dầu lọc bằng phương tiện này ».

    Trả lời đài phát thanh France Culture (11/01/2024) Paul Tourret, giám đốc Viện Kinh Tế Hàng Hải của Pháp ISEMAR trước hết phân biệt giữa « Hạm đội ma » còn được gọi là « Hạm đội Đen -Dark fleet » với « Hạm đội Xám -Grey fleet » mà trước Nga, các quốc gia « bất hảo » như Iran, Venezuela hay Bắc Triều Tiên đã sử dụng.

    Paul Tourret  : « Hạm đội đen xuất hiện từ khi phương Tây ban hành các biện pháp trừng phạt nhắm vào Iran và Venezuela và đương nhiên là đã phát triển mạnh trong ngành vận tải đường biển. Đó là những chiếc tàu không biết thuộc về ai, không có giấy phép hoạt động và không ai giám sát về mức độ an toàn. Số này hoàn toàn ngoài tầm quan sát của các lực lượng tuần duyên, hải quan, ngoài vòng pháp luật… Ước tính có hơn một ngàn tàu thuyền thuộc diện ‘hạm đội đen’ và chúng hoạt động một cách bất hợp pháp ( ...) Bên cạnh đó có những đội tàu thuộc diện hạm đội xám tức là chúng ta biết rõ chúng thuộc về ai,, do công ty nào, quốc gia nào khai thác… Không hẳn họ chuyên chở hàng bất hợp pháp nhưng các đội tàu này tận dụng những kẽ hở hành chính, về pháp lý để chuyên chở hàng bất hợp pháp … ». 

    Nga đã khai thác một « mô hình » đã có từ trước : 

    Paul Tourret : « Thoạt đầu, phương Tây ban hành các biện pháp trừng phạt nhắm vào một số các ‘nhà nước côn đồ’ và như đã biết từ khi Nga xâm chiếm Ukraina thì các biện pháp cấm vận đó đã được mở rộng đến một số hoạt động thương mại, kinh tế, tài chính của nước Nga… Trong đó bao hàm luôn cả vế giao thương hàng hải. Vì chiến tranh, Nga đã tận dụng các hạm đội xám, hạm đội đen để lách lệnh trừng phạt quốc tế ».

    Nguy cơ tai nạn thủy triều đen

    « Đen » hay « xám » thì đó cũng thường là những con tàu cũ kỹ, tối thiểu đã phục vụ trong 20 năm, không thông qua các khâu kiểm tra về các chuẩn mực an toàn. Trung tâm về quan hệ quốc tế Atlantic Council báo động từ nay đến 2025 ước tính « khoảng 11 % các tàu chở dầu trên thế giới đã ngoài 20 năm tuổi » và để so sánh, trước khi nổ ra chiến tranh Ukraina, tỷ lệ này được giữ ở ngưỡng 3 %. Thêm vào đó các « Hạm đội ma » không hề có bảo hiểm về an toàn hàng hải : đó là các khoản bảo hiểm đề phòng cướp biển, đề phòng rủi ro chiến tranh, đề phòng tai nạn hàng hải gây thiệt hại cho môi trường …

    Bãi biển của Triniđa và Tobago trong vùng biển Caribê đang bị nạn thủy triều đen đe dọa từ đầu tháng 2/2024 vì sau tai nạn vỡ hầm một con « tàu ma » dài 100 mét, nhưng không biết thuộc về ai… Năm ngoái Malaysia « toát mồ hôi hột » khi tàu dầu cũ kỹ Pablo, chứa hơn 700.000 thùng dầu, nổ và bốc cháy ngoài khơi. Theo các điều tra, tàu dầu Pablo nhẽ ra đã phải được « yên nghỉ » từ 2018 nhưng rồi đã được một tập đoàn vận tải của Ấn Độ mua lại. Từ đó tàu đã nhiều lần đổi chủ và khi xảy ra tai nạn Pablo đang chứa dầu của Nga. Nếu như trước đây con tàu này thường đỗ ở ngoài khơi của Iran và Venezuela hay họa hoằn lắm là của Bắc Triều Tiên để « nhận hàng », thì giờ đây, tàu dầu Pablo sang đến tận Malaysia, nhận những « lô dầu của Nga, để cung cấp ngược trở lại cho các khách hàng ở châu Âu ». Đương nhiên là các nhà điều tra đã không thể tìm ra tông tích chủ tàu dầu Pablo. Không thấy các nhà bảo vệ môi trường lên tiếng trên hồ sơ này.

    Chiến lược « tàng hình »

    Trả lời kênh truyền thông Euronews, Christopher Weafer, giám đốc công ty tư vấn Macro Advisory Ltd của Anh ghi nhận, chiến thuật của Nga là « biến mất khỏi màn hình radar ». Từ một năm qua, các dịch vụ xuất nhập khẩu dầu hỏa của Nga không còn do các đại tập đoàn năng lượng quản lý nữa. Thay vào đó là « nhiều công ty nhỏ và hoàn toàn không có tiếng tăm » nhưng lại đảm nhiệm khâu vận chuyện cho « hàng triệu thùng dầu sang châu Á. Cũng những công ty này đã nhanh chóng ngừng hoạt động thậm chí mất dạng » khỏi các màn hình radar của các cơ quan có chức năng kiểm soát giao thương hàng hải quốc tế. Vẫn theo lời ông Weafer, « trong trường hợp các giới chức châu Âu phát hiện và nhận diện được những tập đoàn vô danh đó vi phạm lệnh trừng phạt của Âu - Mỹ và bắt đầu cho mở điều tra, thì lập tức những doanh nghiệp và tàu dầu bị nghi ngờ hoạt động trái phép, đổi tên ».

    Hơn nữa với đội ngũ « tàu ma », dầu hỏa của Nga từ khi rời các bến cảng cho đến khi được giao cho khách hàng đã « năm lần, bảy lượt được chuyển từ tàu này sang một tàu khác » : đố ai tìm được dấu vết để chứng minh đấy là dầu của Nga.

    Từ khi chiến tranh Ukraina khai mào, « Ấn Độ, Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ là những nguồn nhập khẩu dầu lớn nhất của Nga » nhưng « một phần lớn trong số đó trước sau gì rồi cũng sẽ quay trở lại châu Âu ». Macro Advisory Ltd thẩm định mỗi ngày có khoảng 1,5 triệu trên tổng số 10 triệu thùng dầu rời các bến cảng của Nga mà « trên giấy tờ là để hướng tới Trung Quốc hay Ấn Độ » nhưng thực ra « chúng được hòa loãng trên thị trường dầu hỏa thế giới » và để bán cho Liên Hiệp Châu Âu.

    Tháng 5/2023 New Delhi thông báo hơn 40 % nhập khẩu dầu hỏa của Ấn Độ là do Nga cung cấp. Đầu chiến tranh Ukraina tỷ lệ này là 2 %.  Kim ngạch xuất khẩu dầu hỏa của Ấn Độ sang thị trường châu Âu đang từ chưa đầy 300 triệu euro năm 2021 nhảy vọt lên hơn 1 tỷ đô la vào tháng 4/2023. Giới trong ngành châm biếm nhận xét : là đồng minh chiến lược của Âu Mỹ, là đối tác đáng tin cậy của Bruxelles và Washington, điều đó không cấm cản « Ấn Độ là địa điểm tẩy dầu hỏa của Nga từ dầu bẩn thành dầu sạch » để bán lại cho Liên Âu.

    Châu Âu vẫn vướng trong vòng luẩn quẩn của dầu hỏa Nga

    Cũng Christopher Weafer cho rằng « Liên Âu không thể kiểm tra nguồn gốc dầu nhập vào khối này ». Hơn nữa « phần lớn dầu của Nga bán cho Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ đều quay trở lại thị trường châu Âu ». Điều đó chứng tỏ là biện pháp « áp giá trần 60 đô la/thùng » không có hiệu quả.

    Đương nhiên là New Delhi từng khẳng định « mua dầu của Nga không để bán lại cho châu Âu » nhưng rồi cũng chính Ấn Độ đã nhìn nhận là nhờ có chiến tranh Ukraina và các biện pháp cấm vận của Âu Mỹ mà đã « tiết kiệm được 2,7 tỷ đô la trong 9 tháng đầu năm 2023 nhờ nhập khẩu dầu của Nga với giá rẻ ». Vẫn trên đài phát thanh France Culture, giáo sư kinh tế Julien Vercueil Viện Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương INALCO cho rằng, chiến tranh Ukraina kéo dài, thị trường dầu hỏa đã hoàn toàn có thời gian để « thích nghi với tình huống » sau những khó khăn ban đầu vào mùa xuân 2022.

    Julien Vercueil : « Đã có một sự chuẩn bị cho những loạt trừng phạt đầu tiên nhắm vào nước Nga, chính xác hơn là nhắm vào hệ thống tài chính của Nga. Lập tức Nga gặp khó khắn, thí dụ như đồng rúp trượt giá, thị trường tài chính Matxcơva phải tạm đóng cửa, lạm phát dâng cao khi mà đồng tiền bị phá giá. Nhưng rồi chiến tranh kéo dài, chính quyền Nga đã ‘tương kế tựu kế’ để khắc phục những khó khăn đó. Quan trọng nhất là vẫn giữ được các nguồn thu nhập có được nhờ dầu hỏa, khí đốt. Chính vì chiến tranh, giá dầu bị đẩy lên cao, như chúng ta đã biết. Các tập đoàn dầu khí của Nga có lãi vô cùng và đó là nguồn tài trợ cho cỗ máy chiến tranh của Vladimir Putin. Không chỉ có phía Nga đã thích nghi với tình huống. Âu - Mỹ cũng đã điều chỉnh cỗ máy trừng phạt để tiếp tục chận các nguồn thu nhập của Matxcơva với hy vọng giảm thiểu khả năng đài thọ các phí tổn chiến tranh ».

    Nga hiện vẫn là nguồn sản xuất dầu hỏa lớn thứ nhì trên thế giới và mặc dù kinh tế Nga đã chịu 13 đợt trừng phạt của Liên Âu nhưng dầu khí, phân bón, khoáng sản của Nga vẫn là nguồn thu vào ngoại tệ, cho phép Matxcơva tiếp tục đài thọ cuộc chiến ở Ukraina.

    Giới quan sát đồng loạt ghi nhận : Nga khai thác các « đội tàu ma » để tiếp tục xuất khẩu dầu thô, dầu lọc và rất nhiều sản phẩm chế dầu. Ở góc đài bên kia, liên minh Âu Mỹ đã mất cả năm mới đạt được đồng thuận để « trừng phạt, phong tỏa dầu hỏa của Nga ». Phương Tây cũng cần có thời gian để chuẩn bị trước khi « cai nghiện » dầu hỏa, khí đốt của Nga. Song ngay cả việc áp giá trần 60 đô la một thùng dầu của Nga xuất khẩu bằng đường biển, các chuyên gia đồng loạt cho rằng, Âu Mỹ vừa muốn đánh vào túi tiền của tổng thống Putin, vừa muốn tránh để tạo nên một cuộc khủng hoảng dầu hỏa, khi mà không một giọt dầu nào của Nga có thể bán ra cho thế giới bên ngoài. Kinh tế gia Julien Vercueil thuộc viện INALCO phân tích :

    Julien Vercueil : « Dầu hỏa là tâm điểm trong số những khả năng của Nga để tài trợ chiến tranh. Dù vậy Liên Âu đã mất cả năm 2022 để tẩy chay năng lượng của Nga. Đến cuối 2022 Bruxelles và một số các đối tác trong khối G7 và Úc … mới đồng ý về mức giá trần để mua vào dầu thô và dầu lọc của Nga. Cùng lúc Liên Âu cũng tìm cách gây khó khăn cho Matxcơva trong các dịch vụ xuất khẩu dầu hỏa cho các đối tác khác ngoài châu Âu và liên minh phương Tây. Bruxelles nhắm tới lĩnh vực vận tải đường biển. Tính toán đó đặt ra hai vấn đề cho phương Tây. Thứ nhất là nếu phong tỏa toàn bộ mọi khả năng xuất khẩu dầu lửa của Nga, thì sẽ lại càng gây nên một cơn sốt dầu, tác hại đến kinh tế toàn cầu. Đó là điều mà Âu Mỹ không mong muốn. Điểm thứ nhì là Liên Âu muốn bớt lệ thuộc vào năng lượng của Nga, nhưng vẫn muốn rằng các biện pháp trừng phạt Matxcơva không là gánh nặng ảnh hưởng đến đời sống của người dân châu Âu ».  

    Sự hiện diện và các hoạt động dồn dập của những « hạm đội Ma » trong lĩnh vực xuất khẩu dầu hỏa của Nga cho thấy : thứ nhất, Liên Âu vẫn « nghiện » năng lượng của Nga. Thứ hai là trong các hoạt động không minh bạch đó, các tập đoàn dầu khí Nga đã được từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Ấn Độ và cả Hy Lạp cùng nhiều quốc gia phương tây khác, những điểm tựa vững chắc của Ukraina tiếp tay.

    Về phía Bruxelles đành phải nhắm tới mục tiêu dài hạn : các thông cáo chính thức vẫn xác nhận cho đến giữa năm 2023 các nguồn thu nhập dầu hỏa của Nga giảm 50 % dưới tác động « đòn trừng phạt giá trần 60 đô la một thùng dầu ». Phương Tây không muốn « gạt Nga ra ngoài thị trường dầu hỏa thế giới mà chỉ muốn thu hẹp mức lãi của các tập đoàn Nga từ các hoạt động xuất khẩu năng lượng » và nhất là « về lâu dài, cô lập các nhà sản xuất Nga với công nghệ tiên tiến ở các khâu thăm dò, khai thác và lọc dầu ».

    10 min
  • « Quy chế ưu đãi » cho tàu chở hàng của Nga ở Hồng Hải

    Matxcơva đã làm những gì để giảm thiểu căng thẳng ở Hồng Hải, một « xa lộ giao thương quốc tế », cửa ngõ đưa ngũ cốc, khoáng sản, dầu khí của Nga xuất phát từ Biển Đen sang châu Phi, châu Á ? Bất ổn tại eo biển Bad Al Mandeb, nối liền Hồng Hải với Vịnh Aden, mở ra Biển Ả Rập và Ấn Độ Dương có lợi cho Nga hay không ? RFI tiếng Việt mời Igor Delanoë phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp -Nga tại Matxcơva trả lời các câu hỏi trên.

    Bất ổn tại Hồng Hải đe dọa giao thương quốc tế và bắt đầu làm xáo trộn các nguồn cung cấp nông phẩm cho một phần nhân loại như Viện Nghiên Cứu về Chính Sách Thực Phẩm Quốc Tế IFPRI, trụ sở tại Washington, đã báo động. Hồng Hải là cửa ngõ nối liền Ấn Độ Dương với Địa Trung Hải thông qua con kênh đào Suez trên lãnh thổ Ai Cập, mang tính thiết yếu đối với thị trường năng lượng, và nguyên liệu. Tổng thống Fattalh Al Sissi hôm 19/02/2024 báo động Ai Cập đang bị vạ lây thu nhập của tập đoàn khai thác kênh đào Suez, sụt giảm mất « từ 40 đến 50 % » do bất ổn ở Hồng Hải.  

    Trong trường hợp của Nga, giao thương lệ thuộc nhiều hơn vào Hồng Hải từ khi tổng thống Putin khởi động chiến tranh Ukraina và châu Á thay thế châu Âu trở thành thị trường quan trọng nhất của Nga.  

    Từ giữa tháng 11/2023 để « thể hiện đoàn kết với người Palestine ở Gaza » phe nổi dậy Hồi Giáo Houthi tại Yemen được Iran tài trợ và cung cấp vũ khí, bắn phá vào các tàu dân sự chở hàng, vào các tàu dầu của các quốc gia yểm trợ Israel.

    Liên minh quân sự Anh Mỹ phối hợp hành động diệt trừ mối đe dọa Houthi ở Hồng Hải và đã liên tục oanh kích vào các sào huyệt của phe Houthi trên lãnh thổ Yemen. Liên Âu hôm 19/02/2024 thông báo khởi động sáng kiến « Aspides » để bảo vệ tàu đi qua eo biển Bab Al Mandeb ở Hồng Hải. 

    Bắc Kinh kích hoạt kênh ngoại giao với Teheran để làm hạ nhiệt tình hình, hòng bảo đảm các các hoạt động xuất nhập khẩu nối liền Hoa Lục với các đối tác châu Âu, châu Phi và Trung Cận Đông, cho dù ngày 19/01/2024 cũng phe Houthi đã tuyên bố « bảo đảm an toàn » cho tàu của Trung Quốc và Nga.    

    Thương mại Nga xoay trục sang châu Á

    Về phía Matxcơva, đầu năm 2024, đại sứ Nga tại Liên Hiệp Quốc bày tỏ « quan ngại » về tình hình ở Hồng Hải và đã nêu bật những « rủi ro » đối với giao thương quốc tế và quyền tự do lưu thông trên biển. Điều đó không cấm cản điện Kremlin lên án liên quân Anh Mỹ « không có lý do chính đáng » để oanh kích vào các căn cứ của quân Houthi trên lãnh thổ Yemen. Song Matxcơva hôm 10/01/2024 đã tránh dùng quyền phủ quyết bác bỏ nghị quyết 2722 của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đòi lực lượng Houthi « ngừng ngay lập tức » mọi tấn công nhắm vào tàu chở hàng và phóng thích tàu hàng Israel Galaxy Leader và thủy thủ đoàn.

    Hãng tin Anh Reuters ghi nhận tính đến ngày 01/02/2024 tàu chở dầu của Nga vẫn tiếp tục đi qua Hồng Hải và không bị quân nổi dậy Houthi quấy nhiễu. Đây là điều hết sức quan trọng do giao thương quốc tế của Nga « lệ thuộc nhiều hơn vào kênh đào Suez và Hồng Hải từ khi Matxcơva đưa quân xâm chiếm Ukraina ».

    Dưới tác động hơn một chục đợt trừng phạt của Liên Hiệp Châu Âu, xuất nhập khẩu của Nga chuyển hướng sang Trung Quốc và Ấn Độ.

    Trả lời đài RFI Việt ngữ, Igor Delanoë phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp -Nga tại Matxcơva phân tích thêm về tầm mức quan trọng của Hồng Hải đối với xuất nhập khẩu của Nga, đặc biệt là ở vào thời điểm nay, sau gần hai năm kinh tế Nga bị phương Tây trừng phạt :

    Igor Delanoë : « Đương nhiên về thương mại, Hồng Hải là một trục giao thông quan trọng đối với Nga. Vùng biển này là sự tiếp nối cho hàng của Nga từ Hắc Hải, tức là Biển Đen đi tiếp sang các thị trường ở châu Phi và châu Á. Hồng Hải đặc biệt là tuyến đường thiết yếu để xuất khẩu nông phẩm, ngũ cốc và xăng, dầu. Đây cũng là cửa ngõ đưa các tàu chở ngũ cốc của Nga từ bến cảng Taman, tàu dầu của Nga từ cảng Novorossiysk ở Biển Đen phải đi qua, trước khi đến được châu Á, châu Phi. Năm ngoái có từ 43 đến 45 triệu tấn ngũ cốc của Nga đã phải trung chuyển qua Hồng Hải và như đã biết Nga trở thành nguồn cung cấp dầu hỏa lớn nhất cho Trung Quốc. Cũng trong năm 2023 Nga đã xuất khẩu khoảng 100 triệu tấn dầu sang Trung Quốc qua ngả Hồng Hải (…) Cho đến thời điểm hiện tại, tàu chở hàng và chở dầu của Nga tương đối ít bị tấn công và vẫn tiếp tục sử dụng tuyến đường biển này chứ không phải đánh đường vòng xuống tận Mũi Hảo Vọng ở cực nam châu Phi. Tàu thuyền Nga vẫn tấp nập đi trong khu vực Hồng Hải ».

    Hồng Hải và những thu nhập để tài trợ cỗ máy chiến tranh

    Cùng với Ukraina, Nga là một trong những ba nguồn cung cấp ngũ cốc hàng đầu thế giới, Hồng Hải và cửa ngõ kênh đào Suez của Ai Cập cũng là một « đồng minh » quý giá giúp kinh tế Nga vẫn có thu nhập để tài trợ cho cỗ máy chiến tranh mà điện Kremlin gọi là « chiến dịch quân sự đặc biệt ».

    Igor Delanoë : « Trên thị trường ngũ cốc, hiện nay chúng ta đang ở giữa vụ mùa 2023/2024, vụ mùa luôn bắt đầu vào tháng 7. Như vậy là trong 6 tháng đầu -tức là từ tháng 7/2023 đến tháng 1/2024, Nga đã xuất khẩu từ 35 đến 36 triệu tấn ngũ cốc sang các thị trường như là Thổ Nhĩ Kỳ, Algérie, Ai Cập trong vùng Địa Trung Hải. Các nhà sản xuất Nga đã bắt rễ vào nhiều thị trường mới như là Pakistan, Bangladesh và Indonesia hay Nam Phi, Tanzania … Theo các thống kê, kim ngạch xuất khẩu ngũ cốc của Nga tăng từ 100 đến 150- và thậm chí là 160 % trong nửa đầu của vụ mùa 2023/2024 và rất có thể là các nguồn cung cấp của Nga sẽ giữ được nhịp độ này trong sáu tháng còn năm nay. Matxcơva đang đề ra những mục tiêu đầy tham vọng về khả năng xuất khẩu nông phẩm, ngũ cốc, mà Việt Nam là một trong những khách hàng đã nhập khẩu nhiều trong sáu tháng vừa qua, Nam Phi cũng vậy ».   

    Các tập đoàn vận chuyển đường biển lớn trên thế giới từ CMA CGM đến Maersk hay COSCO (Trung Quốc) và các công ty dâu khí như BP, Shell đều tránh né vịnh Bad Al Mandeb, giao thương trong khu vực « giảm 45 % trong hai tháng đầu 2024 qua ngả kênh đào Suez ». Trái lại theo ghi nhận của Đài Quan Sát Pháp -Nga có vẻ như đang được « hưởng quy chế ưu đãi »

    Igor Delanoë : « Từ đầu tháng 12/2023 khi mà tình hình ở Hồng Hải nóng lên, phía Nga ghi nhận hai sự cố, một do bị quân Houthi ngắm nhầm nhưng tàu hàng không bị hư hại. Còn trong vụ thứ nhì, tàu đã bị hỏng nhẹ nhưng vẫn có thể tiếp tục hành trình. Hai sự cố trong suốt những tháng qua là tương đối ít so với thiệt hại của những nước khác. Trong khi đó thì những tập đoàn vận tải đường biển như CMA CGM (của Pháp), MSC (của Ý và Thụy Sĩ) hay Maersk (của Đan Mạch) … đều đã tránh đi qua Hồng Hải để khỏi là mục tiêu của phe nổi dậy Yemen Houthi ».

    Quy chế ưu đãi cho tàu của Nga ?

    « Quy chế ưu đãi đó » có được phải chăng do ảnh hưởng của Nga qua trung gian Iran với lại phe nổi dậy Hồi Giáo ở Yemen Houthi, bởi vì Matxcơva và Teheran được cho là vẫn có quan hệ « mật thiết » ?

    Igor Delanoë : « Ảnh hưởng của Nga đối với phe Houthi trong vùng biển này khá hạn chế. Tiếng nói của Iran mới có trọng lượng đối với phong trào nổi đậy ở Yemen này và như vậy tức là Nga phải đi qua trung gian của Iran. Tuy nhiên Matxcơva không có khả năng làm thay đổi đường lối của phe Houthi cũng như là với Iran về những diễn tiến ở Hồng Hải. Đương nhiên là lợi ích của Nga là hạ nhiệt tình hình ở Hồng Hải và nhất là tránh để căng thẳng ở đây xấu đi thêm. Nhưng những hành vi của quân Houthi ở Hồng Hải đang bất lợi cho Mỹ và châu Âu. Nhìn từ phía Nga thì tất cả những gì bất lợi cho Âu Mỹ đều tốt cả, với điều kiện là tình hình không xấu đi thêm ».  

    Houthi phá rối phương Tây, 3 điềm tốt cho Nga 

    Cụ thể hơn, trước mắt quyền lợi của Nga ở khu vực Hồng Hải ít bị xáo trộn như vừa nói, đồng thời những vụ bắn phá của quân Houthi buộc cộng đồng quốc tế, buộc các giới chức quân sự của Âu Mỹ phải chú trọng đến vùng biển này qua đó, « bớt tập trung vào Ukraina ».

    Lợi thế thứ nhì, trong mắt Matxcơva là việc các tàu chở hàng của phương Tây, phải đánh đường vòng đi qua Mũi Hảo Vọng, các chi phí vận chuyển tốn kém hơn, nguy cơ hàng giao không kịp gây tắc nghẽn dây chuyền sản xuất … ảnh hưởng đến kinh tế của Âu Mỹ cũng là những « điểm tốt ».

    Điểm thứ ba như một số các trang mạng về quân sự của Mỹ báo động Lầu Năm Góc đang huy động tên lửa hiện đại trị giá có khi lên tới cả triệu đô la mỗi chiếc để tiêu diệt drone rẻ tiền của phe nổi dậy Yemen và cùng lắm là để tiêu diệt tên lửa rẻ tiền do Iran chế tạo. Nói cách khác cuộc xung đột bất tương xứng này đang làm hao mòn kho vũ khí đạn dược hiện đại của cỗ máy quân sự lợi hại nhất thế giới. Đó là điều « rất thú vị » đối với Matxcơva.

    10 min
  • Indonesia, một cường quốc khu vực trước cuộc đọ sức Mỹ - Trung

    Jakarta chuẩn bị khép lại 10 năm thời đại « Jokowi ». Trong hai nhiệm kỳ, tổng thống Joko Widodo đã đặt Indonesia vào « trung tâm của chuỗi cung ứng toàn cầu », và một quốc gia tiên phong về công nghệ xanh. Thách thức đối với chính quyền sắp tới là « khả năng khá giới hạn » của một cường quốc khu vực trong cuộc đối đầu Mỹ-Trung theo phân tích của chuyên gia về châu Á, Hubert Testard trường Khoa Học Chính Trị Paris, và phụ trách báo mạng Asialyst.

    Ngày 14/02/2024, cử tri Indonesia bầu lại tổng thống, Quốc Hội và khoảng 20.000 dân biểu cấp địa phương. Indonesia là một trong những thành viên ban đầu của khối ASEAN, là quốc gia Đông Nam Á duy nhất tham gia G20, câu lạc bộ quy tụ 20 nền kinh tế phát triển nhất. Là quốc gia Hồi Giáo lớn nhất thế giới, lại là cửa ngõ giữa Ấn Độ và Thái Bình Dương, là gạch nối giữa châu Á và châu Đại Dương, Indonesia có rất nhiều lợi thế để tất cả các siêu cường trên thế giới phải quan tâm.

    Sau 10 năm cầm quyền, Jokowi chuẩn bị chuyển giao quyền lực vào lúc ông vẫn được ba phần tư dân chúng tín nhiệm. Trên trường quốc tế, tổng thống Joko Widodo là đối tác được nể trọng và thân thiện với cả Washington đến lẫn Matxcơva, với Bắc Kinh cũng như Canberra hay Paris, Bruxelles và nhất là với Tokyo, Seoul hay với các nước Đông Nam Á.

    Thành tích mở mang Indonesia

    Trước hết đối với kinh tế Indonesia trong hai nhiệm kỳ vừa qua, ông Joko Widodo đã mang lại những gì cho đất nước ? RFI tiếng Việt đặt câu hỏi với Hubert Testard, chuyên gia về châu Á, giảng dậy tại trường Khoa Học Chính Trị Paris Sciences Po, và cũng là một trong những cây bút chính của trang mạng Asialyst. 

    Hubert Testard : « Kinh tế Indonesia khá ổn định, với tỷ lệ tăng trưởng trong dài hạn trung bình ở mức 5 % một năm. Indonesia cũng đã khá vững vàng trong bối cảnh lãi suất ngân hàng trên thế giới liên tục tăng lên. Tuy nhiên đại dịch Covid cũng đã tác động mạnh đến kinh tế quốc gia Đông Nam Á này - nhất là trong giai đoạn 2020 và 2021. GDP của Indonesia khi đó đã mất khoảng 0,7 %. Điều đó cũng có nghĩa là một phần dân số nước này dễ bị đẩy vào cảnh nghèo khó, thị trường lao động cũng bị ảnh hưởng theo. Hiện tại lạm phát đè nặng lên đời sống của nhiều người, nhất là khi mà giá cả nhu yếu phẩm -như đường hay gạo tăng lên. Tổng thổng tương lai sẽ phải chú ý và sẽ phải giải quyết những vấn đề xã hội (...)

    Nhìn chung thành tích kinh tế của tổng thống mãn nhiệm Joko Widodo khá tốt. Tất cả không phải là màu hồng nhưng trong 10 năm qua, ông đã tạo lực đẩy để phát triển cơ sở hạ tầng - mà đây là một nhược điểm lớn của Indonesia. Chính quyền Joko Widodo cũng đã tìm cách đặt Indonesia vào trung tâm chuỗi cung ứng qua việc phát triển công nghiệp khai thác quặng mỏ như mỏ beauxite, nikel… Để đạt được mục tiêu đó, Jakarta cần đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trên điểm này, Indonesia đã khá thành công và đang trở thành một mắt xích quan trọng của tiến trình chuyển đổi năng lượng tại Châu Á. Không chỉ có nguyên liệu để chế tạo bình điện mà tham vọng sắp tới đây của Indonesia là phát triển cả ngành công nghiệp ô tô điện ».

    Vẫn theo Hubert Testard, nhờ đầu tư và các doanh nghiệp Trung Quốc, xuất khẩu nikel tinh chất của Indonesia trong giai đoạn 2016 -2022 đã được « nhân lên gấp 30 lần ». Indonesia đang trở thành nhà máy sản xuất bình điện cho xe ô tô để cung cấp cho các hãng xe từ BYD của Trung Quốc đến Huyndai của Hàn Quốc.  

    Dù phải đối phó với khủng hoảng Covid và lạm phát do chiến tranh Ukraina gây nên, Jakarta vẫn giữ được thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức 3 % GDP. Nợ công chỉ tương đương với 37 % tổng sản phẩm nội địa, mà gần ¾ trong số đó là nợ do chính người dân Indonesia nắm giữ. Khác với ở Trung Quốc chẳng hạn, hệ thống tài chính và ngân hàng của Indonesia được giới trong ngành đánh giá là « vững chắc ».

    Năm 2022 tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Indonesia (FDI) đạt mức cao chưa từng thấy 44 tỷ đô la để rồi đến 2023 lại đạt thành tích mới với 47 tỷ. Gần một nửa các khoản đầu tư nói trên hướng về các dự án khai thác quặng mỏ và ngành luyện kim.

    Con đường tơ lụa gắn kết Indonesia với Trung Quốc

    Tổng thống Joko Widodo được dân chúng thân mật gọi là ông Jokowi, ngoài ra, ông còn có biệt danh là « Bapak Infrastruktur » bởi trong 10 năm cầm quyền, ông đã dốc lòng xây dựng cơ sở hạ tầng và dựa vào dự án Con Đường Tơ Lụa mới của ông Tập Cận Bình. Trung Quốc đương nhiên « đánh cược » vào Indonesia để mở rộng ảnh hưởng ở Ấn Độ -Thái Bình Dương.

    Theo thống kê của ngân hàng Indonesia Maybank, năm 2022, Trung Quốc đầu tư vào ASEAN gần 17 tỷ đô la và « 13,7 tỷ trong số đó là để rót vào Indonesia và Hồng Kông ». Vậy có thể nói Indonesia phát triển mạnh nhờ đầu tư từ dự án Con Đường Tơ Lụa mới của Trung Quốc ?

    Hubert Testard : « Hai vế ấy đi đôi với nhau, vì để phát triển cơ sở hạ tầng, Indonesia cần vốn đầu tư của trong và ngoài nước khi mà ngân sách của chính phủ thì có hạn. Trung Quốc đã sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đó. Chúng ta thấy qua dự án đường xe lửa cao tốc nối liền thủ đô Jakarta với thành phố Bandung. Công trình do Trung Quốc thực hiện và tài trợ, nhưng đây không là dự án duy nhất. Trung Quốc chiếm vị trí rất lớn tại Indonesia nhất là trên thị trường nguyên liệu. Indonesia giờ đây hầu như không còn xuất khẩu nikel thô nữa mà đó là nikel tinh chất để được sử dụng ngay trong việc sản xuất bình điện ô tô. Có dự án Con Đường Tơ Lụa mới hay không, thì tôi cho rằng Trung Quốc cũng vấn hiện diện ở Indonesia như thường. Trong khá nhiều lĩnh vực họ gần như là trong thế ‘song quyền’ cùng với Indonesia để khai thác tài nguyên ».

    An ninh biển vì lòng tham của Trung Quốc

    Như đã nói ở trên, Indonesia là cửa ngõ giữa Ấn Độ với Thái Bình Dương, là gạch nối giữa châu Á với châu Đại Dương. Quốc gia này làm chủ trên dưới 17 ngàn hòn đảo lớn nhỏ trải rộng trên hơn 5 ngàn cây số từ đông sang tây, hơn 2 ngàn cây số từ nam chí bắc. Jakarta hoàn toàn ý thức được là sự thịnh vượng tùy thuộc vào ổn định và an ninh trên biển.

    Ít ồn ào hơn Philippines hay Việt Nam nhưng Indonesia cũng là một nước có tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc, chung quanh quần đảo Natuna ở Biển Đông.

    Trong một nghiên cứu hồi 2023, luật gia Daniel Peterson thuộc đại học Melbourne - Úc, được báo Le Monde trích dẫn cho rằng, hợp tác chặt chẽ về kinh tế giảm thiểu tham vọng của Bắc Kinh lấn át chủ quyền của Jakarta trong vùng đặc quyền kinh tế ZEE ở Biển Đông, nhưng đồng thời đầu tư của Trung Quốc bắt rễ sâu vào các hoạt động kinh tế của Indonesia cũng là một dạng « con ngựa thành Troie » khi mà đấy là những « mảng đầu tư mang tính chiến lược lâu dài » cho phép Bắc Kinh « hiện diện dài lâu ở bên trong lãnh thổ của Indonesia, mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc với khu vực » và vẫn theo chuyên gia này Indonesia đã trở thành « tâm điểm trong số những mục tiêu địa chính trị của Trung Quốc » ở Ấn Độ Thái Bình Dương.

    Trong cuộc đua kế vị tổng thống Joko Widodo, đương kim bộ trưởng Quốc Phòng Indonesia Prabowo Subianto được coi là người có nhiều triển vọng hơn cả. Ông này từng là đối thủ của Jokowi nhưng nay lại được tổng thống sắp mãn nhiêm ủng hộ. Bằng chứng rõ rệt nhất là con trai cả của Joko Widodo, mới 36 tuổi, đứng liên danh, ra tranh chức phó tổng thống cùng với ông Prabowo Subianto.

    Chuyên gia châu Á Hubert Testard ghi nhận : Indonesia là  quốc gia Hồi Giáo đông dân nhất thế giới và có lập trường bênh vực người Palestine trong cuộc xung đột ở Gaza, Cận Đông. Về chiến tranh Ukraina công luận thiên về phía Nga vì tinh thần bài Mỹ. Cả hai cuộc xung đột ấy cùng ngoài tầm ảnh hưởng của Jakarta. Hơn nữa từ khi giành được độc lập năm 1945, nguyên tắc ngoại giao của là bắt tay với tất cả các bên, nên dưới đời tổng thống nào đi chăng nữa Indonesia vẫn sẽ giữ thế « trung lập ». Đấy cũng sẽ là kim chỉ nam trong chính sách đối ngoại của Indonesia trong trường hợp hai siêu cường kinh tế thế giới là Hoa Kỳ và Trung Quốc lao vào một cuộc đối đầu

    Hubert Testard : « Trong cuộc đối đầu Mỹ- Trung Quốc, khả năng của Indonesia giảm thiểu căng thẳng ở khu vực châu Á khá hạn hẹp bởi vì hai siêu cường thế giới này có những tính toán riêng, hoàn toàn độc lập với những yếu tố bên ngoài hay là của các quốc gia tại khu vực liên quan. Song chính sách đối ngoại của Jakarta từ trước đến nay vẫn rõ ràng đó là quyết tâm bắt tay với tất cả các bên. Indonesia có mối bang giao hữu hảo với cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ. Với Bắc Kinh thì đấy là vì lợi ích kinh tế và Jakarta tránh để làm phật lòng Trung Quốc trừ phi mà ông Tập Cận Bình cho tàu thuyền thâm nhập vào các vùng biển thuộc chủ quyền của Indonesia. Thế còn đối với Mỹ, ứng viên tổng thống được cho là có nhiều triển vọng nhất hiện nay là đương kim bộ trưởng Quốc Phòng ông Prabowo Subianto, thì có khuynh hướng thân phương Tây. Chính dưới nhiệm kỳ của ông, Indonesia ngừng trang bị Sukhoi của Nga để mua chiến đấu cơ Rafale của Pháp và F15 của Mỹ. Hiện tại về mặt quân sự, Indonesia giữ khoảng cách với Nga và hướng nhiều hơn tới phương Tây ».

    Tuy nhiên ngay cả trên những hồ sơ mang tính khu vực, Hubert Testard cũng cho rằng, khả năng can thiệp của Indonesia cũng không nhiều. Điều đã được chứng minh qua vấn đề của Miến Điện. Tổng thống mãn nhiệm Joko Widodo cũng như là người sắp thay thế ông, đều sẽ tập trung vào việc tăng cường khả năng phòng thủ -nhất là trên biển của Indonesia  

    Hubert Testard : « Quân đội Indonesia cần được hiện đại hóa. Đứng đầu bộ Quốc Phòng, ông Pabowo đã bắt đầu làm việc này và theo tôi thì ở cương vị tổng thống, ông sẽ tiếp tục đi theo chiều hướng đó. Nghĩa mở rộng và tăng cường khả năng chiến đấu cho quân đội Indonesia. Jakarta sẽ tăng chi phí quốc phòng và tăng ngân sách mua trang thiết bị quân sự. Chắc chắn là ông sẽ chú trọng đến bên Hải Quân, vì Indonesia cần tăng cường khả năng răn đe cho các lực lượng trên biển, nhất là trước những tham vọng của Trung Quốc. Hiện tại quốc gia Đông Nam Á này trong thế châu chấu đá voi : Jakarta có khoảng 8 khinh hạm, trong lúc của Trung Quốc là hơn 40 chiếc, Indonesia có 4 tàu ngầm thì Hải Quân Trung Quốc có hơn 60 chiếc. Trung Quốc bị coi là mối đe dọa chính vì những đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông ». 

     

    10 min
  • Thấy gì từ vụ chi nhánh Evergrande ở Hồng Kông bị giải thể ?

    Ai bị thiệt thòi hơn cả từ vụ chi nhánh tập đoàn địa ốc Evergrande tại Hồng Kông bị « giải thể » ? Đây là hồi kết của mọi nỗ lực thu hút đầu tư ngoại quốc vào Trung Quốc hay là bước ngoặt trong chính sách kinh tế của Bắc Kinh ? 

    Ngày 29/01/2024 một tòa án Hồng Kông ra phán quyết « giải thể » Evergrande. Tại Luân Đôn, tờ Financial Times báo trước, « sự sụp đổ của tập đoàn địa ốc mang nợ nhiều nhất trên thế giới sẽ mở ra một giai đoạn đầy sóng gió » cho Trung Quốc. Báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal nói đến « dấu chấm hết sau một giai đoạn hấp hối đã kéo dài » từ một tập đoàn bị phá sản với « những tác động làm rung chuyển nền kinh tế thứ hai toàn cầu ». Nhưng đây chỉ là quân « đô mi nô đầu tiên bị đổ » hay là lớp sóng ngầm ?

    Trang mạng kinh tế Axios cũng của Mỹ xem vụ tài sản của Evergrande bị thanh lý là dấu hiệu « kinh tế Trung Quốc đang xấu đi », « thị trường bất động sản nước này lún sâu thêm vào khủng hoảng và sẽ tác động đến những lĩnh vực khác của nền kinh tế Trung Quốc ». Một nhà quan sát Trung Quốc thuộc viện nghiên cứu Mars Data nói đến một « vố đau giáng xuống Trung Quốc » vào lúc Bắc Kinh cố gắng tổ chức lại giảm bớt nạn « chi tiêu vô độ ».

    Từ biểu tượng của thành công đến biểu tượng của khủng hoảng

    Cách nay gần 30 năm, ông vua địa ốc Hứa Gia Ấn lập ra Evergrande, trụ sở tại Quảng Châu- Hoa Lục. Công ty này nhanh chóng trở thành một biểu tượng của phép lạ kinh tế Trung Quốc. Hiện diện tại hơn 170 thành phố, Evergrande tham gia sàn chứng khoán Hồng Kông, rồi trở thành một trong những nhà môi giới bất động sản lớn nhất thế giới. Sức mạnh đó cho phép Evergrande -còn được biết đến dưới cái tên Trung Quốc là tập đoàn Hằng Đại -Hengda, mạo hiểm trong nhiều lĩnh vực khác từ bảo hiểm nhà đất, đến y tế, công nghiệp xe điện …

    2021, gió đã xoay chiều. Theo báo cáo được công bố tháng 6/2023 Evergrande mang nợ 328 tỷ đô la -tương đương với gần 3 % GDP của Trung Quốc. Evergrande đã trở thành biểu tượng của khủng hoảng địa ốc vô tiền khoáng hậu mà đã hơn hai năm qua, Bắc Kinh vẫn chưa có liều thuốc trị liệu.

    "Không có chuyện Evergrande bị khai tử"

    Trả lời RFI Việt ngữ, nhà báo Pierre Antoine Donnet, một cây bút của tờ báo mạng chuyên về châu Á Asialyst trước hết giải thích về phán quyết của tòa án Hồng Kông hôm 29/01/2024 và ông nhấn mạnh vì sao « thủ tục thanh lý tài sản của Evergrande » sẽ kéo dài cho dù chỉ liên quan đến phần tài sản thuộc sở hữu của chi nhánh ở Hồng Kông. Đồng thời Pierre Antoine Donnet hoàn toàn loại trừ khả năng vì một phán quyết của Hồng Kông mà Evergrande sẽ « bị xóa sổ ». 

    Pierre Antoine Donnet : « Một tòa án Hồng Kông có thẩm quyền tuyên bố giải thể Evergrande do tập đoàn môi giới địa ốc này có chi nhánh ở Hồng Kông. Trên nguyên tắc và bình thường ra, điều đó có nghĩa là tài sản của Evergrande sẽ bị chia nhỏ ra và để bán lại cho ngân hàng, cho các nhà đầu tư hay doanh nghiệp, các quỹ tư nhân nào đó… Trong mọi trường hợp thủ tục sẽ kéo dài bởi vấn đề ở đây là một tòa án Hồng Kông căn cứ vào luật của Hồng Kông để giải thể Evergrande. Nhưng luật doanh nghiệp Hồng Kông rất khác so với của Hoa Lục. Hơn 90 % tài sản của Evergrande là ở Hoa Lục. Chỉ có các tòa án ở Hoa Lục mới có đủ thẩm quyền và có tiếng nói sau cùng về số phận Evergrande. Như đã biết, luật pháp Trung Quốc trong tay Đảng Cộng Sản nước này. Chỉ có Đảng mới có có thể quyết định có giải thể Evergrande hay không và nếu có thì khi nào.

    Lúc này Trung Quốc đang sửa soạn đón Tết âm lịch, chẳng mấy ai quyết định bất cứ điều gì về Evergrande trong lúc này. Nhưng về lâu dài, thủ tục thanh lý tài sản của chi nhánh Evergrande tại Hồng Kông kéo dài bao lâu ? Có nhiều quan điểm khác nhau. Phần lớn đều cho rằng hồ sơ này sẽ kéo dài nhiều tháng và sẽ rất phức tạp vì đừng quên rằng, Evergrande không chỉ hoạt động trong ngành bất động sản, mà còn hiện diện trong nhiều lĩnh vực khác nữa (như trong lĩnh vực cung cấp nước khoáng,sản xuất thực phẩm… bảo hiểm nhà ở … ). Trong mọi trường hợp những hệ quả kèm theo về vụ Evergrande sẽ rất lớn cả về chính trị lẫn kinh tế và xã hội.

    Tác động về mặt xã hội khi mà hàng trăm ngàn căn hộ đang xây và bị bỏ dở, khi mà hàng trăm triệu căn hộ khác đã xây xong nhưng lại hoàn toàn bị bỏ trống, khi mà chủ nhân của những căn hộ đó – phần lớn là người cao tuổi mang tiền tiết kiệm ra để đầu tư, nhưng giờ đây lại mất hết tất cả : họ không được giao nhà và cũng không thể lấy lại vốn. Đầu tư, mùa nhà là cách để người dân Trung Quốc tiết kiệm cho tuổi về hưu ».   

    Từ tháng 10/2021 « 90 % trị giá chứng khoán của Evergrande đã bốc hơi ». Trong bài tham luận dành cho viện nghiên cứu Institut Montaigne (12/10/2021) chuyên gia về ngân hàng và đã có nhiều năm làm việc tại châu Á và Trung Quốc, Philippe Aguignier giảng dậy tại trường Khoa Học Chính Trị Sciences Po. và Viện Văn Hoa và Ngôn Ngữ Đông Phương đã xác định rõ danh sách những « nạn nhân » từ hiện tượng vỡ bong bóng địa ốc tại mà Evergrande là một trường hợp điển hình.

    Philippe Aguignier lo ngại cho số phận của gần 70 ngàn nhân viên của đại tập đoàn này và kèm theo đó là của các đối tác cung cấp nguyên và nhiên liệu, dịch vụ cho Evergrande, bởi vì các chủ nợ của Evergrande, nếu là các ngân hàng hay các quỹ đầu tư, các hãng bảo hiểm thì đều ít nhiều được Nhà nước yểm trợ.

     "Khả năng rất thấp để được bồi hoàn" 

    Câu hỏi lớn ở đây là liệu rằng hàng trăm triệu người đã đầu tư để mua nhà có hy vọng được hoàn lại vốn hay không ? Nhà họ đã mua có còn trị giá gì nữa hay không ? Pierre Antoine Donnet không mấy lạc quan :  

    Pierre Antoine Donnet : « Ở Trung Quốc có những cơ quan phụ trách thu thập, xử lý đơn kiện các doanh nghiệp theo hướng gọi là để bảo vệ người đầu tư. Nhưng hệ thống hành chính, tư pháp ở đây do chính quyền kiểm soát và cầm chắc là hàng triệu người mua nhà sẽ không bao giờ được hoàn trả lại vốn. Hệ quả kèm theo là công luận Trung Quốc lại càng mất niềm tin vào guồng máy chính trị ngay trên đất nước họ, càng mất lòng tin vào chính các doanh nghiệp của Trung Quốc. Tổng nợ của Evergrande và cũng là con số mà người ta được biết là 328 tỷ đô la ».

    Bài học nào từ vụ Evergrande và khủng hoảng bất động sản Trung Quốc ? Cũng ông Donnet, nhà báo từng là thông tín viên thường trực tại Bắc Kinh của hãng thông tấn AFP phân tích :

    Pierre Antoine Donnet : « Ở Trung Quốc bên cạnh hiện tượng người ta đã rất hồ hởi đầu tư, kèm theo đó là sự tự tin quá trớn. Có nghĩa là ở đây nhiều người tin rằng, Trung Quốc với một tỷ lệ tăng trưởng hơn 10 % một năm trong thời gian rất dài thì chuyện gì cũng có thể làm được. Phép lại kinh tế đó đã khiến người ta chóng mặt và nhất là trong lĩnh vực địa ốc … cho dù đây không là một trường hợp cá biệt. Trung Quốc đã có biết bao nhiêu dự án khổng lồ : nào là xa lộ rộng thênh thang, những sân bay càng lúc càng đồ sộ. Nhưng không ít những công trình đó hiện nay vô dụng. Thậm chí do quá cồng kềnh, chúng đã bị phá hủy … Trong những điều kiện đó, hình ảnh của Trung Quốc trong mắt công luận quốc tế đã xấu đi và giới đầu tư ngoại quốc bắt đầu hoài nghi về thực chất của sức mạnh kinh tế Trung Quốc. Số này đang tính đến những nước cờ tiếp theo. Họ tự hỏi Trung Quốc có còn là điểm an toàn xứng đáng để bỏ vốn vào đây kinh doanh nữa hay không. Chỉ riêng năm 2023 hàng ngàn nhà đầu tư nước ngoài đã rời khỏi Hoa Lục. Tại châu Á, thì Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam và Singapore là những bãi đáp ».

     

    Nhà đất, Bắc Kinh đi từ thái cực này đến thái cực khác

    Về những nguyên nhân đã thổi lên quả bóng địa ốc tại Trung Quốc, chuyên gia về tài chính Philippe Aguignier nhắc lại : Bắc Kinh chủ tương khuyến khích đầu tư và tiết kiệm hơn là tiêu thụ. Đồng thời đối với tất cả người dân tại đây, mua nhà là cách duy nhất để dành tiền và kiếm lãi.

    Vấn đề đặt ra là giờ đây Trung Quốc đứng trước một nghịch lý : nhu cầu cung cấp nhà ở cho hơn 1,5 tỷ dân vẫn tồn tại. Thanh niên không có phương tiện mua nhà, ra ở riêng mà vẫn phải sống chung với bố mẹ. Bên cạnh đó là hàng « triệu căn hộ đang bị bỏ trống ». Từ 15 năm nay các chuyên gia Trung Quốc đã kêu gọi chính quyền điều chỉnh lại hiện tượng bất cân đối đó. Do vậy, theo giới quan sát quyết định của ông Tập Cận Bình làm hạ nhiệt thị trường bất động sản tại Trung Quốc là cần thiết. Có điều, luật cung cầu và thể thức vận hành của một nền kinh tế không phải lúc nào « chiều theo ý muốn của lãnh đạo ».

    Nhà Trung Quốc học, François Godement viện Institut Montaigne cho rằng trong trường hợp cụ thể của tập đoàn Evergrande, khi điều chỉnh lại thị trường nhà đất, Bắc Kinh đã « cân nhắc kỹ » những tác động về kinh tế và xã hội trước khi quyết định « để cho quả bóng địa ốc xì hơi ».

    Thị trường nhà đất Trung Quốc « mất hết tự do »

    Theo chuyên gia nước Pháp này trên thị trường bất động sản, Bắc Kinh đã chuyển từ « một thái cực này sang một thái cực khác » : Cho đến rất gần đây, Trung Quốc hầu như không đánh thuế nhà đất, nhưng rồi trong một sớm một chiều Nhà nước đã ban hành một loạt chỉ thị như là ấn định giá trần khi cho thuê nhà tại một số các thành phố lớn …

     

    Những quyết định sắp tới có thể là « mầm mống báo trước chính sách kinh tế của Bắc Kinh trong tương lai

    François Godement cho rằng sẽ khá thú vị chờ xem quyết định của Bắc Kinh về số phận Evergrande và nhất là sẽ bồi thường cho các nạn nhân của tập đoàn này như thế nào : chính phủ sẽ chú trọng hơn đến các nhà đầu tư nội địa, đến các đối tác tài chính ở hải ngoại hay đến những nhà đầu tư cò con ? Những quyết định sắp tới có thể là « mầm mống báo trước chính sách kinh tế của Bắc Kinh trong tương lai, theo hướng Trung Quốc giảm mức độ lệ thuộc vào lĩnh vực tài chính (…)  hay vào một số lĩnh công nghệ thuật nơi mà các nhà đầu tư nước ngoài chiếm một vị trí quan trọng, để chú trọng hơn vào những vấn đề cơ bản thiết thực với xã hội ».

    Hiệu quả của chính sách đó đến đâu, đấy lại là chuyện khác. Trước mắt cố vấn về Trung Quốc của viện nghiên cứu Institut Montaigne, Paris, nhà Trung Quốc học François Godement, thận trọng vì ông không chắc xoay trục chính sách kinh tế theo hướng đó sẽ cho phép « về lâu dài, bảo đảm tăng trưởng cho quốc gia này ».

    10 min
  • Trung Quốc đang tính toán những gì ở Miến Điện ?

    « Bắt cá hai tay ». Trung Quốc đang tính toán những gì ở Miến Điện ? Đối thoại với tập đoàn quân sự và liên minh vũ trang chống quân đội là dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng của Bắc Kinh với quốc gia Đông Nam Á này « có hạn », hay Trung Quốc đang lo rằng xung đột vũ trang tại Miến Điện « vuột tầm kiểm soát » như Emmanuel Véron chuyên gia về Trung Quốc đương đại, viện INALCO Paris, ghi nhận trong cuộc trả lời phỏng vấn dành cho RFI tiếng Việt ?

    « Chiến dịch 1027 » liên minh vũ trang giữa ba sắc tộc thiểu số Miến Điện khởi động từ hôm 27/10/2023 đang làm đảo lộn những kế hoạch của Trung Quốc tại quốc gia Đông Nam Á này. Bắc Kinh vẫn là điểm tựa chính trị và quân sự của giới tướng lĩnh cầm quyền nhưng lại « tiếp tay » với phe nổi dậy chống lại Naypyidaw để cứu vãn quyền lợi kinh tế, dập tắt nguy cơ bất ổn tại đường biên giới phía nam, bảo đảm an toàn và kế sinh nhai cho hàng trăm ngàn công dân Trung Quốc tại các cửa khẩu.

    Ngày 01/02/2024 đánh dấu tròn ba năm tập đoàn quân sự Miến Điện lật đổ chính quyền dân sự trong tay Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ do bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo. Ba năm sau cuộc đảo chính, giới tướng lĩnh ở thủ đô Naypyidaw chỉ còn kiểm soát từ « 40 đến 60 % lãnh thổ » như giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp Eric Mottet ghi nhận.

    Từ cuối tháng 10/2023, quân đội Miến Điện, với điểm tựa chính là Trung Quốc, đã bị liên minh vũ trang Three Brotherhood Alliance - TBA thách thức, mở nhiều mặt trận tấn công. Tập đoàn quân sự nhìn nhận « thất bại quân sự tại nhiều khu vực ở bang Shan » biên giới đông bắc, sát với Trung Quốc.

    Hiệu quả của vai trò trung gian hòa giải

    Về phía Bắc Kinh, do có đường biên giới chung hơn 2.000 km với Miến Điện, Trung Quốc đã ít nhất hai lần thông báo thuyết phục được Naypyidaw và các phe nổi dậy vũ trang ngừng giao tranh. Gần đây nhất là hôm 12/01/2024 sau ba vòng đàm phán tại Côn Minh tỉnh Vân Nam. Nhưng chưa đầy 24 giờ sau, MNDAA Liên Minh Dân Chủ Quốc Gia Miến Điện, một trong ba bên chủ chốt trong TBA xác nhận thỏa thuận Côn Minh « tan vỡ » khi quân đội dùng « vũ khí hạng nặng » tấn công một ngôi làng ở bang Shan.

    Quân Đội Giải Phóng Quốc Gia Ta’ang TNLA chỉ trích Bắc Kinh chỉ « lo bảo vệ lợi ích của Trung Quốc » trong khu vực và thỏa thuận ngừng bắn là thủ thuật « câu giờ có lợi cho bên quân đội chính quy đang thất thế ».

    Một nguồn tin khác trích dẫn thông cáo của TBA nhắc lại mục tiêu của liên minh vũ trang này là giành lại quyền lực từ tay giới tướng lĩnh.

    Trung tuần tháng 12/2023, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Mao Ninh cũng đã rất tự hào khoe thành tích « nỗ lực hòa giải » của Bắc Kinh. Các vòng đàm phán sau đó ở Côn Minh đã phủ nhận thành công của Trung Quốc.

    Quyền lợi kinh tế và mối lo bất ổn ở biên giới

    Theo tất cả các nhà quan sát, những hoạt động ngoại giao dồn dập đó của Trung Quốc là nhằm « bảo vệ » ổn định tại một vùng ngay sát cạnh, bảo đảm an ninh cho hàng trăm ngàn công dân Trung Quốc tại các cửa khẩu và nhất là bảo vệ những lợi ích kinh tế, thương mại của Trung Quốc tại quốc gia Đông Nam Á này. Do xung đột vũ trang tại Miến Điện từ cuối tháng 10/2023, thiệt hại về kinh tế và thương mại song phương đã « lên tới 10 triệu đô la ».

    Tháng 02/2021, khi tập đoàn quân sự Miến Điện lật đổ chính quyền dân sự, từ Nhật Bản đến Úc hay Âu Mỹ đã ban hành lệnh trừng phạt Naypyidaw. Miến Điện cũng đã bị các đối tác trong ASEAN xa lánh. Riêng Bắc Kinh đã đầu tư thêm 113 triệu đô la vào Miến Điện trong cùng năm. Trung Quốc là nguồn bảo đảm đến 25 % tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Miến Điện.

    Nhân danh nguyên tắc « không can thiệp vào công việc nội bộ » của bất kỳ một quốc gia nào, Trung Quốc kiên nhẫn duy trì quan hệ với nước láng giềng sát cạnh và « tiếp tục thúc đẩy các dự án trong khuôn khổ Con Đường Tơ Lụa mới », đặc biệt là dự án đầu tư vào cảng nước sâu Kyaukphy, cửa ngõ hướng ra Ấn Độ Dương.

    Nhưng trên thực tế bất ổn kéo dài tại Miến Điện càng lúc càng khiến Bắc Kinh bực mình, nhất là khi họ nhận thấy « tập đoàn quân sự Miến Điện không là những đối tác đáng tin cậy cho Trung Quốc thực hiện những mục tiêu chiến lược mà họ đã đề ra », như Jason Tower, một chuyên gia Mỹ về Miến Điện tại Bangkok ghi nhận.

    Trả lời RFI tiếng Việt, giáo sư Emmanuel Veron, chuyên gia về Trung Quốc đương đại, Viện Ngôn Ngữ và Văn Minh Phương Đông - INALCO Paris nhấn mạnh đến « mật độ » trong bang giao giữa Bắc Kinh với Miến Điện từ rất lâu nay không chỉ về khía cạnh kinh tế hay thương mại mà thôi : 

    Emmanuel Véron : « Quan hệ giữa Trung Quốc với Miến Điện đặc biệt quan trọng và chặt chẽ đến nỗi đôi khi giới quan sát cho rằng Miến Điện là một nước thuộc quỹ đạo của Bắc Kinh, là một chư hầu của Trung Quốc. Trung Quốc luôn chú trọng đến mối quan hệ rất cô đọng này, trước đây là với tập đoàn quân sự và hiện nay, do những bất ổn nội bộ tại quốc gia Đông Nam Á này, Bắc Kinh có khuynh hướng kết nối luôn cả với lại các lực lượng vũ trang kình địch với giới tướng lãnh cầm quyền. (...) Từng bước Trung Quốc thiên về các lực lượng chính trị và quân sự đang nổi lên tại Miến Điện. Thay đổi này xuất phát từ nhiều yếu tố mà trước hết là những chuyển biến trong nội bộ Miến Điện. Đừng quên rằng đây là một quốc gia đang trong trạng thái rất sôi động cả về chính trị lẫn về phương diện quân sự.

    Kế tới là những chuyển động từ bên ngoài. Tôi xin giải thích : Bản thân Trung Quốc cũng đang trải qua một số những biến động và một số hồ sơ đang vượt khỏi tầm tay. Bắc Kinh đang mất dần một số những điểm tựa. Đừng quên rằng, Miến Điện chịu ảnh hưởng cả của Trung Quốc lẫn Ấn Độ và do vậy, đây là sân chơi để hai nước lớn này của châu Á gián tiếp đọ sức với nhau. Cũng phải nói rằng, liên quan đến những bất ổn hiện nay ở Miến Điện, cũng đã có một sự can thiệp kín đáo của New Delhi. Đối với Trung Quốc đây là một vấn đề quá nhạy cảm để có thể bỏ rơi Miến Điện và điều đó giải thích cho thái độ "bắt cá hai tay" của Bắc Kinh, quay sang ủng hộ những thế lực quân sự đang nổi lên ».

    Cảng nước sâu Miến Điện, lộ trình thay thế cho eo biển Malacca 

    Trong dự án Một Vành Đai Một Con Đường được ông Tập Cận Bình khởi xướng từ 2013 Miến Điện là một « mắt xích » quan trọng và hơn thế nữa bang Shan ở khu vực đông bắc Miến Điện, sát biên giới với Trung Quốc là « nút thắt » chính, là điểm khởi đầu trong tham vọng mở một hành lang kinh tế CMEC đi thẳng ra cảng nước sâu Kyaukphy.

    Kyaukphy – Mandalay – Muse bang Shan sẽ là trục chính để đưa dầu, khí đốt Trung Quốc nhập của Nga hay Trung Đông vào tận Côn Minh, tỉnh Vân Nam và là một « lộ trình thay thế » cho con đường giao thương hàng hải phải đi qua eo biển Malacca.

    Có điều từ khi liên minh ba sắc tộc thiểu số vũ trang Miến Điện TBA khởi động Chiến dịch 1027, giao tranh bùng lên ở nhiều nơi, thất thu về thương mại ở khu vực giám ranh biên giới Miến Điện -Trung Quốc đã lên tới cả chục triêu đô la. Thêm vào đó dự án xây dựng đường ống dẫn dầu đi từ cảng Kyaukphy đến bang Shan đã « nhiều lần là mục tiêu tấn công » của các phe nổi dậy.

    Bang Shan là cửa ngõ « 40 % xuất nhập khẩu song phương » phải đi qua. Theo các nhà quan sát, đó chính là lý do vì sao cuối tháng 11/2023 Trung Quốc đã mở một cuộc tập trận quy mô gần biên giới Miến Điện. Theo quan điểm của giáo sư Véron, tất cả các động thái cả về ngoại giao, quân sự của Trung Quốc trong vùng đều cho thấy Bắc Kinh đang lo hồ sơ Miến Điện vượt ngoài tầm kiểm soát.

    Emmanuel Véron : « Miến Điện ngay sát cạnh Trung Quốc, hai nước có đường biên giới chung. Vì lý do an ninh, Bắc Kinh cần bảo đảm khu vực ở biên giới phía nam này phải được ổn định. Ngoài ra từ rất lâu nay Trung Quốc đã mở rộng giao thương với quốc gia Đông Nam Á này, xem Miến Điện là một mắt xích quan trọng trong các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở, như các hệ thống đường ống dẫn dầu …

    Trung Quốc đã bắt rễ sâu vào Miến Điện từ lâu nay với nhiều dự án lớn. Thành thử Bắc Kinh không thể để mất những khoản đầu tư đó. Tôi cho rằng qua việc đối thoại với các nhóm vũ trang Miến Điện, Trung Quốc đang lo mất ảnh hưởng tại quốc gia Đông Nam Á này và đây cũng chính là dấu hiệu Trung Quốc đang gặp khó khăn trước thực tế tại Miến Điện hiện nay ».

    Vậy câu hỏi đặt ra là Trung Quốc có những lá chủ bài nào để thuyết phục cả bên quân đội Miến Điện lẫn phe nổi dậy vãn hồi hòa bình và trật tự trong vùng biên giới ? 

    Emmanuel Véron : « Nhìn lại giai đoạn trong thời gian gần đây, một trong những lá chủ bài của Trung Quốc để nói chuyện với Miến Điện luôn là tiền. Đó có thể là tiền để mua chuộc các quan chức, tiền chi ra cho các băng đảng mafia, cho các tổ chức tội phạm hoạt động ở vùng biên giới để khoanh vùng các hoạt động phi pháp trên lãnh thổ Miến Điện, tránh để chúng tràn quan biên giới Trung Quốc. Nói cách khác Trung Quốc dùng tiền đổi lấy an ninh. Nhưng tôi xin nhắc lại là chủ trương được áp dụng từ trước đến nay dường như đang sụp đổ cho nên Bắc Kinh chọn giải pháp đối thoại với các bên bởi vì tình hình ở khu vực biên giới với Miến Điện có khả năng vuột khỏi tầm kiềm soát ».

    Chuyên gia về Trung Quốc đương đại của Viện Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương Emmanuel Véron lưu ý chính sách ngoại giao của Bắc Kinh rất uyển chuyển và thực tiễn. Quan điểm của Trung Quốc « sẽ còn theo đổi tùy theo chuyển biến về tương quan lực lượng » giữa bên quân đội với các nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang Miến Điện. 

    Một số các nhà quan sát khác nhắc lại « tính thực dụng và mập mờ » trong quan hệ giữa Bắc Kinh với các nhóm nổi dậy ở Miến Điện. Hơn nữa kịch bản mà ông Tập Cận Bình tuyệt đối không muốn xảy ra là phương Tây can thiệp hay nhòm ngó vào Miến Điện.

    Một người thuộc phe chống đối tập đoàn quân sự Naypyidaw được báo Pháp Le Figaro trích dẫn thậm chí cho rằng « giờ đây Trung Quốc ủng hộ chúng tôi còn hơn cả phương Tây ». Nhưng nói như vậy không có nghĩa là Bắc Kinh bắt đầu « bỏ rơi » giới tướng lĩnh cầm quyền.

    Những lá chủ bài của phe nổi dậy 

    Song các thiểu số sắc tộc Miến Điện và nhất là liên minh TBA cũng có không ít là bài trong tay để mặc cả với Bắc Kinh. Trong một bài báo gần đây, thông tín viên báo Le Monde tại Đông Nam Á, Brice Pedroletti nhắc lại lực lượng MNDAA  - Liên Minh Dân Chủ Quốc Gia Miến Điện, một trong ba liên minh Huynh Đệ vũ trang, trong quá khứ và hiện tại vẫn còn chịu ảnh hưởng rất lớn của Trung Quốc, qua những liên hệ chặt chẽ với các cộng đồng gốc Hoa sinh sống tại Miến Điện từ nhiều thế kỷ qua. 

    Một số tài liệu khác cho thấy điểm mạnh của các nhóm nổi dậy Miến Điện là  quan hệ cả với bên quân đội Trung Quốc lẫn các băng đảng tội phạm gốc người Hoa. Cùng lúc thì Bắc Kinh ý thức được rằng biên giới Miến-Trung là một vùng rừng núi hiểm trở, là đất dụng võ của các băng đảng tội phạm, là nơi mà các đường dây ma túy, buôn người, các tổ chức lừa đảo trên mạng không bị luật lệ của Bắc Kinh hay Naypyidaw trói buộc. 

    10 min
  • Thương mại toàn cầu trước thách thức trên biển

    Chuyện gì xảy ra nếu như các « cửa biển » lần lượt bị khép lại ? Kênh đào Panama đã bị tê liệt vì thiếu nước. Bất ổn địa chính trị ở Cận Đông, lực lượng Houthi của Yemen đang đe dọa Hồng Hải, cửa ngõ của 40 % giao thương giữa hai châu lục Á –Âu. Những giới hạn về kỹ thuật và tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông là những mối nguy hiểm tiềm tàng ở khu vực eo biển Malacca và eo biển Đài Loan.

    « An ninh », « an ninh hàng hải » và « tự do lưu thông trên biển » mang tính thời sự hơn bao giờ hết. Trong một thế giới « toàn cầu » mà 90 % thương mại quốc tế tùy thuộc vào vận tải đường biển, hiển nhiên là tại diễn đàn kinh tế thế giới Davos, Thụy Sĩ, tuần trước, các nguyên thủ quốc gia, các lãnh đạo những tập đoàn lớn trên thế giới đều bận tâm vì tình hình ở Hồng Hải.

    Kịch bản dây chuyền sản xuất lại đứt gẫy

    Lãnh đạo ngân hàng Anh Barclays tại diễn đàn kinh tế Davos bi quan cho rằng sau khủng hoảng dịch Covid-19 và chính sách phong tỏa nghiêm ngặt của Bắc Kinh, nhiều người đã tưởng rằng chuỗi cung ứng toàn cầu giờ đây sẽ hoạt động « bình thường trở lại ». Thời sự ở Hồng Hải như chưa cho phép chứng minh điều đó.

    Tổ Chức Thương Mại Thế Giới đang kỳ vọng giao thương toàn cầu phục hồi trong năm 2024, nhưng WTO đã đột ngột giảm dự phóng vì « căng thẳng về địa chính trị nghiêm trọng hơn, những rối loạn ở Hồng Hải ảnh hưởng đến kênh đào Suez và những xáo trộn ở kênh đào Panama vì biến đổi khí hậu ».

    Kinh tế gia Karen Harris, thuộc cơ quan tư vấn Bain&Co, trụ sở tại Boston Hoa Kỳ, được AFP trích dẫn, khẳng định rõ trách nhiệm của lực lượng nổi dậy Yemen : Tấn công vào các tàu chở hàng, Houthi đang « làm thay đổi cục diện thương mại quốc tế và làm tăng thêm phí tổn vận tải đường biển ».

    Tổng giám đốc Maersk, một trong 5 tập đoàn vận tải đường biển hàng đầu của thế giới, nhìn nhận « chuỗi cung ứng toàn cầu bị xáo trộn ít nhất là trong nhiều tháng ». Một số nhà máy của hai hãng xe Tesla và Volvo tại châu Âu đã phải cho nhân viên tạm nghỉ việc vì thiếu phụ tùng. Qatar cảnh báo các dịch vụ cung cấp khí hóa lỏng « sẽ bị vạ lây ».

    Trả lời đài RFI Pháp ngữ, chuyên gia về quan hệ quốc tế Emmanuel Véron, giảng dậy tại Viện Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương INALCO và Trường Hải Quân trước hết nhấn mạnh đến vị trí địa chiến lược của Hồng Hải trên bàn cờ thương mại quốc tế :  

    « Đây là một trong những nhánh chính của giao thông hàng hải quốc tế, nối liền Á-Âu, nghĩa là có đến hàng ngàn, hàng chục ngàn tàu chở hàng, tàu chở dầu phải đi qua Hồng Hải, qua kênh đào Suez trong các hoạt động giao thương giữa châu Á với châu Âu và Trung Đông. Hồng Hải là cửa ngõ nối liền Ấn Độ Dương với Địa Trung Hải thông qua con kênh đào Suez trên lãnh thổ Ai Cập, mang tính thiết yếu đối với thị trường năng lượng, và nguyên liệu. Đây cũng là một trong những tuyến huyết mạch trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay và là một trục chiến lược trên bàn cờ thương mại quốc tế ».

    Tuyến đường huyết mạch

    Vì bất ổn ở Hồng Hải, tập đoàn dầu khí BP hôm 18/12/2023 « ngừng » các chuyến tàu đi qua khu vực « nóng » này. Bốn trong số 5 tập đoàn vận chuyển đường biển lớn nhất thế giới cũng đưa ra quyết định tương tự.

    Theo các giới chức trong ngành, trong vài tuần lễ số tàu thuyền đi qua kênh đào Suez của Ai Cập giảm 42 %, trong lúc các chuyến tàu chở hàng từ Âu sang Á mất thêm « từ 8 đến 15 ngày ». Giáo sư Véron phân tích tiếp :

    « Phải đánh đường vòng đi qua châu Phi, qua Mũi Hảo Vọng, mỏm cực nam của Nam Phi để đưa hàng hóa từ châu Á sang châu Âu gây tổn thất cho các công ty vận chuyển. Trước mắt chưa thể thẩm định chính xác về các khoản thất thu đó, bởi vì bất ổn trong khu vực sẽ còn kéo dài. Tuy nhiên, theo các số liệu đáng tin cậy, trong giai đoạn cuối 2023 và trong những tuần lễ đầu năm nay, thiệt hại đã lên tới hàng ngàn tỷ đô la và còn hơn thế nữa ».

    Chính trong bối cảnh đó lại dấy lên lo ngại chuỗi cung ứng và sản xuất bị gián đoạn. Giáo sư Véron : 

    « Một mặt chúng ta sẽ bị thiếu hay sẽ khó tiếp cận một số mặt hàng, thí dụ như là phụ tùng xe hơi như trong thời kỳ thế giới bị phong tỏa để chống dịch Covid-19. Một số chuỗi cung ứng sẽ bị chựng lại hoặc bị gián đoạn. Mặt khác, sẽ phải mất nhiều ngày hơn để hàng được chuyển đến các nhà máy. Các chi phí vận chuyển sẽ tốn kém hơn … Ba tác động nói trên cộng lại ảnh hưởng đến hoạt động tại các cơ sở sản xuất ở châu Âu và hệ quả kèm theo là trong những tuần và những tháng tới, châu Âu có chiều hướng bị lạm phát ».  

    Trung Quốc trong thế « trên đe dưới búa »

    Phát biểu tại diễn đàn kinh tế Davos, thủ tướng Lý Cường khoe thành tích tăng trưởng vượt ngưỡng 5 % trong năm 2023, nhưng không hẳn ông thực sự an tâm khi biết rằng nếu giao tranh ở Hồng Hải kéo dài, Trung Quốc là một trong những nạn nhân đầu tiên phải trả giá đắt.

    Bắc Kinh lo rằng xăng dầu của Trung Đông chậm được chuyển đến các nhà máy ở Hoa Lục. Trong chiều ngược lại, xung đột tại một khu vực là cửa ngõ nối liền Ấn Độ Dương với Địa Trung Hải khiến hàng sản xuất của Trung Quốc khó tiếp cận các thị trường từ Trung Đông đến châu Phi và nhất là châu Âu.

    Sau hơn ba năm đóng cửa chống dịch, khủng hoảng ở khu vực Hồng Hải lần này là « giọt nước làm tràn ly » hay đúng hơn là làm tràn các nhà kho của Trung Quốc và đẩy các công ty xuất khẩu vào thế « tuyệt vọng ». Trong mắt ông Marco Castelli, sáng lập viên IC Trade chuyên xuất khẩu phụ tùng sản xuất từ các nhà máy ở Hoa Lục sang châu Âu, đây là một cú phạt kép. Trả lời thông tín viên RFI Stéphane Lagarde tại Bắc Kinh lãnh đạo IC Trade cho biết :

    « Tác động đầu tiên là thời hạn chuyển hàng bị kéo dài, mất thêm từ 20 đến 25 ngày so với bình thường. Đây là một vấn đề về mặt tài chính và liên quan luôn cả đến việc quản lý các kho hàng cả từ phía các khách hàng lẫn các nhà cung cấp của chúng tôi. Hệ quả thứ nhì là giá cả vận chuyển bị đẩy lên cao ».

    Trung Quốc sợ mất khách

    Một thí dụ cụ thể là trong vài tuần, chi phí chở hàng từ Trung Quốc sang Pháp đã tăng gấp ba và thậm chí là gấp bốn, chỉ vì phải tránh né Hồng Hải và không thể đi qua kênh đào Suez. Một mối nguy hiểm khác là các nhà xuất khẩu Trung Quốc đang bị mất khách như một chủ doanh nghiệp ở Nghĩa Ô, tỉnh Chiết Giang so sánh :

    « Tình hình khả quan hơn so với thời kỳ chúng tôi phải đối mặt với virus gây đại dịch Covid. Buôn bán thì có lúc trồi lúc sụt và chúng tôi cố gắng giải thích với các khách hàng ở châu Âu và châu Phi điều đó. Hy vọng là tình trạng này không kéo dài. Hiện thời khâu vận chuyển quá đắt. Trước đây một contener gửi sang pháp là 2.000 euro, bây giờ là 6.000 euro. Một số khách hàng của chúng tôi vẫn còn hàng trong kho nên họ cố gắng đợi sau dịp nghỉ Tết nguyên đán mới đặt mua thêm hàng. Người ta hy vọng tình hình lắng xuống, giá cả phải chăng hơn một chút. Một khách hàng của chúng tôi ở Maroc nói là họ vẫn còn hàng và sẽ đợi sau Tết mới đặt mua thêm. Tuy nhiên, những ai đang cần thì bắt buộc phải chịu những phí tổn nặng hơn. Họ cần hàng để bán. Cuối cùng thì người tiêu dùng sẽ phải trả giá đắt hơn ».

    Hai đầu máy tăng trưởng cùng bị hỏng ?

    Điểm khiến chính quyền Bắc Kinh  lo ngại hơn cả là vào lúc kinh tế nội địa đang chựng lại, người dân « biếng nhác tiêu xài » và Trung Quốc vẫn phải trông cậy vào xuất khẩu, bất ổn ở Hồng Hải đẩy cơ xưởng sản xuất của thế giới này vào cảnh « trên de dưới búa ». Tiêu thụ nội địa và xuất khẩu mà cùng  chựng lại thì hệ quả kèm theo là thất nghiệp gia tăng vào lúc mà, như hãng tin Anh Reuters ghi nhận, đối với một số nhà máy Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu sang Châu Âu và châu Phi chiếm đến 40 % doanh thu.

    Khả năng can thiệp của Iran ?

    Chính vì yếu tố an ninh và căng thẳng địa chính trị đe dọa đến ổn định và thịnh vượng chung toàn cầu hơn bao giờ hết, cho nên câu hỏi đặt ra là liệu Bắc Kinh có thể khai thác ảnh hưởng của mình với đối tác Iran để thuyết phục Teheran, điểm tựa quân sự cho lực lượng Hồi Giáo theo hệ phái Shia ở Yemen, ngừng khuấy động tình hình ở Hồng Hải hay không. Chuyên gia về Trung Đông David Rigoulet - Roze, Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược Pháp IRIS, thận trọng cho rằng, ngay cả tiếng nói của Iran với phiến quân Houthi cũng chỉ có hạn : 

    « Chúng ta có thể nghĩ rằng Trung Quốc sẽ yêu cầu Iran can thiệp kềm hãm lực lượng Houthi trong các hoạt động ở Hồng Hải, bởi phe Hồi Giáo Yemen này là công cụ của Teheran. Sự thực không hoàn toàn là như vậy. Phe Houthi có một số lợi ích về địa chính trị phù hợp với của Iran, tham gia ‘trục kháng chiến’ chống lại Nhà Nước Do Thái, nhưng không nhất thiết là hoàn toàn do Teheran điều khiển. Quân Houthi có những tính toán riêng của họ. Thí dụ như đại diện của phe nổi dậy Yemen này tuyên bố bảo vệ tàu thuyền của Nga và Trung Quốc, nhưng giao thương hàng hải và chuỗi cung ứng toàn cầu đâu chỉ thu hẹp trên những chuyến tàu chở hàng của Nga hay Trung Quốc. Bắc Kinh hoàn toàn ý thức được điều đó và không muốn hàng hóa của Trung Quốc gặp trở ngại trên đường vận chuyển sang châu Âu. Châu lục này là một trong những thị trường chủ chốt của Trung Quốc. Thành thử vấn đề ở đây liên quan đến toàn cầu và xung đột ở Hồng Hải có chiều hướng trở thành một cuộc xung đột ‘toàn cầu hóa’».

    Kênh đào Panama và Biển Đông 

    Ngoài vấn đề an ninh ở Hồng Hải gây nhiều thiệt hại cho các công ty vận chuyển, làm rối loạn phía phía « cung » lẫn phía « cầu », mãi tận châu Mỹ, từ 2023 hạn hán làm kiệt quệ kênh đào Panama cũng là một mối lo âu lớn. Song như ông Paul Tourret, Viện Cao Đẳng Kinh tế Biển ISEM của Pháp, lưu ý : Kênh Panama bị cạn nước ảnh hưởng nhiều đến các nền kinh tế trong khu vực như Peru, Ecuador hay Chilê. Con kênh nối liền Ấn Độ Dương với biển Caribê này là nơi mà 2 hay 3 % mậu dịch quốc tế phải đi qua.

    Châu Á mới là điểm nóng tiềm tàng. Chính xác hơn là ở hai eo biển Malacca và Đài Loan. Malacca là ngã tư giữa Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, biển Andaman và Biển Đông. Đây là nơi mỗi năm có chừng 90.000 tàu thuyền qua lại trong hai chiều. Ông Tourret nhấn mạnh : « Những tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông và xa hơn một chút là căng thẳng tại eo biển Đài Loan là những mối đe dọa tiềm tàng ».

    Về eo biển Malacca nhà nghiên cứu Paul Tourret, Viện ISEMAR của Pháp, chú ý nhiều đến những yếu tố « kỹ thuật ». Ông giải thích « có những khúc tuyến đường hàng hải trải dài 900 km này chỉ rộng chừng từ 3 đến 5 cây số, với độ sâu chỉ chừng 25 mét. Ở đây tàu bè san sát, mỗi một tàu chở hàng chỉ cách nhau có chừng 500 thước (…) Nếu giao thương hàng hải trong vùng biển này tăng thêm và vượt ngưỡng 100.000 tàu/năm thì e rằng tai nạn thể nào cũng sẽ xảy ra ».  

    Liên quan đến eo biển Đài Loan, giới trong ngành biết rằng hai siêu cường kinh tế thế giới là Mỹ và Trung Quốc cùng thận trọng không dám chận cửa biển này. Song cũng không một ai dám cam đoan rằng vùng biển này sẽ luôn được bình yên.

    10 min
  • Trung Quốc « cần » Đài Loan để phát triển công nghệ cao ?

    Báo chí nói nhiều đến sự phụ thuộc của các doanh nghiệp Trung Quốc vào công nghệ bán dẫn Đài Loan, mạch sống của kinh tế thế giới thế kỷ 21, mà ít nhắc tới một sự lệ thuộc « còn lớn hơn nữa » về thương mại, đầu tư của hòn đảo này vào Hoa Lục. Evelyne Banh, cơ quan tư vấn BSI Economics, phân tích về một mối liên hệ « bất tương xứng » giữa hai bờ eo biển Đài Loan.

    Đã biết chắc ai sẽ thay thế tổng thống Thái Anh Văn lãnh đạo Đài Loan, nhưng tranh luận vẫn chưa dứt về tương lai khu vực dưới chính quyền Lại Thanh Đức. Câu hỏi vẫn là : Đảng Dân Tiến trong nhiệm kỳ bốn năm sắp tới liệu có đẩy hòn đảo nhỏ này đến gần chiến tranh hơn hay không ?

    Một trong những yếu tố cho phép tạm gác sang một bên kịch bản chiến tranh là do Đài Loan và Trung Quốc đã gắn kết quá chặt chẽ với nhau về kinh tế, thương mại và đầu tư.

    Theo các số liệu của bộ Thương Mại Đài Loan, đối tác thương mại quan trọng nhất của hòn đảo này là Hoa Lục và Hồng Kông. Năm 2023, xuất khẩu sang hai khu vực này chiếm hơn 35 % trong cán cân thương mại Đài Loan, tương đương với hơn 152 tỷ đô la. Hồng Kông và Trung Quốc cộng lại « nặng gấp đôi so với Hoa Kỳ » (76 tỷ đô la).

    Trả lời phỏng vấn RFI tiếng Việt, bà Evelyne Banh thuộc cơ quan tư vấn BSI Economics, trụ sở tại Paris, nhấn mạnh đến sự bất cân đối trong quan hệ kinh tế và thương mại giữa một ông khổng lồ thế giới và một hòn đảo tí hon nhưng lại đang nắm giữ nhiều chìa khóa quyết định :

    Evelyne Banh : « Xuất khẩu của Trung Quốc sang Đài Loan hiện tại tương đương với khoảng 2 % tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này. Trong chiều ngược lại thì gần 20 % xuất khẩu của Đài Loan hướng về Hoa Lục. Như vậy có nghĩa là hơn 16 % GDP của Đài Loan tùy thuộc vào giao thương với Trung Quốc. Đó là một sự bất cân đối rất lớn đã nhiều lần bị Bắc Kinh khai thác để gây sức ép với Đài Loan. Chẳng hạn như trước ngày cựu chủ tịch Hạ Viện Mỹ bà Nancy Pelosi viếng thăm Đài Bắc hồi tháng 8/2022, hơn 2000 mặt hàng của Đài Loan đã bị trừng phạt. Hay là từ 2016, khi Đảng Dân Tiến lên cầm quyền, số du khách từ Hoa Lục đến Đài Loan cũng đã giảm mạnh. Hiện tại du khách Trung Quốc chỉ còn chiếm khoảng 3 % thay vì 15 % lượng du khách ngoại quốc vào Đài Loan như 8 năm trước đây.

    Về đầu tư, Đài Loan tiếp tục đầu tư vào Hoa Lục, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ, mặc dù chính quyền Bắc Kinh đã liên tục thắt chặt thêm các biện pháp kiểm soát các doanh nghiệp ngoại quốc và ban hành những quy định chặt chẽ hơn về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trung Quốc vẫn là nơi thu hút hơn 50 % tổng đầu tư ở hải ngoại của Đài Loan. Trái lại, Đài Loan đón nhận chưa đầy 1 % FDI của các tập đoàn Trung Quốc. Đành rằng có dấu hiệu ‘bão hòa’ trên thị trường ở Hoa Lục và các doanh nhân Đài Loan vẫn gặp khó khăn trong kế hoạch chuyển hướng sang Đông Nam Á. Thí dụ như năm 2022 Singapore chỉ thu hút 5 % FDI của Đài Loan, Việt Nam là 3 %. Do vậy thách thức đối với chính quyền ở Đài Bắc là phải tăng tốc tiến trình đa dạng hóa các hoạt động kinh tế của hòn đảo ».

    Thoát bóng Bắc Kinh, nhiệm vụ khó hoàn thành

    Căng thẳng địa chính trị giữa hai bờ eo biển Đài Loan, mối quan hệ mật thiết hơn giữa Đài Bắc và Washington cả về quân sự lẫn kinh tế khiến thương mại và đầu tư của Đài Loan vào Hoa Lục liên tục giảm trong những năm gần đây. Xuất khẩu sang Trung Quốc năm ngoái giảm 18 % so với hồi 2022 dù vẫn cao gấp đôi so với xuất khẩu vào Mỹ.

    Liên Hiệp Châu Âu trong bối cảnh tăng tốc chiến lược tự chủ về công nghệ đang ve vãn các nhà sản xuất linh kiện bán dẫn của Đài Loan hơn bao giờ hết, nhưng vẫn chỉ là « một chú lùn » bên cạnh hai đối tác thương mại lớn của Đài Bắc là Trung Quốc và Mỹ. Về đầu tư, như Evelyne Banh vừa giải thích, doanh nghiệp Đài Loan đã tìm cách « đa dạng hóa các điểm đến », cho dù trọng lượng của các nước Đông Nam Á, như Singapore và Việt Nam, vẫn còn rất khiêm tốn.

    Về đầu tư, nếu như Foxconn, đang hoạt động tại nhiều thành phố ở Hoa Lục, là một biểu tượng lớn trong lĩnh vực công nghiệp song phương, thì nhiều doanh nghiệp Đài Loan bắt đầu « thu hẹp hoạt động » hay « rời khỏi » Trung Quốc, một phần vì áp lực chính trị, nhưng chủ yếu do kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn.

    Theo báo tài chính Nhật Bản Nikkei Asia, tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đài Loan vào Hoa Lục đã giảm 34 % trong 11 tháng đầu năm 2023. Trung Quốc không còn là điểm đến lý tưởng và đã bị đẩy xuống hạng 3 sau Mỹ và Đức : 37 % FDI của Đài Loan hướng về Hoa Kỳ, 15 % nhắm vào Đức và chỉ có 12 % tiếp tục đổ về Trung Quốc.

    Thống kê nói trên trái ngược hẳn với thời kỳ hoàng kim " từ giữa thập niên 1990 khi Đài Bắc và Bắc Kinh cùng xem kinh tế là một ưu tiên trong quan hệ song phương (…) và vào năm 2010, ở đỉnh điểm đã có khoảng 800.000 doanh nhân Đài Loan hoạt động ở Hoa Lục". Đó cũng là thời điểm Trung Quốc chiếm 80 % tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đài Loan.

    Trung Quốc dùng đòn kinh tế uy hiếp đối phương

    Sự « tuột dốc » nói trên, theo Evelyne Banh, bắt đầu từ khi Đảng Dân Tiến lên cầm quyền năm 2016 và tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn chủ trương giảm bớt mức độ lệ thuộc vào một đối tác kinh tế, thương mại quá lớn là Trung Quốc. Đài Bắc thấy rõ là Bắc Kinh khai thác lá bài kinh tế để phục vụ những mục tiêu chính trị.

    Thí dụ gần đây nhất là bốn ngày trước bầu cử tổng thống Đài Loan, hôm 09/01/2023, Bắc Kinh loan báo « mở điều tra » và dọa tăng thuế nhập khẩu đối với nhiều sản phẩm của Đài Loan bán sang Hoa Lục. Biện pháp này nhằm đáp trả việc Đài Bắc hạn chế nhập khẩu hơn 2500 mặt hàng « made in China » vào thị trường tí hon với 24 triệu dân này.

    Vấn đề đặt ra là thông báo bên bộ Thương Mại Trung Quốc được đưa ra trước bầu cử tổng thống Đài Loan và khi đó ứng viên Đảng Dân Tiến có lập trường « cứng rắn với Bắc Kinh » đang dẫn đầu các cuộc thăm dò ý định bỏ phiếu.  

    Mùa thu năm ngoái, sáng lập viên tập đoàn Foxconn Terry Gou đã đột ngột từ bỏ ý định ra tranh cử tổng thống Đài Loan. Nhiều nhà quan sát gắn liền quyết định này với vụ Bắc Kinh mở điều tra vì nghi ngờ Foxconn « trốn thuế ». Nhiều nhà quan sát cho rằng Trung Quốc đã tìm cách ngăn cản ông Gou ra tranh cử vì sợ rằng ứng viên này « cướp » chổ của ứng cử viên Quốc Dân Đảng có lập trường hữu hảo hơn với Hoa Lục.

    Kết quả bầu cử hôm 13/01/2024 minh chứng cho phân tích của của một giáo sư tại Đại Học Đài Loan, được tuần báo Courrier International trích dẫn : « Những áp lực càng trực tiếp và thô bạo của Trung Quốc càng có nguy cơ khiến công luận Đài Loan bất bình ».

    Thế nhưng làm thế nào để thoát khỏi cái bóng quá lớn của Bắc Kinh ? Evelyne Banh, cơ quan tư vấn BSI Economics, trả lời :  

    Evelyne Banh : « Ưu tiên của tổng thống tân cử là đa dạng hóa các hoạt động kinh tế của hòn đảo, giảm bớt lệ thuộc vào Trung Quốc. Thực ra ông Lai Thanh Đức sẽ tiếp tục đi theo đường lối của người tiền nhiệm là tổng thống Thái Anh Văn nhằm giúp Đài Loan bớt bị áp lực, đồng thời củng cố liên hệ về kinh tế của hòn đảo này với các nền dân chủ lớn khác trên thế giới và với các nước lân cận. Chính quyền sắp tới sẽ nỗ lực vận động để gia nhập hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương, tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực, từ Úc đến Nhật Bản, Việt Nam hay Singapore. Từ 2016, Đài Loan cũng đặc biệt chú ý đến mối quan hệ với các nước đang phát triển, nhất là trong các lĩnh vực thương mại, kỹ thuật nông nghiệp, với từ ASEAN đến Úc và New Zealand ».

    Chiến tranh thiêu rụi 10 % GDP toàn cầu

    Trong phát biểu đầu tiên hôm 13/01/2024, tổng thống tân cử Đài Loan Lại Thanh Đức cam kết nỗ lực « phát triển và đẩy mạnh quan hệ và hợp tác kinh tế, thương mại » với Trung Quốc. Điều đó không cấm cản Bắc Kinh tiếp tục khẳng định lập trường « vững như bàn thạch và quyết tâm thống nhất » đất nước, đưa Đài Loan về với Hoa Lục. Nhiều nhà quan sát cho rằng thái độ hằn học của Trung Quốc với hòn đảo nhỏ ở bên kia eo biển Đài Loan xuất phát từ căng thẳng địa chính trị với phương Tây, mà chủ yếu là với Mỹ : Đài Loan là một lá chủ bài giúp Âu Mỹ bớt bị lệ vào kinh tế Trung Quốc, như ghi nhận của chuyên gia về Đài Loan Huai Shing Yen trên báo Le Monde (22/09/2023). Đó là điều mà Bắc Kinh muốn tránh bằng mọi giá.  

    Đài Loan, công cụ để Mỹ tách rời khỏi Trung Quốc 

    Chỉ là một hòn đảo nhỏ nhưng Đài Loan lại chiếm thế gần như độc quyền trong một lĩnh vực công nghệ được coi là « mạch sống » của kinh tế thế giới thế kỷ 21. Công nghệ bán dẫn đang tạo ra đến « 5,6 % trị giá gia tăng cho kinh tế toàn cầu », như hãng tin tài chính Mỹ Bloomberg (ngày 10/01/2024) đã thẩm định.

    Nhờ vào một vị trí chiến lược về địa lý, eo biển Đài Loan với chiều rộng chưa đầy 200 km lại là nơi mà 48 % các tàu chở hàng của thế giới phải đi qua, để đưa hàng từ các nhà máy của Trung Quốc đến tận các hải cảng của Âu Mỹ. Một cuộc xung đột vũ trang trong vùng biển này tai hại « gấp bội » so với tất cả những gì mà thế giới đã trải qua từ trước tới nay : các hoạt động xuất nhập khẩu không chỉ của Đài Loan và Trung Quốc với phần còn lại của thế giới sẽ bị gián đoạn, mà thậm chí các nước trong vùng, từ Nhật Bản đến Úc cũng sẽ bị vạ lây.

    Nghiên cứu của Bloomberg chỉ ra rằng 80 % giao thương của Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước ASEN sẽ sụt giảm trong trường hợp nổ ra chiến tranh, toàn bộ giao thương Mỹ-Trung bị đóng băng. Kinh tế Đài Loan « hoàn toàn sụp đổ »,  gần 17 % GDP của Trung Quốc cũng sẽ bốc hơi và 6,7 % GDP của Hoa Kỳ tan thành mây khói …

    Do vậy, theo Bloomberg, Bắc Kinh sẽ không dại để khai hỏa vào một nguồn cung cấp chip điện tử bảo đảm hơn 50 % thị trường của toàn cầu, một lĩnh vực mang tính sống còn ngay cả với các tập đoàn Trung Quốc.

    Thế nhưng, lá bùa hộ mạng đó của Đài Loan xem chừng cũng có giới hạn. Chuyên gia về tài chính cơ quan tư vấn BSI Economics Evelyne Banh giải thích :

    Evelyne Banh : « Đúng là Trung Quốc có trọng lượng về kinh tế quá lớn so với của Đài Loan, nhưng từ nhiều năm nay, Bắc Kinh phải đối mặt với nhiều thách thức cả về đối nội lẫn đối ngoại và những thách thức đó đè nặng lên tiềm năng tăng trưởng lâu dài của nước này. Trái lại, Đài Loan tuy rất nhỏ so với ông khổng lồ sát cạnh, nhưng lại là một nền kinh tế năng động và tăng trưởng nhờ những phát minh kỹ thuật … Đài Loan thống lĩnh ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu và đang ở trên đỉnh cao của cả một chuỗi cung ứng ….

    Tuy nhiên, khi mà 25% GDP của Đài Loan phụ thuộc vào công nghệ bán dẫn thì đây cũng chính là một cái bẫy, vì như vậy kinh tế của hòn đảo này lệ thuộc vào những trồi sụt thất thường của mảng công nghệ bán dẫn (…) Cũng như nhiều nền kinh tế khác trong vùng Đông Bắc Á, Đài Loan đang thiếu nhân tài, thiếu một đội ngũ kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật… để giữ được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực công nghiệp nhạy cảm này. Vấn đề càng thêm nghiêm trọng do dân số Đài Loan cũng đang trên đà lão hóa. Tỷ lệ sinh đẻ ở Đài Loan là chưa đầy một đứa trẻ một đầu người ».  

    Trong nghiên cứu hồi tháng 11/2023, cơ quan tư vấn BSI Economics nhắc lại lời lãnh đạo tập đoàn bán dẫn Đài Loan TSMC Mark Liu : Trong trường bị Trung Quốc chiếm đoạt, TSMC sẽ làm tất cả để « vô hiệu hóa các cơ sở của mình », thay vì để lọt vào tay Trung Quốc. 90 % số nhà máy của TSMC là nằm trên lãnh thổ Đài Loan. 

    10 min
  • 2024 : Nga - Trung Quốc, một trục thương mại mới của thế giới

    Bầu cử tổng thống Mỹ và hai cuộc xung đột ở Ukraina và Gaza sẽ định đoạt tương lai kinh tế toàn cầu năm 2024. Nga và Trung Quốc, một trục mới về thương mại toàn cầu đang định hình. Khối BRICS đón nhận 5 thành viên mới, tăng thêm sức mạnh, làm đối trọng với phương Tây. Nhờ chiến tranh Ukraina, Mỹ trở thành nguồn cung cấp dầu thô số 1 của Pháp. 200 ngày trước Thế Vận Hội, Paris trước thách thức tái chế rác thải Olympic 2024.

    Trong bài tham luận trên báo Le Monde hôm 29/12/2023 giải Nobel Kinh tế 2001, Joseph Stiglitz, ghi nhận « khả năng Donald Trump đắc cử và một cú sốc dầu hỏa do chiến tranh Israel Hamas gây nên đang đè nặng lên viễn cảnh kinh tế toàn cầu cho năm 2024 ». Hiếm khi nào tất cả các nhà phân tích cùng đồng loạt đánh giá « rủi ro lớn nhất đối với kinh tế toàn cầu 2024 là yếu tố địa chính trị ». Chiến tranh Ukraina bước sang năm thứ ba, xung đột ở Cận Đông đang lôi kéo Hồng Hải vào vòng xoáy giao tranh, làm dấy lên trở lại nguy cơ lạm phát.

    Ẩn số chính trị là mối đe dọa lớn nhất

    2024 là năm mà dân cư tại những quốc gia chiếm « 60 % GDP toàn cầu » được kêu gọi bầu lại các lãnh đạo, từ ở Nga đến Ấn Độ, Anh Quốc ; từ ở Đài Loan đến Hoa Kỳ. Ludovic Subran, kinh tế trưởng hãng bảo hiểm Alliance đặc trách về giao thương quốc tế, nhấn mạnh « chính những ẩn số về chính trị đang đặt nhiều hộ gia đình và các doanh nghiệp trong thế chờ đợi ». 2024 do vậy có thể là một năm tăng trưởng toàn cầu không « tìm được lực đẩy ».

    Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dự phóng tăng trưởng của Hoa Kỳ cho năm nay chỉ đạt 1,5 %, thấp hơn nhiều so với mức 2,1% trong năm 2023. Tại châu Âu, tình hình cũng không sáng sủa hơn và tăng trưởng trong khu vực đồng euro có thể chỉ bằng 1/3 so với hồi năm ngoái. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn « loay hoay » đi tìm chiếc đũa thần và chắc chắn ông khổng lồ châu Á này sẽ không là « đầu tầu tạo đà cho tăng trưởng của thế giới » trong năm 2024 như thẩm định của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.

    Pháp : CAC40 chia lãi 100 tỷ euro cho cổ đông

    2024 cũng là năm mà « nhiều thách thức chờ đợi các đại tập đoàn của Pháp » : 40 doanh nghiệp hàng đầu tham gia sàn chứng khoán trong bảng xếp hạng CAC40 sau một năm 2023 thành công rực rỡ, chia 100 tỷ euro tiền lãi cho các cổ đông, nhưng giờ đây từ ngành thời trang hạng sang đến các tập đoàn năng lượng, từ các ngân hàng lớn hay các công ty trong ngành xây dựng đến ngành công nghiệp quốc phòng đều hướng nhìn về kết quả bầu cử đầu tháng 11 ở Hoa Kỳ, về tình hình tại Biển Đông, về tham vọng của Bắc Kinh với Đài Loan, về khả năng « bật dậy » của kinh tế Trung Quốc, về những nước cờ của Nga trên hồ sơ Ukraina hay về số phận của dải Gaza ở Cận Đông. 

    Liên Hiệp Châu Âu bị nhiều cuộc đọ sức về thương mại với Washington, với Bắc Kinh thách thức. Quyết định cấm bán xe hơi chạy bằng xăng, từ năm 2035 Bruxelles tạo điều kiện cho ô tô điện của Trung Quốc tràn ngập thị trường nội địa, bót chết ngành công nghiệp xe hơi lâu đời của châu Âu với những tên tuổi lớn như Volkswagen của Đức, Fiat của Ý hay Renault, Peugeot, Citroën của Pháp …

    Với đồng minh Hoa Kỳ, đạo luật chống lạm phát IRA của chính quyền Biden tiếp tục là cái gai giữa hai bờ Đại Tây Dương. Giới chuyên gia dự báo trước ngày bầu cử tổng thống Mỹ, Washington không thể nhượng bộ hay nương nhẹ các đối tác châu Âu.

    Dầu - khí : Một trật tự mới

    Trên bàn cờ năng lượng quốc tế, một trật tự mới đã hình thành : từ cuối năm 2022, sau 10 tháng Nga đưa quân xâm chiếm Ukraina, Mỹ đã dễ dàng qua mặt Na Uy và Nga để trở thành nguồn cung cấp khí đốt số 1 của Pháp và từ năm ngoái thì các nhà sản xuất dầu thô của Hoa Kỳ cũng thống lĩnh thị trường Pháp. Năm 2018, Mỹ đứng hạng 9 trong số các nguồn cung cấp khí đốt cho Pháp. Nga bị mất 4 hạng theo thống kê của bộ Chuyển Tiếp Năng Lượng Pháp. Điều đó không cấm cản Pháp nói riêng và thế giới nói chung vẫn trong tình trạng « khát dầu » như chuyên gia về năng lượng, Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS giải thích trên đài truyền hình Pháp France 24 :

    « Dầu hỏa chiếm một vai trò rất lớn và rất quan trọng trong các hoạt động kinh tế toàn cầu. Đây là nguồn năng lượng chủ chốt trong lĩnh vực giao thông trên bộ, trên không và trên biển ; là nguyên liệu thiết yếu của ngành công nghiệp hóa dầu và trong các nhà máy sản xuất nhựa. Trong ba loại năng lượng hóa thạch thì dầu hỏa chiếm vị trí cao nhất với khoảng 30 %, đứng trước than đá và khí tự nhiên. Hiện tại, ngành giao thông tùy thuộc từ 90 đến 100 % vào dầu lửa, và đây cũng là nguồn năng lượng bảo đảm 100 % các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nhựa. Tiêu thụ toàn cầu năm 2023 đã vượt kỷ lục của hồi năm 2019, tức là trước khi xảy ra đại dịch COVID. Nhu cầu tiêu thụ trong năm nay sẽ còn cao hơn nữa so với kỷ lục của năm 2023 ».

    Cận Đông và nguy cơ « một cơn sốt dầu »

    Trong những tuần lễ cuối năm 2023, giới trong ngành báo động « giá năng lượng lại bị đẩy lên cao », nhưng lần này không vì Liên Âu lệ thuộc vào dầu khí của Nga mà là do tác động dây chuyền từ xung đột ở dải Gaza giữa Israel và phong trào Hồi giáo Palestine Hamas : phe Hồi giáo Houthi ở Yemen được Iran bảo trợ, liên tục tấn công vào các tàu chở hàng của phương Tây hay của các nước ủng hộ Israel đi qua Hồng Hải.

    Nhiều tập đoàn như BP của Anh và các hãng vận tải đường biển thông báo « tránh đi qua khu vực nhạy cảm này ». Đánh đường vòng quanh lục địa châu Phi vừa « dài ngày hơn, tốn kém hơn » … Lập tức giá dầu Brent tăng thêm 3 % trong một tuần lễ và giá khí đốt tăng thêm 12 % trong một ngày. Hồng Hải là nơi 8 % khí hóa lỏng LNG của thế giới phải đi qua.

    Theo một số các chuyên gia về an ninh hàng hải quốc tế, tình hình sẽ « nóng lên thêm nữa trong những tuần lễ và những tháng sắp tới ». Đối với người dân bình thường, câu hỏi quan trọng nhất là liệu rằng các hộ gia đình có phải đối mặt với một làn sóng lạm phát nữa hay không. Theo phó giám đốc Đài Quan Sát về Tình Hình Kinh Tế Pháp OFCE, Mathieu Plane, « khủng hoảng lạm phát dường như bắt đầu thuộc về quá khứ, thế nhưng hiện vẫn còn quá nhiều điều bất trắc, nhất là về địa chính trị ». Chỉ cần xung đột ở Cận Đông lan rộng là cũng đủ để giá dầu lại tăng lên và thương mại toàn cầu lại bị khuấy động.

    Nga - Trung Quốc, một trục giao thương mới ?

    Cũng về thương mại và năng lượng, từ đầu chiến tranh Ukraina, Trung Quốc trở thành đối tác « cột trụ » của Matxcơva trong lĩnh vực năng lượng, thay vào chỗ trống mà các khách hàng châu Âu để lại. Trong chuyến công du vào trung tuần tháng 10/2023, tổng thống Vladimir Putin hài lòng thấy « quan hệ đối tác toàn diện và hợp tác chiến lược » song phương đạt « đỉnh cao chưa từng thấy ». Theo lãnh đạo tập đoàn Rosneft, Igor Setchine, « năng lượng chiếm 75 % kim ngạch xuất khẩu của Nga sang Trung Quốc ». Nga đã qua mặt Ả Rập Xê Út để trở thành nguồn cung cấp quan trọng nhất cho Trung Quốc. Cũng phải nói thêm là Bắc Kinh mua dầu khí của Nga với giá rẻ hơn trung bình 30 % so với giá của thị trường.

    Lãnh đạo Nga và Trung Quốc đề ra mục tiêu tổng trao đổi mậu dịch hai chiều đạt ngưỡng 200 tỷ đô la trong năm nay. Song nguyệt san kinh tế Challenges số ra tháng 3/2023 ghi nhận : đành rằng Nga dưới tác động chiến tranh Ukraina đã « xoay trục » sang châu Á, nhưng đối với Bắc Kinh, ngay cả trong lĩnh vực năng lượng, Matxcơva chỉ là một trong số các nguồn cung cấp. Bởi ngoài Nga, Turkmenistan, Kazakhstan hay Uzbekistan vẫn là những « đối tác lớn » về khí đốt. Riêng đối với khí hóa lỏng, Trung Quốc tin tưởng vào hai nguồn cung cấp là Úc và Hoa Kỳ, cho dù bang giao giữa Trung Quốc với hai thành viên trong liên minh quân sự AUKUS này đang gặp nhiều sóng gió.

    BRICS mở rộng : 3 mỏ dầu 

    Điều đó không cấm cản các ông Tập Cận Bình và Vladimir Putin chia sẻ chung một tầm nhìn : cả hai cùng muốn tăng thêm sức mạnh, làm đối trọng với phương Tây. Bằng chứng cụ thể nhất là kể từ ngày 01/01/2024, khối 5 nền kinh tế đang trỗi dậy BRICS - bao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi đã chính thức kết nạp thêm 5 thành viên mới (chính quyền mới tại Achentina, ứng viên thứ 6, đã từ chối tham gia khối này).

    BRICS mở rộng kết nạp thêm Iran, Ai Cập, Ethiopia, Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất. BRICS một câu lạc bộ 5 nước đại diện cho các nền kinh tế đang phát triển chính thức hình thành từ năm 2009 giờ đây có tổng cộng 10 thành viên.

    Trả lời RFI tiếng Việt, giáo sư kinh tế Julien Vercueil, Viện Ngôn Ngữ và Văn Hóa Phương Đông, INALCO, phân tích rất kỹ về những mẫu số chung và những bất đồng giữa các thành viên ban đầu của nhóm BRICS, về quyết định chọn 6 nước tham gia nhóm BRICS (nhưng Achentina giờ chót bỏ cuộc) trong số hơn 40 ứng viên. Giáo sư Vercueil là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về khối này. Gần đây nhất là bài tham luận mang tựa đề : BRICS : Les incertitudes d’un forum « alternatif » - BRICS : Những bất trắc về một diễn đàn « thay thế », bài viết đăng trên tạp chí Politique Etrangère, số 4/2023.

    Julien Vercueil : « Liên quan đến trật tự mới về kinh tế và thương mại của thế giới, các quốc gia đang trỗi dậy phản đối thế áp đảo của đồng đô la Mỹ và ở phía sau lập luận đó, các bên công kích Hoa Kỳ dùng kinh tế để áp đặt luật chơi với cộng đồng quốc tế. Đây rõ ràng là quyết tâm của một số thành viên trong nhóm BRICS mà đứng đầu là Nga và Trung Quốc. Matxcơva và Bắc Kinh càng lúc càng trực tiếp dùng đơn vị tiền tệ của mỗi bên để thanh toán các dịch vụ xuất nhập khẩu song phương. Vị trí của đô la trong thương mại giữa Trung Quốc với Nga đã bị thu hẹp lại. Vấn đề càng trở nên thời sự hơn nữa từ khi Nga bị phương Tây trừng phạt vì đưa quân xâm lược Ukraina. Dưới các đòn trừng phạt, các doanh nghiệp Nga phải tìm ngõ thoát để tiếp tục giao thương với phần còn lại của thế giới. Trung Quốc là điểm tựa quý giá, cho phép mua bán với các đối tác mà không cần phải sử dụng đô la Mỹ ».

    Nhìn vào danh sách 5 thành viên mới của khối BRICS mở rộng, Ả Rập Xê Út là một đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ ở Trung Đông, là « mỏ dầu của thế giới ». Một mỏ dầu còn chưa được khai thác là Iran : Teheran lại là kẻ thù không đội trời chung của Mỹ, là một đối tác có trọng lượng của Nga, là một quốc gia có tham vọng trang bị vũ khí nguyên tử. Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất là thành viên nặng ký của OPEC/OPEP khối các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa, nhưng cũng là quốc gia Ả Rập đầu tiên trang bị nhà máy điện hạt nhân, là một quốc gia tiên phong trong lĩnh vực năng lượng mặt trời của thế giới. Dubai là một trung tâm tài chính khu vực. Abou Dahbi vừa là đồng mình thân thiết của Ả Rập Xê Út và Hoa Kỳ, vừa có quan hệ rất chặt chẽ với cả Nga lẫn Trung Quốc.

    Về phần Ai Cập, với hơn 38 % lạm phát trong năm qua, nợ nần chồng chất, chắc chắn kinh tế không phải là điểm mạnh giúp chính quyền của tổng thống al Sissi tham gia câu lạc bộ BRICS mở rộng. Nhưng trụ sở của Liên Đoàn Ả Rập đặt tại Cairo.

    Trong trường hợp của Ethiopia, quốc gia này lại càng không đủ tiêu chuẩn để được xem là một « nền kinh tế đang trỗi dậy », thế nhưng lá chủ bài lớn nhất của Addis Abeba là « một mối bang giao hữu hảo với cả Matxcơva, Bắc Kinh lẫn Washington ». Giáo sư Julien Vercueil Viện INALCO phân tích tiếp :

    Julien Vercueil :« Một cách khách quan, việc khối BRICS đón thêm các thành viên mới không mấy quan trọng trên phương diện kinh tế. Hiểu theo nghĩa là số nước tham gia được nhân lên gấp đôi, nhưng GDP của nhóm 10 nước tham gia BRICS chỉ tăng thêm có 10 %. Điều đó có nghĩa là kinh tế không phải là yếu tố quan trọng nhất trong quyết định kết nạp thêm các thành viên mới. Điểm nhấn thứ nhì là yếu tố năng lượng. Ba trong số 5 thành viên mới (Iran, Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) là những ông khổng lồ trên bàn cờ năng lượng. Đây mới là tiêu chí quan trọng khi BRICS đón nhận thêm các thành viên mới. Theo cá nhân tôi thì Trung Quốc đã có ảnh hưởng rất lớn trong quyết định về danh sách các nước tham gia nhóm BRICS. Khối này muốn chứng minh là có sức thu hút lớn qua việc kết nạp thêm những nước khác và Bắc Kinh đã chọn củng cố quan hệ với những nền kinh tế nào có lợi cho Trung Quốc và có trọng lượng về mặt địa chính trị ».

    Cuộc chạy đua xử lý rác thải Olympic 2024

    200 ngày trước lễ khai mạc Thế Vận Hội, Paris và vùng Ile-de-France đặt mua thêm 16.000 thùng rác để trang bị cho các ngôi làng Olympic. Paris chạy nước rút tìm mọi giải pháp thực hiện lời hứa tái chế hay xử dụng lại 80 % rác thải từ sự kiện thể thao trọng đại này. Pháp muốn qua mặt Tokyo năm 2021 và Luân Đôn 2012 tranh chức vô địch Thế Vận Hội « sạch » nhất trong lịch sử thể thao Olympic.

    Ba năm trước, 62 % trong số 2.700 tấn rác ở Olympic Tokyo đã được « tái chế », nhưng đó là một khối lượng rác « không thấm vào đâu » bởi dưới tác động đại dịch Covid, không một du khách nước ngoài nào được đặt chân đến xứ Hoa Anh Đào vào mùa hè 2021. Lần này thách thức sẽ lớn hơn nhiều đối với thành phố Paris !!!

    Để « tái chế » hay « sử dụng lại » 80 % rác Olympic, thành phố Paris trông đợi nhiều vào đối tác chính là hãng sản xuất nước ngọt của Mỹ Coca-Cola. Hiềm nỗi tập đoàn này là nguồn « thải rác nhựa và gây ô nhiễm » nhất cho hành tinh !!! Trước mắt, tập đoàn Mỹ có trụ sở ở thành phố Atlanta, bang Georgia, với những lon nước màu đỏ nổi tiếng cam kết  lắp đặt 700 vòi nước trên toàn nước Pháp phục vụ các vận động viên và khán giả dự Thế Vận Hội 2024, dùng ly giấy hay nhựa tái chế, dùng chai thủy tinh và cho phép khán giả vào các sân vận động với những bình nước cá nhân để hạn chế lượng rác thải.

    10 min

About Tạp chí Kinh Tế

From the publisher's feed

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

More shows like Tạp chí Kinh Tế

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

221 Listeners

Tạp chí Âm Nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Âm Nhạc

2 Listeners

Tạp chí Tiêu Điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Tiêu Điểm

0 Listeners

Tạp chí Khoa Học Môi Trường by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Khoa Học Môi Trường

0 Listeners

Tạp chí Văn Hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Văn Hóa

0 Listeners

Spiderum Official by Spiderum

Spiderum Official

25 Listeners

Tâm Sự Tài Chính by Trịnh Công Hoà

Tâm Sự Tài Chính

2 Listeners

Huynh Duy Khuong Show by Huỳnh Duy Khương

Huynh Duy Khuong Show

7 Listeners

Sách Nói Chất Lượng Cao by Voiz FM

Sách Nói Chất Lượng Cao

5 Listeners

More Perspectives by Duy Thanh Nguyen

More Perspectives

12 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

7 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí Thể Thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Thể Thao

0 Listeners

Tạp chí Xã Hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Xã Hội

0 Listeners

Tạp chí Đặc Biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Đặc Biệt

0 Listeners

Better Version by Better Version

Better Version

46 Listeners

điêu khắc bản thân by Chuyện đời Sales

điêu khắc bản thân

1 Listeners

Nguyễn Hữu Trí Podcast by Nguyễn Hữu Trí

Nguyễn Hữu Trí Podcast

24 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners