Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

By RFI Tiếng Việt
Download on the App Store

Tạp chí Việt Nam episodes

  • Bảo tàng sôcôla Việt Nam: Tái hiện hành trình của hạt cacao từ Trung Mỹ đến Việt Nam

    Sôcôla là một món ăn nay đã quá quen thuộc với người Việt Nam, nhưng chắc là không có mấy ai hiểu rõ về nguồn gốc của hạt cacao làm nên sôcôla, về lịch sử phát triển của sôcôla, cũng như về những đặc tính của cacao được trồng tại Việt Nam. Chính là nhằm mục đích quảng bá những kiến thức về sôcôla và cacao mà ông Francesco Trần Văn Liêng, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Ca cao Việt Nam (Vinacacao), đã lập ra La Maison du chocolat, Bảo tàng sôcôla Việt Nam.

    Nằm tại Bình Hưng, ngoại ô Sài Gòn, với diện tích khoảng 4.000m², được khai trương vào tháng 4 vừa qua, La Maison du Chocolat trước hết đưa chúng ta trở về nguyên thủy của cây cacao ở vùng Trung Mỹ, được thể hiện qua bức tượng của một vị thần. Hướng dẫn chúng tôi trong một chuyến tham quan riêng, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích: 

    “Đây là thần Ek Chuah. Người Maya và ở Trung Mỹ tự hào đây là thánh phù hộ cho ngành ca cao của họ ngay từ đầu và thực chất thì cây ca cao xuất phát từ Trung Mỹ, nơi mà văn minh của người Maya cũng gắn liền với văn minh của cây ca cao. Họ tự hào đó là “food of the God”, “thực phẩm Trời cho”. Họ sống vui vẻ, hòa mình với thiên nhiên và xây dựng một xã hội khá vững vàng trên nền tảng là hạt cacao và văn hóa xung quanh hạt cacao đó.

    Câu chuyện bắt đầu khi Christopher Columbus sang. Thứ nhất rõ ràng là Christopher Columbus đi với tư cách là hòa bình, nhưng thực sự cái hòa bình đó cũng ngắn hạn thôi. Thực tế là triều đình Tây Ban Nha gửi một đoàn quân sang và cuộc diệt chủng đầu tiên trên thế giới là diệt chủng người da đỏ và bây giờ người da đỏ đã tản mát ở Mêhicô, Honduras, thậm chí là ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

    Nhưng hạt cacao không bị khuất phục, hạt cacao sang châu Âu để tái chinh phục người châu Âu. Lúc đầu nó được dùng trong giới quý tộc và tăng lữ thôi, tại vì hạt này ngon quá, khi ăn thì người ta cảm thấy hưng phấn, vui vẻ. Nhưng nó được giữ rất kín cho đến khi cha con Joseph Fry ở Anh bắt đầu làm ra thanh sôcôla đầu tiên. Khi làm được thanh sôcôla đầu tiên rồi thì giới bình dân mới tiếp cận. Và khi tiếp cận rồi thì nó bùng nổ thành một thức uống chinh phục cả châu Âu.”

    Theo dòng lịch sử của hạt cacao, được tái hiện trên những bức tường, La Maison du chocolat đưa khách tham quan đến những quốc gia tiêu biểu của ngành sôcôla thế giới để hiểu được tính chất phong phú, đa dạng của sản phẩm này. Ông Francesco Trần Văn Liên cho biết: 

    “La Maison du chocolat cố gắng tái hiện lại những mẫu sôcôla thời xưa hoặc thời cận đại của các dân tộc trên thế giới. Ví dụ người Đan Mạch hay dùng “creamy milk”. Họ rất thích sữa, cho nên nhiều khi mình khó phân biệt là ăn sôcôla hay ăn sữa! Rồi tới praline của Bỉ. Người Bỉ thì rất hãnh diện là đã đưa hạt vào và làm cho sôcôla trở nên ngon hơn, thơm hơn và có nhiều dinh dưỡng hơn. Người Thụy Sĩ thì đặc biệt thích ăn sôcôla rất mịn. Và đây là thanh sôcôla đầu tiên mà mà gia đình người Anh nhà Fry làm. Ban đầu nó không ngon, đắng nghét, tại vì không có sữa. 

    Chúng tôi muốn khách tham quan hiểu được trên thế giới không phải chỉ có một cách ăn sôcôla, mà rất nhiều cách ăn. Ví dụ người Hà Lan có hot dark chocolate mà họ tự hào, nhưng phải là “pure”, tức là rất là tinh túy về hương vị sôcôla. Pháp cũng làm ra được praline giống như Bỉ, vì Pháp và Bỉ thì văn hóa gần nhau. Và trong thế giới ẩm thực của Pháp thì có quá nhiều sáng tạo. Đế quốc Ottoman là một đế quốc huy hoàng của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng họ thích ăn với pistachio, tức là hạt dẻ cười. Hạt dẻ cười cũng là một vật phẩm rất quý tại địa phương của họ. Ý thì tự hào là họ có Gianduja, pha sôcôla  ới hạt hazelnut ( hạt phỉ ), ra một thương hiệu riêng đó là Gianduja. 

    Tôi muốn giới thiệu với anh khu vực Trung Mỹ. Đầu tiên, chữ "sokalat" là do người Maya đặt ra và họ cũng có một thức uống rất điển hình thời đó, cách đây ngàn năm. Lúc đó công nghệ đâu có mạnh để nghiền rất mịn đâu. Họ chỉ là đập dập ra là uống. Nhưng đó là một thức uống bồi bổ sức khỏe cho những binh lính da đỏ để chiến đấu rất mãnh liệt với người Tây Ban Nha.”

    Đến với La Maison du chocolat, khách tham quan sẽ có dịp tìm hiểu về lịch sử của ngành cacao Việt Nam, để biết rằng loại cây này cũng chính là do người Pháp du nhập vào Việt Nam, theo lời ông Francesco Trần Văn Liêng:

    “Đầu thế kỷ 20, khoảng năm 1900, có một người Pháp tên là Jean-Baptiste Louis Pierre đem cây ca cao vào Thảo Cầm Viên Sài Gòn cùng thời với cây cà phê và cây cao su. Khi đưa vào Thảo Cầm Viên thì thấy khá là ổn và ông tiếp tục phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đất tốt, mưa nhiều, có nhiều tưới tiêu và và không có nhiều biến cố như bảo tố. Tại vì cây ca cao rất là cao, lá rất là to, gió nhiều nó sẽ gãy. Nhưng miền Nam cũng là vùng có nhiều chiến tranh, loạn lạc, người dân di cư rất nhiều, cho nên cây ca cao không phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 20. Mãi tới khoảng năm 2000, người Hà Lan bắt đầu viện trợ lại cho nông dân đồng bằng sông Cửu Long để tái lập lại các vườn ca cao xen với vườn dừa. 

    Cây cacao thật ra là cây ăn trái, không phải là cây công nghiệp như cà phê. Cacao trước hết ra trái, trái phải được ủ, ủ xong mới lấy hạt để làm sôcôla. Để trái tốt thì đất phải tốt. Đồng bằng sông Cửu Long được xem là đất rất tốt. Và thứ hai là phải được tưới tiêu rất nhiều. Nhiều người lầm tưởng cây ca cao giống cà phê, nhưng thực sự nó rất là khác. Cây ca cao có thể sống tới 40 năm, thành cây cổ thụ rất lớn, như xoài, mít, mận, ổi. Đó lý do tại sao miền Nam có vẻ thích hợp hơn. Với lại cây cacao mà bị khí hậu lạnh thì nó chết. Gặp lạnh 18 độ thì nó sẽ đứng, rồi sau đó nếu nhiệt độ xuống nữa thì nó có thể bắt đầu rụng lá và chết.” 

    Bảo tàng sôcôla cũng lưu giữ những dấu ấn của doanh nghiệp người Bỉ Ghicha Safarian, người đã thành lập công ty Puratos Grand-Place Việt Nam, hoạt động tại Việt Nam từ năm 1994. Đến  đầu năm 2011, Puratos Grand-Place Việt Nam đã ra mắt loại sôcôla đầu tiên được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam, từ khâu trồng ca cao cho đến thành phẩm cuối cùng. Cho đến nay, đây là nhà sản xuất đầu tiên tại Việt Nam tích hợp chuỗi cung ứng ca cao vào quy trình sản xuất của mình. Nhưng so với những “cường quốc cacao” như Côte d’Ivoire và Ghana, thế mạnh của cacao Việt Nam là ở những mặt nào, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích: 

    “Hiện nay Côte d’Ivoire và Ghana ở Phi Châu vẫn chiếm khoảng 75% sản lượng hạt cacao trên thế giới. Nhưng Côte d’Ivoire và Ghana thì ít sông ngòi và ít màu mỡ, cho nên hạt cacao có mùi hương nutty ( hương hạt dẻ ), như mùi gỗ, mùi mật ong, cũng ngon. Nhưng cacao socola Việt Nam được trồng ở đồng bằng, đất tốt mưa nhiều, phù sa, cho nên hạt to hơn, cơm bao nhiều hơn và hậu vị hơi chua ngọt, giống như cà phê arabica thì hơi chua một chút, cho nên nó mang tính chất fruity và độ thơm của nó thì cũng phản ánh vùng đất.

    Cho nên cacao Việt Nam có khuynh hướng dùng để làm sôcôla, còn cacao của Côte d’Ivoire và Ghana thì có khuynh hướng nghiền ra để làm bột. Tóm lại, cacao Việt Nam nổi bật hơn ở những điểm sau đây: fruity, mùi sôcôla nhiều hơn, học hỏi được cách lên men của Bỉ cho nên cho vị men thơm hơn, nhưng bù lại thì sản lượng thấp hơn và vì diện tích canh tác ít thành ra sự phát triển chậm chạp hơn. Thống trị trên thế giới về số lượng vẫn là Côte d’Ivoire và Ghana. Nhưng nhiều người làm chocolate boutique ở Bỉ,  Pháp, Hà Lan mua hạt cacao của Việt Nam để làm hương vị riêng của họ. Giá của hạt cacao Việt Nam luôn giữ cao bởi vì cũng có nhu cầu.

    Riêng Vinacacao có những dòng sản phẩm rất dễ ăn, như là cốm gạo Hà Nội, sôcôla ngọt, hoặc là sôcôla yaourt. Ngoài hữu cơ ( organic ), dòng sản phẩm của Vinacacao còn được gọi là single origin, tức là 100% sôcôla ở Việt Nam. Giống như rượu vang Pháp, nho trồng ở đâu thì nó quyết định vị ngon của nó. Hiện nay Vinacao phát triển dòng mạnh nhất vừa là hữu cơ, vừa có lợi cho sức khỏe, tức là không dùng đường. 

    Ngoài sôcôla thì Vinacacao phát triển rất nhiều dòng sản phẩm bột để dễ uống, chỉ cần pha với cà phê thôi. Đặc biệt là sản phẩm này kết hợp với Hà Lan để ra một dòng bột tương đối cao cấp cho thị trường Việt Nam và cho xuất khẩu. Ở Việt Nam bây giờ cũng có nhiều khách sạn năm sao và khu nghỉ dưỡng resort tìm cái loại bột cacao chất lượng để làm bánh." 

    Khách tham quan đến với La Maison du chocolat còn được tận mắt nhìn thấy cây cacao được trồng trong vườn, hạt cacao được ủ như thế nào, được phơi ra sao. Mọi người cũng sẽ có dịp thưởng thức những sản phẩm được chế biến từ cacao Việt Nam, trong đó có cả những thức uống. Đây cũng là nơi mà người lớn và trẻ em có thể đến để tự tay chế biến những thanh sôcôla, còn các trường có thể gởi học sinh đến trong những buổi học ngoại khóa để các em tìm hiểu về thực phẩm đầy thú vị này.

    10 min
  • Việt Nam : Bộ Công An có vai trò ngày càng lớn trong bộ máy nhà nước

    "Bộ Công An là cơ quan có ảnh hưởng lớn nhất tại Việt Nam. Trong bộ máy Nhà nước, cảnh sát và các cơ quan tình báo được coi là những công cụ chủ yếu để bảo tồn chế độ". Bộ Công An cũng được lợi nhất trong cuộc cải cách hành chính 2025, do ông Tô Lâm khởi xướng. Nhìn chung, bộ Công An đang tăng cường tự chủ so với bộ Quốc Phòng, một đối thủ lớn trong phát triển công nghiệp và kinh tế.

    Vai trò của bộ được tăng cường trong nhiều lĩnh vực, mở rộng sang hoạt động kinh tế, truyền thông (MobiFone), mua sắm trang thiết bị… Từ cuối năm 2025, vai trò của bộ Công An còn được mở rộng ra quy mô thế giới, thể hiện qua Đối thoại 3+3 với Trung Quốc, bao gồm quan chức ngoại giao, quân sự và công an.

    Đây là phần giải thích : “Bộ Công An đóng vai trò chính trị như thế nào tại Việt Nam?” nằm trong 100 câu hỏi trong cuốn sách mới Le Việt Nam. Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới) của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM). 

    Nhà nghiên cứu Benoît de Tréglodé trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt.

    RFI : Tháng 05/2026, ông đã xuất bản cuốn sách mới có tựa đề, tạm dịch Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới. Trong 100 câu hỏi. Trong phần giới thiệu, ông viết : Có một thỏa ước ngầm đang định hình mối quan hệ giữa Nhà nước-đảng và xã hội : làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia vào lĩnh vực chính trị. Gần đây hơn, chế độ đã xây dựng thêm phần thứ hai cho khế ước xã hội này : Nhà nước-đảng bảo đảm an ninh, với cái giá là tăng cường kiểm soát xã hội. Có thể nhận thấy ở đây có hai ý nghĩa : “an ninh” và “tăng cường kiểm soát xã hội”. Vậy trước tiên, “an ninh” đang được chính quyền hiện tại diễn giải như thế nào? “An ninh” đóng vai trò gì trong chính sách nhà nước hiện nay ?

    Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này gắn với một sự kiện diễn ra tại Hà Nội vào đầu tháng 6, khi tổng bí thư Tô Lâm có buổi làm việc với bộ trưởng Công An Lương Tam Quang. Trong cuộc gặp này, ông nhấn mạnh rằng quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam, với mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất 10% - con số gây ấn tượng thực sự - trong nhiệm kỳ 2026-2031, phải đi đôi với việc xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ luật, an toàn và phát triển.

    Theo định hướng đó, bảo đảm an ninh cho quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế của Việt Nam được đặt song hành với việc tăng cường an ninh. Đây không phải là một chi tiết nhỏ. Trong thời gian gần đây, hơn 5.000 camera ứng dụng trí tuệ nhân tạo đã được lắp đặt tại Hà Nội để giám sát an ninh, giao thông và người dân. Cách đây vài ngày, lực lượng An ninh Nhân dân đã nhận Huân chương sao vàng lần thứ tư. Đây là huân chương cao quý nhất, phần thưởng danh dự nhất, ghi nhận những đóng góp và thành tích của lực lượng công an Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng và trật tự công cộng.

    Vì vậy, thực tế hiện nay là ban lãnh đạo tại Việt Nam, với hạt nhân là ông Tô Lâm, nguyên là tướng công an, cùng các cộng sự thân cận, hầu hết là từ lực lượng công an, xác định công an và an ninh là trụ cột trung tâm trong nhiệm kỳ của tân tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam.

    RFI : Yếu tố thứ 2 là “tăng cường kiểm soát xã hội”. Hiện tại chúng ta có thể rút ra ghi nhận gì từ điều này ?

    Benoît de Tréglodé : Đây không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới. Thực tế, việc tăng cường kiểm soát xã hội và người dân đã diễn ra song hành với tiến trình mở cửa của Việt Nam kể từ khi chính sách Đổi mới được khởi xướng. Năm 2026, Việt Nam kỷ niệm 40 năm thực hiện chính sách mở cửa kinh tế. Ở đây có thể rút ra hai nhận định đáng chú ý.

    Thứ nhất, Việt Nam đã không ngừng mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, chính trị với bên ngoài. Bên cạnh những đối tác truyền thống như Trung Quốc hay các nước ASEAN, mạng lưới đối tác quốc tế của Việt Nam ngày càng phong phú và rộng lớn hơn.

    Thứ hai, quá trình mở cửa kinh tế từ cuối những năm 1980 đã làm dấy lên những lo ngại trong giới lãnh đạo Việt Nam về nguy cơ tác động đến sự ổn định xã hội, cũng như sự gắn kết của giới trẻ với hệ thống. Vì vậy, đối với họ, mở cửa phải luôn đi đôi với kiểm soát và kỷ luật tập thể. Chính cách tiếp cận này lý giải tại sao hai yếu tố này - quá trình phát triển kinh tế và tăng cường kiểm soát - luôn đi liền với nhau.

    Tiếp theo đó, chúng ta thấy vai trò của lực lượng công an ngày càng được củng cố trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Xu hướng này trở nên rõ nét hơn sau Đại hội đảng Cộng Sản lần thứ XIII cách đây 5 năm và đặc biệt kể từ khi ông Tô Lâm tiếp tục củng cố quyền lực tại Đại hội Đảng XIV vào đầu năm nay, đồng thời giữ hai chức vụ chủ tịch nước và tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam.

    Như vậy, lực lượng an ninh được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, với việc siết chặt kiểm soát trật tự xã hội thông qua hàng loạt công cụ pháp lý.

    Tiêu biểu là Luật An ninh mạng nổi tiếng, được hai bộ Công An Trung Quốc và Việt Nam cùng nhau suy nghĩ để soạn thảo, có hiệu lực ngày 01/01/2019, cùng với việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực an ninh mà giới lãnh đạo Việt Nam đánh giá đặc biệt hiệu quả.

    RFI : Phải chăng công việc này đã có thể thực hiện được là nhờ bộ Công An ? Trong cuốn sách, ông đề cập ở câu hỏi số 41 đến “vai trò chính trị” của bộ này. Vậy cụ thể “vai trò chính trị” đó là gì ?

    Benoît de Tréglodé : Có hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất, đó là việc ông Tô Lâm cùng các cộng sự từng công tác tại bộ Công An hiện đang nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm hơn là dần dần, thông qua các hoạt động liên quan đến công chúng, chủ quyền, an ninh và thậm chí cả đối ngoại, vai trò ngày càng nổi bật của chủ thể chính trị mới trong bộ máy nhà nước Việt Nam đã được thể hiện rõ : lực lượng cảnh sát và công an.

    Tôi lấy một ví dụ rất cụ thể là quan hệ song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc, hoặc với Nga, Lào, Cam Bốt, hoặc một số nước láng giềng khác. Trước đây, các cuộc trao đổi song phương thường được tổ chức theo cơ chế 2+2 với đại diện từ bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng. Tuy nhiên, trong vài tháng gần đây, cơ chế này đã được mở rộng thành 3+3, trong đó bộ Công An tham gia với vị thế ngang hàng với hai bộ trên. Điều đó có nghĩa là trong các cuộc gặp giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm thảo luận các vấn đề song phương, bên cạnh các nhà ngoại giao và đại diện quân đội, lực lượng công an của hai nước cũng tham gia vào quá trình trao đổi và xử lý các vấn đề chung.

    Việc đưa lực lượng công an tham gia ở cấp độ này phản ánh sự thay đổi trong bộ máy lãnh đạo Việt Nam. Rõ ràng là lãnh đạo Việt Nam đang trực tiếp nhấn mạnh vai trò chính trị quan trọng của lực lượng công an.

    RFI : Cuốn sách cũng nêu “Việc làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia chính trị”. Tại sao điều này lại quan trọng đối với Nhà nước-đảng ? Liệu thực tế được mô tả trong câu hỏi 30 (Tại sao người Việt Nam lại nói nhiều về tiền bạc?) có phải là cơ sở để thực hiện chính sách “giữ người dân tránh xa chính trị” hay không ?

    Benoît de Tréglodé : Trong cuốn sách, tôi nhiều lần trở lại với vấn đề này, bởi vì đây là một điểm then chốt để hiểu được sự tồn tại lâu dài của đảng Cộng Sản Việt Nam trong khoảng 40 năm qua.

    Đó là quá trình chuyển đổi từ một hệ tư tưởng mang tính giáo điều được du nhập từ bên ngoài - ở đây tôi sử dụng từ “giáo lý” (catéchisme) - vốn trong một thời gian dài được thể hiện qua chủ nghĩa Mác - Lênin dưới những hình thức được du nhập, điều chỉnh và thích nghi với bối cảnh văn hóa Việt Nam, sang một mô hình gần gũi hơn với xu hướng phát triển của các xã hội phương Tây hiện nay, đó là chủ nghĩa tư bản tự do. Mô hình này, đôi khi được thúc đẩy rất mạnh mẽ và dần dần trở thành một dạng “giáo lý chính trị” mới đối với đảng Cộng Sản Việt Nam.

    Như Đặng Tiểu Bình từng nói ở Trung Quốc năm 1979 : Kinh doanh làm giàu cho dân tộc, làm giàu cho người dân và làm rạng danh đất nước. Ngày nay, câu nói này có thể nghe không mới, nhưng vào đầu những năm 2000, đây vẫn là vấn đề gây nhiều tranh luận. Tại phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX năm 2002, lần đầu tiên đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận việc đảng viên có thể sở hữu doanh nghiệp tư nhân, tham gia hoạt động kinh doanh, đồng thời vẫn duy trì tư cách đảng viên. Kể từ đó, kinh doanh trở thành một yếu tố quan trọng trong văn hóa phát triển của Việt Nam, bao gồm cả hoạt động kinh doanh trong khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước.

    Đó thực sự là “cơn địa chấn” đầu tiên bắt đầu từ đầu thế kỷ XXI và xu hướng này tiếp tục được củng cố. Năm 2025, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân. Đây là một trong những văn kiện quan trọng, trong đó lần đầu tiên vai trò của khu vực kinh tế tư nhân được khẳng định rõ ràng là một trong những động lực quan trọng hàng đầu của nền kinh tế quốc gia.

    Như vậy, trọng tâm của quá trình chuyển đổi đã thay đổi trong vòng 40 năm qua.

    Hiện nay, đảng Cộng Sản Việt Nam hiểu rằng sự tồn tại lâu dài, bền vững và tương lai của đảng phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, vào khả năng kinh doanh, làm giàu của người dân và theo đuổi vấn đề đó, chứ không phải là quan tâm đến chính trị.

    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).

    10 min
  • Du lịch bền vững tại Việt Nam : Khi người trẻ và cộng đồng địa phương trở thành trung tâm

    Trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững ngày càng trở thành ưu tiên của nhiều quốc gia, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ - Organisation internationale de la Francophonie (OIF) - đang triển khai tại Việt Nam dự án “Điểm đến Sinh thái Tài năng” - Destination Eco-Talent - với mục tiêu kết hợp đào tạo nghề, tạo việc làm cho thanh niên và phụ nữ tại các địa phương, đồng thời thúc đẩy các mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường.

    Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, bà Adjara Diouf, điều phối viên của chương trình Thúc đẩy Du lịch Bền vững của OIF chia sẻ về những chia sẻ về những mô hình đang được thử nghiệm tại Việt Nam, các thách thức trên thực địa cũng như tiềm năng của du lịch bền vững trong không gian Pháp ngữ.

    Adjara DIOUF : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ đã khởi động dự án Điểm đến Sinh thái Tài năng vào năm 2024 tại bốn quốc gia : Cabo Verde, Cam Bốt, Comores và Việt Nam. Mục tiêu tổng thể của dự án là góp phần vào khả năng hồi phục và trao quyền cho người dân, đặc biệt là cho giới trẻ và phụ nữ, để giải quyết các thách thức về môi trường, khí hậu, kinh tế và xã hội.

    Dự án này, được gọi là Điểm đến Sinh thái Tài năng (Eco-Talent), nhằm mục đích tạo ra việc làm và cơ hội thu nhập cho thanh niên, phụ nữ và cộng đồng dân cư sống ở nông thôn và các vùng ven đô thị.

    Chương trình tập trung vào khả năng tìm việc làm và phát triển nghề nghiệp của người lao động thông qua các sáng kiến ​​giáo dục và đào tạo, hướng tới các nghề trong ngành du lịch bền vững, đồng thời hỗ trợ phát triển và quảng bá các sản phẩm du lịch bền vững. Chương trình cũng nhấn mạnh đến sự phối hợp và kết nối các nỗ lực trong phát triển du lịch bền vững.

    Tại sao lại là Việt Nam ? Đơn giản là vì, trước hết, chúng tôi có văn phòng đại diện khu vực của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) tại Việt Nam. Vì vậy, việc bắt đầu với quốc gia này là hoàn toàn hợp lý, đặc biệt là vì trụ sở cơ quan của tôi và nhóm điều phối đều được đặt tại Việt Nam.

    Hơn nữa, Việt Nam là một đất nước tuyệt vời với nhiều tiềm năng trong lĩnh vực du lịch bền vững và du lịch nói chung.

    RFI : Trong giai đoạn thực hiện, OIF đã phát triển các sáng kiến ​​và mô hình đổi mới nào để thúc đẩy du lịch bền vững ?

    Adjara DIOUF : Có thể coi dự án Điểm đến Du lịch Sinh thái này là một sáng kiến ​​đổi mới. Thứ nhất, dự án này của OIF triển khai một mô hình đổi mới kết hợp du lịch bền vững và đào tạo.

    Dự án được triển khai với sự hợp tác của một số trường đại học của Việt Nam, như Đại học Hà Nội, hay Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh … Mô hình này đề xuất các chương trình đào tạo chuyên ngành, tích hợp với hoạt động thực tiễn. Như vậy sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, qua đó có sự hỗ trợ trực tiếp và cụ thể cho các cộng đồng dân cư.

    Dự án này cũng tích hợp các chương trình đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm thúc đẩy hội nhập nghề nghiệp cho những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, ví dụ như ở các tỉnh.

    Đào tạo và giáo dục về du lịch bền vững là rất cần thiết. Bởi vì đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch bền vững có thể nâng cao nhận thức của giới trẻ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và trên hết, giúp họ tìm được con đường hướng tới việc làm và hội nhập.

    Thứ hai, dự án này hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm thực tế. Ví dụ các sáng kiến ​​du lịch cộng đồng với nghề làm nón lá ở Tri Lễ hoặc nghề đan lát ở Bao La, Huế. Những sáng kiến ​​này hoàn toàn do cộng đồng ở địa phương quản lý. Khi loại bỏ các bên trung gian, người dân biến những kỹ năng của họ thành những trải nghiệm tạo ra thu nhập thực sự.

    Việc các địa phương nắm được chuỗi giá trị như vậy sẽ tạo ra 3 tác động : về kinh tế, thông qua việc tạo ra việc làm ; về xã hội, thông qua việc trao quyền cho phụ nữ và thanh niên; và về môi trường và văn hóa, thông qua việc bảo tồn di sản. Chính bằng cách này, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) mang lại thêm giá trị thực sự, thông qua việc điều phối các đối tác sử dụng tiếng Pháp tham gia vào các sáng kiến ​​này.

    Hơn nữa, việc sử dụng tiếng Pháp thông qua giao tiếp và thậm chí cả việc học những điều cơ bản về ngôn ngữ cũng mang lại cho các cộng đồng ở địa phương thêm một lợi thế cạnh tranh. Nói cách khác, đây là một mô hình độc nhất, trong đó du lịch bền vững vừa trở thành một công cụ hội nhập kinh tế, vừa trở thành một phương tiện quảng bá cho khối Pháp ngữ tại Việt Nam.

    Và cuối cùng, để củng cố 2 hướng chủ đạo nói trên, tức là đào tạo và hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch, OIF dự kiến ​mở một trung tâm Điểm đến Du lịch Sinh thái tại Việt Nam trong năm 2026. Trung tâm này sẽ được thiết kế như một trung tâm đa năng thực thụ, với nhiều bên tham gia để thúc đẩy du lịch bền vững.

    RFI : Bà có thông điệp gì gửi đến những thanh niên muốn tham gia vào lĩnh vực du lịch bền vững ?

    Adjara DIOUF : Đây là một câu hỏi thú vị. Trước hết, ai cũng biết rằng du lịch bền vững có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế và xã hội, bởi vì tạo ra nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp cho thanh niên, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa. Do nhiều thanh niên và các bên liên quan ở địa phương chưa được thông tin đầy đủ về những cơ hội mà du lịch bền vững mang lại, nên điều cần thiết là phải nâng cao nhận thức và thông tin cho họ về tiềm năng của lĩnh vực này, khuyến khích họ hướng tới lĩnh vực việc làm đầy triển vọng này. Du lịch bền vững có thể thúc đẩy việc làm mới, tạo ra những nghề nghiệp mới và bồi dưỡng tài năng mới cho giới trẻ.

    Tôi cũng có một số thông điệp khác. Như chúng ta đã biết, khu vực châu Á có sự đa dạng văn hóa rất lớn, với nhiều nền văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ khác nhau, và tôi nghĩ rằng việc hiểu rõ những đặc điểm riêng này là rất quan trọng để tạo ra các sáng kiến ​​du lịch bền vững và tôn trọng cộng đồng địa phương. Du lịch bền vững cũng làm nổi bật văn hóa địa phương, khuyến khích giới trẻ trở thành đại sứ cho di sản của chính địa phương mình.

    Đây cũng là một nguồn cơ hội cho giới trẻ, ví dụ như những người muốn khởi nghiệp, phát triển các giải pháp sáng tạo trong lĩnh vực du lịch, bằng cách sử dụng công nghệ mới, để nâng cao trải nghiệm du lịch - họ rất giỏi trong lĩnh vực này - phát triển các sản phẩm du lịch mới, đồng thời bảo vệ môi trường.

    Và tôi muốn nói thêm rằng tiếng Pháp cũng là một công cụ mạnh mẽ để hội nhập xã hội trong khu vực này. Thành thạo tiếng Pháp làm tăng khả năng tìm việc làm và mức thu nhập cho giới trẻ làm việc trong ngành du lịch.

    RFI : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) có kết nối Việt Nam với các nước Pháp ngữ khác để chia sẻ kinh nghiệm không, và theo ý kiến ​​của bà, những kinh nghiệm quốc tế nào có thể được áp dụng hiệu quả tại Việt Nam?

    Adjara DIOUF : Vâng, đây chính là hoạt động tiếp theo mà chúng tôi sẽ thực hiện. Hiện tại, chúng tôi đang trong giai đoạn thí điểm, và bước tiếp theo là kết nối các quốc gia hưởng lợi từ giai đoạn thí điểm để họ có thể trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm tốt nhất.

    Mặt khác, Việt Nam rất mạnh về du lịch cộng đồng và có thể truyền cảm hứng cho các quốc gia nói tiếng Pháp khác. Cũng có những kinh nghiệm từ các nơi khác có thể được áp dụng tại Việt Nam. Ví dụ, kinh nghiệm quản lý các công viên quốc gia của Canada là rất đáng khích lệ. Việc áp dụng hạn ngạch khách tham quan, hệ thống đặt chỗ, các quy định nghiêm ngặt và giáo dục môi trường giúp bảo tồn hệ sinh thái. Ví dụ, kiểu sáng kiến ​​này có thể được áp dụng tại các địa điểm rất nổi tiếng vào những thời điểm nhất định trong năm, khi lượng khách du lịch rất đông, để hạn chế tác động của du lịch đại chúng.

    Một sáng kiến ​​khác cũng cho phép giải quyết đáng kể vấn đề rác thải, đặc biệt là rác từ sản phẩm nhựa dùng một lần, vẫn còn rất phổ biến ở nhiều địa điểm du lịch. Nhìn vào các ví dụ từ các quốc gia khác như Pháp, Maroc và Rwanda, tôi nghĩ rằng có thể giải quyết đồng thời các vấn đề này để dần dần giảm thiểu việc sử dụng nhựa thông qua các chính sách công và cũng khuyến khích các nhà quản lý địa điểm áp dụng các tiêu chuẩn môi trường thông qua các chứng nhận như Nhãn hiệu Điểm đến xuất sắc.

    Dự án TRILAF và làng nghề nón lá Tri Lễ 

    Trong số các dự án được OIF hỗ trợ, ví dụ có dự án Tri Lễ - nghề thủ công và tình đoàn kết Pháp ngữ vì một tương lai bền vững - gọi tắt là TRILAF, một sáng khiến do Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, triển khai, hướng tới việc kết nối bảo tồn nghề thủ công truyền thống với phát triển du lịch cộng đồng bền vững. Tri Lễ là một làng nằm ở huyện Thanh Oai cũ, hiện nay thuộc xã Dân Hòa, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 30 km.

    Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Đàm Minh Thủy, trưởng khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết :

    « Điểm đặc biệt của dự án là có sự tham gia của nhiều bên, cụ thể là có sự tham gia của chính quyền địa phương, của người dân, của doanh nghiệp du lịch và sinh viên, cùng giảng viên của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, qua đó hình thành một hệ sinh thái hợp tác gắn kết giữa giáo dục, văn hóa và phát triển kinh tế.

    Và chúng tôi cũng đặc biệt vui mừng khi định hướng của dự án thì hoàn toàn phù hợp với quy hoạch tổng thể của thủ đô Hà Nội « Tầm nhìn 100 năm », trong đó nhấn mạnh việc bảo tồn làng nghề gắn với phát triển du lịch nông thôn như là một trụ cột quan trọng để gìn giữ bản sắc văn hóa và thúc đẩy kinh tế địa phương. Và chúng tôi tin tưởng rằng là với sự đồng hành của chính quyền, của cộng đồng và các đối tác, Tri Lễ sẽ từng bước trở thành một mô hình tiêu biểu về phát triển làng nghề gắn với du lịch bền vững và góp phần lan tỏa giá trị của văn hóa Việt Nam trong nước và quốc tế.

    Trường Đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội giữ vai trò trung tâm trong dự án. Nhà trường là đơn vị khởi xướng ý tưởng này, xây dựng này và phát triển dự án cùng với các đối tác địa phương và cộng đồng pháp ngữ. Và đồng thời, chúng tôi cũng đảm nhiệm vai trò là điều phối chung và triển khai các hoạt động của dự án, thông qua khoa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ Đại Quốc gia Hà Nội huy động các giảng viên, sinh viên cùng với các đối tác học thuật và các doanh nghiệp nhằm đồng hành cùng với làng Tri Lễ trong việc bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng bền vững.

    Trong dự án, chúng tôi tổ chức rất nhiều hoạt động ở tập huấn về du lịch bền vững, du lịch cộng đồng, sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn, hay trang trí nón lá, kỹ năng đón tiếp khách du lịch và ngoại ngữ. Thông qua đó, chúng tôi mong muốn góp phần quảng bá làng nghề, với các hoạt động trung gian, văn hóa và sản xuất nội dung số, xây dựng tour du lịch và hợp tác quốc tế.

    RFI : Vậy sinh viên có vai trò gì trong sự án ?

    TS. Đàm Minh Thủy : Về vai trò của sinh viên và giảng viên trong dự án, có thể nói sinh viên Pháp ngữ, cụ thể là sinh viên tiếng Pháp của khoa chúng tôi thì giữ vai trò trung tâm trong dự án Trilaf. Các em không chỉ là người được hưởng lợi từ dự án, mà còn là những tác nhân tích cực và đồng kiến tạo các hoạt động trong dự án. Cụ thể TRILAF tạo nên một môi trường học tập rất là thực tiễn, bổ ích, nơi mà sinh viên có thể vận dụng các kiến thức tiếng Pháp kiến thức về truyền thông du lịch và đóng vai trò là trung gian văn hóa và ứng dụng tất cả những kiến thức, cũng như là kỹ năng của các em, vào tình huống thực tế.

    Ví dụ sinh viên du lịch thì được tham gia khảo sát thực địa nghiên cứu về các tiềm năng du lịch của làng này và của nghề làm nón lá truyền thống, hoặc là các em cũng tham gia những cái cuộc thi về sáng tạo video để quảng bá cho làng nghề và trực tiếp gặp gỡ, học hỏi và trao đổi, trò chuyện cùng với người dân địa phương để có thể hiểu hơn về làng, cũng như về nghề làm nón lá.

    Sinh viên truyền thông thì xây dựng những kế hoạch hay những sản phẩm truyền thông để quảng bá dự án thông qua việc sản xuất nội dung số, hay là quản lý trang mạng xã hội và có hoạt động tôn vinh văn hóa. Bên cạnh hai đối tượng, hai nhóm sinh viên này, chúng tôi cũng huy động các sinh viên ở trong khoa để tham gia tích cực vào việc tổ chức các buổi tập huấn cho người dân.

    Một số em có thể trực tiếp hỗ trợ các hoạt động sáng tạo, như trang trí nón lá, và thông qua tất cả những hoạt động này thì sinh viên có thể phát triển kỹ năng về nghề nghiệp, kỹ năng về tổ chức, năng lực giao tiếp liên văn hóa, cũng như tinh thần trách nhiệm xã hội và sự thấu hiểu thực tế của địa phương và góp phần vào những hoạt động về cộng đồng. Chúng tôi nghĩ rằng là đây là những chìa khóa, là những hành trang quan trọng để sinh viên có thể dễ dàng tìm được những công việc phù hợp trong tương lai.

    Đối với giảng viên thì dự án cũng tạo điều kiện để phát triển các phương pháp giảng dạy liên ngành, gắn thực tiễn xã hội và cộng đồng. TRILAF góp phần tăng cường mối liên hệ giữa đào tạo nghiên cứu và phục vụ cộng đồng.

    Đây chính là 3 hướng mà chúng tôi muốn kết hợp với nhau ở trong bối cảnh đào tạo đại học hiện nay. Đồng thời, dự án cũng mở ra nhiều cơ hội hợp tác quốc tế, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp mở ra những hướng nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực du lịch bền vững, giáo dục liên văn hóa và Pháp ngữ học.

    RFI : Dự án TRILAF có thể mang lại lợi ích gì cho làng nghề nón lá Tri Lễ ?

    TS. Đàm Minh Thủy : Trên thực tế chúng tôi cũng đã triển khai rất nhiều hoạt động và những hoạt động này cũng mang lại những lợi ích cho người dân Tri Lễ. Trước hết là dự án TRILAF có những tác động tích cực về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân Tri Lễ, thông qua việc tôn vinh nghề làm nón lá truyền thống.

    Chúng ta đều biết nón lá truyền thống là một di sản văn hóa quan trọng của Việt Nam. Và nón lá truyền thống thì được sản xuất tại rất nhiều các làng nghề hay là các vùng miền khác nhau của Việt Nam, và ở mỗi một vùng miền hay làng nghề thì có những cái đặc trưng riêng. Tuy nhiên, hiện nay, với sự phát triển của cuộc sống hiện đại, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng là nón lá ngày càng bị mai một.

    Ví dụ như là ở làng Tri Lễ còn rất nhiều hộ gia đình làm nghề làm nón lá. Tuy nhiên, khi chúng tôi đến làm việc và khảo sát thì thấy rằng đa số là phụ nữ, cũng có cả nam giới nhưng là những người đã nhiều tuổi, từ khoảng 50-60 tuổi trở lên, thậm chí có những người 80 tuổi vẫn làm. Còn thanh niên và những người trong độ tuổi lao động thì họ đi làm những nghề khác. Thế nên, chúng tôi nghĩ rằng có nguy cơ về sự mai một của nghề truyền thống thủ công.

    Chính vì vậy, chúng tôi cũng cố gắng xây dựng các hoạt động về truyền thông, hay quảng bá về du lịch thông qua những hoạt động về đào tạo, để các sản phẩm của làng ngày càng được khách du lịch trong và ngoài nước biết nhiều hơn. Dự án cũng góp phần cải thiện đời sống của người dân Tri Lễ, thông qua phát triển du lịch cộng đồng với các hoạt động như là đón tiếp khách tham quan, hay là trình diễn nghề thủ công truyền thống, hoặc là tổ chức những trải nghiệm văn hóa và tham quan làng nghề.

    Những hoạt động này sẽ giúp đa dạng hóa kinh tế địa phương và mở ra nhiều cơ hội về nghề nghiệp mới. Đặc biệt là dự án TRILAF quan tâm nhiều và đối tượng hưởng lợi chủ yếu là phụ nữ và thanh niên, những lực lượng giữ vai trò quan trọng cho các hoạt động thủ công và du lịch của làng.

    Chúng tôi tổ chức các khóa tập huấn về du lịch bền vững, về truyền thông, về kỹ năng đón tiếp khách du lịch, hay những sáng tạo thủ công trang trí nón lá, để giúp người dân nâng cao những kỹ năng của mình, để phát huy nghề truyền thống và tăng cường khả năng tự chủ kinh tế. Chúng tôi tin tưởng rằng về lâu dài thì dự án cũng sẽ khuyến thích được nhiều người trẻ quay trở lại với quê hương để tham gia và phát triển địa phương, gìn giữ các tri thức truyền thống.

    Cuối cùng thì TRILAF hướng tới việc xây dựng Tri Lễ thành một mô hình du lịch bền vững và đoàn kết, dựa trên 3 nền tảng chính : bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nâng cao năng lực cộng đồng địa phương và phát triển các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường.

    RFI : Dự án TRILAF có kết nối được với các doanh nghiệp du lịch để phát triển du lịch cho làng nghề nón lá Tri Lễ ?

    TS. Đàm Minh Thủy : Như tôi đã nói thì trong dự án này có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên, đó là chính quyền địa phương, trường Đại học ngoại ngữ Đại Quốc gia Hà Nội và các doanh nghiệp du lịch.

    Đối với các doanh nghiệp du lịch thì chúng tôi cũng đã có rất nhiều buổi trao đổi thảo luận. Một số đại diện của các công ty du lịch cũng cùng với chúng tôi đến làm việc với địa phương, trước hết là tập huấn cho người dân về du lịch cộng đồng, du lịch bền vững và những đặc điểm của khách du lịch Pháp hay là khách sử dụng Pháp ngữ.

    Đồng thời, các đơn vị lữ hành cũng hỗ trợ dự án, xây dựng những tour du lịch và tư vấn cho địa phương, cũng như cho dự án những phương án thiết kế tour, hay là những điều kiện về cơ sở vật chất và cơ cấu tổ chức để có thể đón khách du lịch.

    Chúng tôi hi vọng từ giờ đến cuối cuối năm các công ty du lịch cũng sẽ gửi được những đoàn khách du lịch đầu tiên để đến làng nghề Tri Lễ.

    Qua trao đổi với giám đốc của công ty Horizon Travel, một công ty cũng tương đối lớn về du lịch và đặc biệt là có một số lượng khách Pháp rất lớn, chúng tôi cũng được biết công ty đã tổ chức rất nhiều đoàn tour đến làng Chuông, một làng nón lá cũng đã rất phát triển. Thậm chí là mỗi năm riêng công ty này có thể tổ trước khoảng 500 tour du lịch đến làng Chuông.

    Sau khi khảo sát ở làng Tri Lễ thì công ty Horizon Travel cũng đánh giá rất cao tiềm năng của làng Tri Lễ, cũng như của xã Dân Hòa, bởi vì những đặc điểm nghề làm nón lá thủ công truyền thống ở Tri Lễ rất là phong phú và hiện nay việc sản xuất nón lá vẫn hiện hữu trong từng gia đình. Ngôi làng cũng rất  đẹp, với những đường bờ đê hay những ngôi nhà cổ, và những người dân, thậm chí đến 80-90 tuổi, vẫn ngồi đan nón lá. Đó là những tiềm năng rất tốt.

    Và ngay bên cạnh làng Tri Lễ thì là làng Ước Lễ nổi tiếng với nghề làm giò chả, với những cổng làng rất đẹp và có truyền thống, hay là những địa danh khác của xã Dân Hòa. Chúng tôi đánh giá tiềm năng về du lịch rất là phát triển và cũng có thể thu hút được nhiều khách du lịch trong thời gian tới.

    Bản thân công ty Horizon Travel cũng đã cam kết với chúng tôi rằng sẽ đưa làng Tri Lễ vào chương trình tour của mình. Ngoài công ty này, chúng tôi cũng đã trao đổi với một số doanh nghiệp du lịch khác và họ đều rất ủng hộ, sẵn sàng tham quan khảo sát và xây dựng những tuyến tour ở làng Tri Lễ.

    18 min
  • Sân bay quốc tế Long Thành: Hệ thống giao thông kết nối vẫn chưa theo kịp

    Theo lịch trình dự kiến, sân bay quốc tế Long Thành sẽ được đưa vào hoạt động kể từ tháng 12 năm nay song song với sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố khiến dự án đầy tham vọng này của Việt Nam có nguy cơ bị chậm trễ. Kế hoạch chuyển các chuyến bay quốc tế từ Tân Sơn Nhất đến Long Thành đang đặt ra nhiều vấn đề, nhất là vì hệ thống giao thông kết nối hai sân bay vẫn chưa theo kịp.

    Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành được xây dựng trên diện tích khoảng 5.000ha, có tổng mức đầu tư gần 16 tỷ đôla, với Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) là chủ đầu tư dự án. Riêng giai đoạn 1 được thiết kế với công suất 25 triệu lượt hành khách và 1,2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Mới đây, ông Nguyễn Đức Hùng, Quyền Tổng Giám đốc ACV đã cam kết với thủ tướng Lê Minh Hưng là sẽ hoàn thành toàn bộ dự án vào tháng 12/2026 và đưa sân bay này vào hoạt động.

    Tuy nhiên, trả lời RFI Việt ngữ ngày 03/07/2026, tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Kỹ thuật hàng không Trường Đại học Văn Lang, cho rằng không cần xây dựng sân bay Long Thành một cách gấp rút như thế:

    "Tôi thấy là không hiểu sao mà phần lớn như là bị tự kỷ ám thị, tự mình tin  như vậy, rồi nói như vậy và cùng nhau nói như vậy, không ai nói ngược lại. Tức là tại sao Long Thành phải hoạt động vào năm 2026? Tại sao đặt những mốc thời gian như vậy, trong khi một công trình xây dựng đòi hỏi thời gian để nó có thể là hoàn tất, bảo đảm chất lượng hoạt động khi hoàn tất, chứ không phải đặt mức phải bắt đầu hoạt động, rồi thúc đẩy hoàn tất cho  kịp cái mốc đó. Thứ nhất là không bảo đảm được kết quả như là để tự nó theo đúng điều kiện khách quan để nó hoàn tất.

    Thứ hai là sẽ tốn kém. Thúc ép như vậy thì đưa đến chuyện là mọi việc đều  gấp rút, thời gian làm thêm ngoài giờ, làm thêm ban đêm tốn rất nhiều chi phí mà không cần thiết. Bởi vì có nhất thiết Long Thành phải hoạt động cuối năm 26 hay đầu năm 27 không? Chậm 1 năm, ngay cả chậm hơn nữa cũng chẳng sao cả. Người ta vịn vào một cái cớ rất là vô lý là sân bay Tân Sơn Nhất quá tải.

    Quá tải là gì? Quá tải là vượt quá sức hoạt động của nó. Thật sự quá tải chỉ xảy ra vào dịp Tết mà sân bay vẫn chịu đựng được. Tết vừa rồi có ngày tiếp nhận trên cả ngàn chuyến bay mà sân bay vẫn hoạt động. Cho nên không có một sự cấp bách gì mà phải đưa sân bay Long Thành vào hoạt động lấy cớ là vì Tân Sơn Nhất quá tải." 

    Theo báo chí trong nước, vào đầu tháng 7,  AVC đã đề xuất với chính phủ là thay vì chuyển toàn bộ hoạt động khai thác từ sân bay Tân Sơn Nhất sang Long Thành, hai sân bay sẽ được vận hành đồng thời theo phương án: Tân Sơn Nhất tiếp tục khai thác toàn bộ các đường bay nội địa cùng các đường bay quốc tế ngắn và trung bình, trong khi Long Thành “từng bước đảm nhận các đường bay quốc tế phù hợp nhằm phát huy công suất ngay từ giai đoạn đầu đưa vào khai thác”. Phương án này được xem là “nhằm khai thác tối đa năng lực của cả hai sân bay”.

    Cụ thể, trong giai đoạn đầu tiên (dự kiến từ 1/12/2026 – 27/3/2027), ACV đề xuất chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế đường dài từ sân bay Tân Sơn Nhất sang sân bay Long Thành. Giai đoạn 2 (từ 28/3/2027 đến hết năm 2030), toàn bộ các chuyến bay quốc tế còn lại sẽ chuyển sang sân bay mới. Giai đoạn sau năm 2030 sẽ chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế thường lệ sang khai thác tại sân bay Long Thành, còn Tân Sơn Nhất sẽ chủ yếu khai thác các chuyến bay nội địa.

    Ngày 30/06 vừa qua, ACV thông báo trong số các hãng nội địa, 3 hãng Vietnam Airlines, Vietjet Air và Vietravel Airlines đã chính thức đăng ký khai thác sân bay Long Thành. Đối với các hãng hàng không quốc tế, ACV trước đó cho biết đại diện 34 hãng "đã khảo sát thực địa và chuẩn bị cho việc khai thác sân bay Long Thành."

    Nhưng trong giới chuyên gia ở Việt Nam, không ít người quan ngại về tính khả thi của kế hoạch chuyển các chuyến bay quốc tế đến sân bay Long Thành. Trả lời Tạp chí Hàng không ngày 21/04/2026, ông Nguyễn Ngọc Luận, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Kinh doanh khí miền Nam, cho rằng các hãng hàng không Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải khai thác một phần các chuyến bay quốc tế tại sân bay Long Thành trong thời gian tới.

    Phương án khả dĩ hơn theo ông là trước mắt chỉ chuyển từ Tân Sơn Nhất về Long Thành các hãng hàng không nước ngoài có chặng đến và đi quốc tế (không khai thác quốc nội). Khách bay quốc tế các chặng này sẽ tự nối chuyến bằng xe hơi. Tuy nhiên phương án này lại chưa thuận tiện cho hành khách nối chuyến trong thời gian đầu do kết nối giao thông giữa hai sân bay chưa hoàn thiện. 

    Nếu hạ cánh tại sân bay Long Thành mà muốn đi tiếp quốc nội thì hành khách phải đón xe về Tân Sơn Nhất (mất có khi đến 2 tiếng), cho nên khách từ nhiều nước có có thể sẽ chọn bay với hãng khác (như Thai Airways hay Singapore Airlines) quá cảnh tại Bangkok/Singapore để từ đó bay thẳng đến các điểm du lịch của Việt Nam.

    Về phần tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, ông nêu bật những thiệt hại của kế hoạch chuyển các chuyến bay đến Long Thành quá sớm:

    "Đó là vấn đề rất quan trọng mà người ta không suy nghĩ đúng mức về mặt thiệt hại kinh tế xã hội nếu như cưỡng ép những chuyến bay đang có thể hoạt động tại Tân Sơn Nhất ra Long Thành. Tôi có thể nói bất cứ người khách nào hiện đang sử dụng Tân Sơn Nhất mà bị ép buộc phải ra Long Thành, thì chắc chắn họ không muốn.

    Bao giờ Tân Sơn Nhất quá tải, cái đó là do các hãng hàng không quyết định : Nếu họ thấy tìm thêm slot để mở chuyến bay không có, Tân Sơn Nhất hết chỗ rồi, thì họ sẽ mở slot mới bên sân bay mới và nếu có đủ khách họ mới mở chuyến bay đó. Tôi nghĩ việc thực hiện những chuyến bay ở Long Thành phải để cho tự nhiên xảy ra, chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chánh, điều hành khách từ sân bay này sang sân bay khác.

    Việc quản lý các sân bay Việt Nam rất vô lý, tập trung thành một công ty gọi là Tổng công ty Hàng không Việt Nam ACV, một công ty quản lý và có quyền điều động mọi thứ với nhau, rất là vô lý. Đơn cử bên Úc, họ xây một sân bay thứ nhì của Sydney, câu hỏi đặt ra là ai quản lý sân bay thứ nhì đó? Người ta bảo ưu tiên cho sân bay thứ nhất, nếu muốn, họ quản lý luôn sân bay thứ nhì. Nhưng họ đã từ chối, chỉ quản lý sân bay Kingsford Smith thôi. Cho nên người ta mới thành lập một cơ quan quản lý sân bay Sydney thứ nhì. Có nghĩa hai sân bay độc lập, bổ sung cho nhau, nhưng cạnh tranh với nhau. Và như vậy các hãng máy bay cảm thấy sân bay mới có thuận lợi gì thì họ đăng ký sử dụng sân bay đó.

    Sân bay Long Thành hiện nay cũng thông báo có nhiều hãng máy đăng ký để sử dụng. Nếu đó là đăng ký một tự nguyện thì tốt và nếu thời gian hoạt động mà có lợi người ta sẽ tăng dần cái chuyến bay tại Long Thành. Còn nếu không có lợi thì số lượng hành khách Long Thành sẽ ít và tôi nghĩ, nếu hay thì nó sẽ tăng từ từ một cách tự nhiên. Với tinh thần đó thì không có gì phải gấp rút. Hiện nay tôi thấy nó vô lý ở chỗ là có vẻ họ vẫn dùng mệnh lệnh nhà nước của thời kỳ mấy chục năm trước. Tôi cho rằng bắt buộc toàn bộ hay phần lớn các chuyến bay quốc tế dời ra Long Thành sẽ gây thiệt hại cho hãng hàng không và gây thiệt hại cho hành khách tại sân bay Tân Sơn Nhất, gây thiệt hại cho nền kinh tế."

    Ngoài ra theo trang mạng The Traveler trong bài viết đăng ngày 23/06/2026, các chuyên gia theo dõi ngành hàng không Việt Nam nhận định “tiến độ dự án Long Thành hiện rất sít sao, hầu như không còn biên độ dự phòng cho các sự cố do thời tiết, tắc nghẽn nguồn cung,  hay thay đổi thiết kế. Dù tiến độ thi công thường được báo cáo dưới dạng phần trăm hoàn thành, giới quan sát cảnh báo rằng những hạng mục phức tạp nhất – bao gồm hoàn thiện nội thất, tích hợp hệ thống và chứng nhận an toàn – vẫn còn ở phía trước và thường tiềm ẩn rủi ro chậm trễ cao hơn.”

    Cũng theo The Traveler, "những lo ngại về nguy cơ chậm tiến độ càng gia tăng do các thách thức về chi phí và công tác đấu thầu (... ). Mặc dù các cơ quan chức năng liên tục khẳng định quyết tâm hoàn thành dự án vào mốc thời gian năm 2026, nhưng ngân sách hạn hẹp cùng các thỏa thuận hợp đồng phức tạp làm tăng khả năng xảy ra tranh chấp, thay đổi thiết kế hoặc các yêu cầu phát sinh; những yếu tố này có thể gây chậm trễ cho một số hạng mục quan trọng của dự án." 

    Số vốn đầu tư lên đến 16  tỷ đôla cho sân bay Long Thành cũng đã bị chỉ trích và ngay chính tổng bí thư Tô Lâm cũng đã nêu vấn đề này trong một bài phát biểu tại một hội nghị ngày 25/02/2026: “Nếu quy mô 16 tỷ đôla thì kinh khủng. Nhưng tôi hỏi có vượt trội hơn được Malaysia và Singapore thì không chứng minh được. Tôi hỏi bao lâu thu hồi được vốn cho nhà nước cũng không trả lời được. Tôi hỏi sân bay Long Thành này mỗi năm đóng góp cho tăng trưởng kinh tế là bao nhiêu cũng không tính toán được.”  Theo ông Tô Lâm, chính vì vậy dự án này dễ "nảy sinh ra lãng phí, tiêu cực, thậm chí thất thoát".

    Theo trang mạng The Traveler, công tác phòng chống tham nhũng cũng làm phức tạp thêm cho dự án. Các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn có thể làm chậm quá trình ra quyết định hoặc phê duyệt do phải rà soát lại hồ sơ, đặc biệt là đối với các hạng mục thay đổi hoặc phát sinh thường xuất hiện ở giai đoạn sau của quá trình thi công. 

    The Traveler cũng ghi nhận hạ tầng kết nối giao thông chưa bắt kịp tiến độ của sân bay mới. Ngay cả khi các hạng mục cốt lõi của sân bay hoàn thành đúng hạn, vẫn còn đó những câu hỏi về khả năng tiếp cận sân bay Long Thành từ TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Nếu hạ tầng giao thông mặt đất không hoàn thiện kịp thời, những hành khách đầu tiên sử dụng sân bay Long Thành có thể phải đối mặt với thời gian di chuyển dài và khó lường, làm giảm đi lợi thế về sự thuận tiện mà sân bay này hứa hẹn mang lại.

    Về phần mình, ông Nguyễn Thiện Tống cũng nhấn mạnh đến những bất cập về kết nối giao thông với sân bay Long Thành:

    "Ngay cả kết nối tốt, nghĩa là có các đường cao tốc, có metro kết nối tốt, thì vẫn là tốn thời gian nếu như xét từ Thành phố Hồ Chí Minh, tạo ra sự bất lợi cho hàng không. Vì khoảng đường xa mà hiện nay kết nối không đầy đủ thì nguy cơ kẹt xe, nguy cơ chậm chuyến bay rất là cao. Không ai bảo đảm được giờ chính xác để đi ra sân bay, cũng như đi về. Đi trễ thì máy bay bay mất mà những hành khách bị kẹt xe và sẽ bị thiệt hại rất lớn.

    Nguy cơ kết nối không tốt làm cho hành khách không sử dụng sân bay có thể đưa đến viễn cảnh sân bay xây dựng hoành tráng mà trở thành lãng phí. Làm metro mà đến năm 2030 mới được hoạt động được, thế thì 3 năm không có phương tiện kết nối metro thì làm sao mà Long Thành thuận lợi được. Đường bộ thì bây giờ mới bắt đầu mở rộng và tốn rất nhiều tiền nhưng không chắc bảo đảm rằng thời gian đi ra Long Thành là vừa phải để không bị trễ chuyến bay.

    Không lo trước kết nối là sai lầm rất lớn khi xây sân bay Long Thành. Và bây giờ đã lỡ như vậy rồi thì càng không nên thúc hối sân bay Long Thành quá nhanh. Nếu mà chậm sân bay Long Thành chừng nào thì kết nối sẽ được thời gian để mà hoàn thiện, để phát triển nhanh lên chừng đó. Hiện nay việc kết nối chưa đầy đủ, tiến độ xây dựng không kịp thời mà thúc hối nhanh là một chuyện rất không hợp lý.

    Rồi xây nhà ga rất là lớn, diện tích quá nhiều. Chưa hết: kế hoạch ban đầu xây một đường băng thôi lại thúc hối để chính phủ ra quyết định làm thêm đường băng thứ nhì nữa là rất là lãng phí. Nói rằng dự phòng nếu trục trặc đường băng thứ nhất thì sử dụng đường băng thứ nhì. Rất là sai. Bởi vì nếu có trục trặc gì trong vấn đề cất cánh thì máy bay nằm đó chờ hoặc hủy chuyến bay. Còn hạ cánh có thể hạ cánh sân bay gần nhất là Tân Sơn Nhất. Không cần phải xây dựng đường băng mà lãng phí. Rất là lạ lùng.

    Phải nói là từ đầu thiết kế một sân bay hoành tráng quy mô lớn như vậy mà không tính toán, để rồi nửa chừng thi công giai đoạn 1 lại bổ sung làm thêm đường băng thứ nhì, quyết định một cách tôi cho rằng rất là cẩu thả, rất là lãng phí."

    Về hệ thống giao thông kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với sân bay Long Thành, ngày 30/06 vừa qua, thành phố Đồng Nai đã khởi công xây dựng hai tuyến đường là Đường vành đai 4 dài hơn 46 km và Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh dài 15,5 km. Nhưng hiện chưa biết khi nào những công trình này sẽ hoàn thành.

    Về metro thì chính quyền TP Hồ Chí Minh đã công bố kế hoạch khởi công tuyến Thủ Thiêm - Sân bay Long Thành trước ngày 02/09, dự kiến đến năm 2030 sẽ hoàn thành. Nhưng ai cũng biết dự án metro rất phức tạp, khó mà bảo đảm tiến độ đề ra. 

    Trước mắt, trục lộ duy nhất đi từ TP Hồ Chí Minh đến sân bay là cao tốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây vẫn thường xuyên bị kẹt xe nghiêm trọng. Hiện giờ đoạn từ TP Hồ Chí Minh đến Long Thành đang được mở rộng.

    Để giảm bớt sự phụ thuộc độc đạo vào trục cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, mạng lưới hạ tầng kết nối xung quanh sân bay cũng đang được các địa phương gấp rút xây dựng, cụ thể là 2 tuyến đường dẫn kết nối trực tiếp T1 và T2 (dài hơn 11 km nối từ QL51 vào đến trung tâm nhà ga sân bay). 

    10 min
  • Ba cuộc điều tra của Mỹ và tác động đến thương mại với Việt Nam

    Việt Nam là đối tượng ba cuộc điều tra chỉ trong vài tháng theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 của Mỹ: sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, theo VOV, Mỹ mở 82 cuộc điều tra phòng vệ thương mại với Việt Nam, đứng đầu các nước điều tra (321 vụ tính đến hết tháng 05/2026). Những biện pháp này có thể dẫn đến “hành động khắc phục” trong bối cảnh thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ không ngừng tăng.

    Tại sao các cuộc điều tra lại được tiến hành vào thời điểm này ? Những biện pháp này của Mỹ sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam, cũng như đến mối quan hệ song phương ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon (Université catholique de Lyon) và Viện Đông Á (IAO), Trường Sư phạm Lyon tại Pháp (Ecole normale supérieure de Lyon).

    RFI : Việt Nam là đối tượng của ba cuộc điều tra của Mỹ (sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ). Tại sao ba cuộc điều tra này lại được tiến hành vào thời điểm này ?

    Laurent Gédéon : Trước tình hình hiện nay, chúng ta nhìn lại một chút diễn biến. Ngày 16/05/2025, sau cuộc họp bộ trưởng APEC lần thứ 31 về thương mại tại Jeju (Hàn Quốc), bộ trưởng Công Thương Việt Nam khi đó là ông Nguyễn Hồng Diên, trưởng đoàn đàm phán Việt Nam, đã đàm phán với đại diện Thương Mại Mỹ Jamieson Greer. Hai bên thông báo đạt được thỏa thuận về các nguyên tắc, cách tiếp cận, định hướng nội dung và kế hoạch đàm phán nhằm hướng tới một hiệp định thương mại song phương.

    Tiếp đó, hai vòng đàm phán kỹ thuật được tổ chức tại Washington vào tháng 05 và tháng 06/2025. Đến tháng 10/2025, Việt Nam và Mỹ công bố bản tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ cho một hiệp định thương mại song phương công bằng và cân bằng.

    Tuy nhiên, sau nhiều tháng đàm phán, hai bên vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Các cuộc đàm phán vẫn bị đình trệ do những bất đồng quan trọng, đặc biệt là về tiếp cận thị trường và thặng dư thương mại rất lớn của Việt Nam với Mỹ, không ngừng gia tăng khi nhiều doanh nghiệp quốc tế chuyển hoạt động sản xuất sang Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Tình hình này càng trở nên đáng lo ngại hơn khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 193 tỷ đô la năm 2025. Tuy nhiên, cán cân thương mại lại mất cân đối khi thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam tăng lên 178,2 tỷ đô la.

    Đây có thể là một trong những yếu tố giải thích cho việc Mỹ mở hai cuộc điều tra đầu tiên nhắm vào Việt Nam vào tháng 03/2026, theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, tập trung vào các hành vi thương mại không công bằng, (tình trạng dư thừa năng lực sản xuất và lao động cưỡng bức).

    Đọc thêmTrước nguy cơ Mỹ áp thuế, Việt Nam trấn áp mạnh nạn vi phạm bản quyền trực tuyến

    Đến ngày 29/05, ông Jamieson Greer thông báo cuộc điều tra thứ ba, cũng dựa trên Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, về chính sách bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam nhằm đánh giá tác động đối với thương mại Mỹ. Cuộc điều tra này có thể tạo cơ sở để Washington áp dụng thêm các biện pháp thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam. Quyết định của ông Greer được đưa ra sau báo cáo thường niên công bố ngày 30/04, trong đó, Việt Nam bị Mỹ chỉ định là « mối quan ngại lớn » và đặc biệt là bị xếp vào nhóm « Ngoại quốc ưu tiên » về quyền sở hữu trí tuệ. Đây là mức đánh giá nghiêm trọng nhất dành cho các quốc gia có những hành động và chính sách gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ.

    Đây là lần đầu tiên sau 13 năm, Việt Nam bị đưa vào nhóm này. Việc bị xếp hạng cũng phản ánh quan điểm của Washington rằng Việt Nam chưa đạt được tiến triển đáng kể trong các cuộc đàm phán nhằm cải thiện việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

    Trong khi Trung Quốc, Ấn Độ, Chilê, Indonesia, Nga và Venezuela chỉ nằm trong « Danh sách giám sát ưu tiên », Việt Nam là quốc gia duy nhất thuộc nhóm « Ngoại quốc ưu tiên ».

    Bối cảnh kinh tế bất lợi và sự chậm trễ trong đàm phán buộc Washington gia tăng áp lực đối với Hà Nội. Cũng có thể do sắp đến cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ (tháng 11/2026), tổng thống Donald Trump cần những chiến thắng, cả về kinh tế lẫn quân sự, để thể hiện với cử tri của ông.

    RFI : Chính quyền Mỹ có thể sẽ đưa ra những biện pháp nào trong trường hợp Việt Nam bị cáo buộc ?

    Laurent Gédéon : Những phân tích trên cho thấy có nhiều khả năngchính quyền Trump sẽ gia tăng sức ép thương mại đối với Việt Nam do nền kinh tế Việt Nam, như đã đề cập, phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Trong bối cảnh đó, tổng thống Mỹ có thể có đủ cơ sở pháp lý để đơn phương áp đặt thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam, với lý do Việt Nam có những hành vi thương mại không công bằng.

    Tuy nhiên, đại diện Thương Mại Mỹ cho biết sẽ tham vấn tổng thống Donald Trump để đánh giá có cần áp dụng các « biện pháp khắc phục » hay không. Ông cũng nhấn mạnh quá trình này có thể kéo dài nhiều tháng. Trong một tuyên bố, ông cũng cho biết sẽ theo dõi liệu Việt Nam có chủ động giải quyết những quan ngại tồn tại lâu nay bằng các biện pháp « bền vững và đủ sức răn đe nhằm ngăn ngừa các vi phạm tương tự trong tương lai » hay không. Điều này cho thấy Hoa Kỳ hiện vẫn ưu tiên đàm phán và muốn duy trì quan hệ với Việt Nam, quốc gia được Washington xem là đối tác quan trọng trong bối cảnh địa-chính trị châu Á đang rất nhạy cảm và phức tạp.

    Đọc thêmViệt Nam có thể đáp ứng các yêu cầu của Mỹ trước khi mối quan hệ thương mại rạn nứt ?

    Cũng có khả năng Washington sẽ gây sức ép để Hà Nội ký Hiệp định Thương mại Đối ứng (Agreement on Reciprocal Trade - ART), tương tự như thỏa thuận giữa Mỹ và Malaysia. Một hiệp định như vậy có thể bao gồm các điều chỉnh về thuế quan, tăng cường hợp tác theo ngành và trong lĩnh vực quy định pháp lý, cũng như mở rộng khả năng tiếp cận thị trường của cả hai bên. Cần lưu ý rằng một trong những hệ quả của các hiệp định ART là tăng cường sự gắn kết giữa các đối tác với Hoa Kỳ, kể cả trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế Mỹ - Trung ngày càng gay gắt.

    Nhìn chung, Mỹ hoàn toàn có khả năng áp dụng các biện pháp bất lợi đối với Việt Nam, đặc biệt là thuế quan, nhưng trước mắt nhiều khả năng là Washington chưa hành động ngay, ưu tiên đàm phán và sẽ chờ.

    RFI : Những cuộc điều tra này, cũng như bất kỳ biện pháp trừng phạt nào nếu có từ Mỹ, có thể sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam ?

    Laurent Gédéon : Nếu các biện pháp trừng phạt được áp dụng, chúng sẽ gây tác động đáng kể đối với Việt Nam.

    Trước tiên, cần nhắc lại kể từ khi Hiệp định Thương mại song phương được ký năm 2000, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam đã tăng mạnh mẽ, từ 1 tỷ đô la năm 2001 lên 193 tỷ đô la năm 2025. Những con số này rất ấn tượng nhưng cần đặt chúng trong bối cảnh tổng thể. Dù Việt Nam đạt thặng dư thương mại song phương rất lớn với Mỹ, lên tới 178 tỷ đô la năm 2025 nhưng hàng hóa Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ (3.400 tỷ đô la) và chiếm khoảng 0,6% GDP của Mỹ. Những yếu tố này cho thấy Washington đang nắm lợi thế trong đàm phán với Hà Nội. Ngược lại, do nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ (khoảng 27% tổng kim ngạch xuất khẩu), các biện pháp trả đũa thương mại từ Washington có thể gây tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam.

    Đọc thêmThương mại : Tách Mỹ hay rời Trung Quốc ? Việt Nam tìm cách cân bằng đôi bên

    Đó cũng là lý do Hà Nội đã phản ứng rất nhanh trước các quan ngại của Mỹ. Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam quyết tâm chống các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Ngày 07/05, chỉ một tuần sau khi Báo cáo của đại diện Thương Mại Mỹ được công bố, chính phủ Việt Nam đã phát động chiến dịch kéo dài một tháng nhằm xử lý các trang web vi phạm bản quyền, hàng giả và hành vi xâm phạm nhãn hiệu, với mục tiêu tăng 20% số vụ truy tố.

    Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam triển khai các biện pháp như vậy. Năm 2025, Hà Nội cũng tiến hành một chiến dịch tương tự ngay sau khi chính quyền Trump công bố mức thuế 46% đối với hàng hóa Việt Nam. Mức thuế này sau đó được giảm xuống còn 20% vào tháng 07/2025 và tiếp tục hạ xuống 10% vào tháng 02/2026 theo phán quyết của Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ.

    RFI : Như ông đã đề cập Việt Nam đã phản ứng thông qua tuyên bố và hành động. Trên thực tế, Việt Nam cần phản ứng và giải quyết tình hình này như thế nào ? Liệu các biện pháp mà Hoa Kỳ thực hiện có ảnh hưởng đến quan hệ giữa hai nước, vốn đã căng thẳng về vấn đề thâm hụt thương mại ?

    Laurent Gédéon : Quan hệ Mỹ - Việt trải qua nhiều biến động trong những tháng gần đây và nguy cơ Washington áp đặt các biện pháp trừng tài chính có thể khiến tình hình thêm phức tạp. Điều này đánh dấu sự thay đổi đáng kể so với năm 2023, dưới thời chính quyền Biden, quan hệ song phương đạt đến đỉnh cao với Đối tác chiến lược toàn diện.

    Dưới thời tổng thống Trump, Washington đảo ngược xu hướng bằng một loạt biện pháp thuế quan. Việt Nam phản đối cách tiếp cận này, đặc biệt là các mức thuế nhắm vào ngành nội thất - lĩnh vực có mức tăng trưởng nhanh và được Hà Nội ưu tiên phát triển.

    Theo phía Việt Nam, chính sách của Washington còn trở nên khó dự đoán do lập trường thiếu nhất quán của ông Trump. Trong khi đó, Việt Nam ở thế bất lợi vì phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sang Mỹ nhưng không có khả đưa ra các cam kết đầu tư lớn vào Mỹ như các nền kinh tế phát triển hơn (Nhật Bản, Hàn Quốc) để đổi lấy những nhượng bộ thương mại.

    Bên cạnh các bất đồng kinh tế, một số yếu tố chiến lược cũng làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ song phương.

    Mùa hè 2025, xuất hiện thông tin Việt Nam ký các hợp đồng lớn với Nga để mua các hệ thống phòng không, phòng thủ trên biển, bất chấp các lệnh trừng phạt quốc tế. Theo điều tra được báo New York Times công bố ngày 27/10/2025, Việt Nam mua của Nga một hệ thống tác chiến điện tử dành cho tiêm kích Su-35, có khả năng gây nhiễu và đánh lạc hướng tên lửa. Tổng trị giá các hợp đồng là khoảng 8 tỷ đô la, bao gồm 40 chiến đấu cơ mới.

    Yếu tố thứ hai là báo cáo của tổ chức phi chính phủ Project88, theo đó các nhà hoạch định quân sự Việt Nam đang bí mật chuẩn bị cho khả năng xảy ra một cuộc xâm lược từ Mỹ và các đồng minh, bất chấp việc hai nước đã nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác chiến lược toàn diện (ngang hàng với thỏa thuận giữa Việt Nam và Nga, Trung Quốc) và xác định Mỹ và Việt Nam là « những đối tác đáng tin cậy gắn kết bởi tình hữu nghị dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau ».

    Báo cáo của Project88 dựa trên một tài liệu nội bộ của Hải Quân Việt Nam trực thuộc bộ Quốc Phòng ban hành ngày 01/08/2024 với tiêu đề Kế hoạch xâm lược thứ hai của Mỹ. Tài liệu nhận định « nguy cơ chiến tranh với Việt Nam hiện còn thấp » nhưng cảnh báo :

    cần cảnh giác trước khả năng Mỹ và các đồng minh tạo ra một "cái cớ" để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.

    Đọc thêmViệt Nam xích lại gần Mỹ nhưng vẫn nuôi ngờ vực chiến lược

    Văn bản cũng bày tỏ lo ngại về khả năng các thế lực bên ngoài kích động nổi dậy nhằm chống lại sự lãnh đạo của Nhà nước. Báo cáo cho rằng trong quá trình tăng cường năng lực răn đe đối với Trung Quốc, Mỹ có thể sử dụng các hình thức chiến tranh phi truyền thống, can thiệp quân sự hoặc thậm chí tiến hành các cuộc xâm lược quy mô lớn nhằm vào những nước bị coi là « rời khỏi quỹ đạo » của Washington. Những diễn biến gần đây tại Venezuela, Iran cũng như những đe dọa đối với Cuba càng làm gia tăng sự cảnh giác của giới lãnh đạo Việt Nam.

    Trong bối cảnh đó, nhiều khả năng Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách cân bằng, duy trì khoảng cách tương đối với Hoa Kỳ. Một dấu hiệu cho thấy xu hướng này là Hội nghị cấp cao "3+3" đầu tiên giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra ngày 16/03 với sự tham dự của các bộ trưởng Công An, Quốc Phòng và Ngoại Giao hai nước. Sau hội nghị, tổng bí thư Tô Lâm đã có cuộc gặp riêng với phái đoàn Trung Quốc. Đây là một mắt xích trong chuỗi tiếp xúc cấp cao giữa Bắc Kinh và Hà Nội kể từ tháng 10/2025, khi ông Tô Lâm gặp thủ tướng Trung Quốc Lý Cường bên lề cuộc duyệt binh tại Bắc Triều Tiên. Cuộc gặp này diễn ra chỉ một tháng sau cuộc gặp đầu tiên giữa ông Tô Lâm và tổng thống Mỹ Donald Trump và cho thấy Hà Nội vẫn mong muốn duy trì quan hệ chặt chẽ với Bắc Kinh nhằm củng cố vị thế của mình trước các sức ép từ Washington.

    RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp.

    Đọc thêmTô Lâm và canh bạc cải cách của Việt Nam trong sóng gió toàn cầu

    12 min
  • Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than

    Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu.

    Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than. 

    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á:

    “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

    Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.” 

    Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.” 

    Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025.

    Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu:

    “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác.

    Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa. 

    Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện.

    Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn…. 

    Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam."

    Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn. 

    Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”. 

    Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải.

    Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận:

    “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết.

    Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam." 

    Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính phủ Hà Nội đã phê duyệt "Đề án cập nhật triển khai tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng" (JETP).   Sau năm 2030, chính phủ yêu cầu không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa với các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm, không thể chuyển đổi nhiên liệu và không thể đáp ứng lộ trình giảm thải khí nhà kính.

    10 min
  • Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

    Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA.

    Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc.

    RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ?

    Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa.

    Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc.

    Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa.

    Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn.

    Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực

    Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực.

    Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng.

    Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác.

    Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng.

    RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ?

    Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương.

    Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất.

    Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng

    Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển.

    Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình.

    Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng.

    RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ?

    Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022.

    ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự.

    Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp.

    Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do

    Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc.

    Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn.

    RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ?

    Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao.

    Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện

    Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện.

    Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp.

    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.

    11 min
  • Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam

    Ngày 07/04/2026, tổng bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước Tô Lâm đã ký quyết định phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới chính thức phê chuẩn Công ước này.

    Công ước mang tên Hà Nội là vì lễ ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2025. Cho tới nay đã có 75 quốc gia ký công ước này. Tuy nhiên, Công ước Hà Nội sẽ chỉ có hiệu lực một khi có đủ 40 quốc gia chính thức phê chuẩn để trở thành thành viên chính thức. 

    Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng trở thành một trong những trung tâm của tội phạm mạng trên thế giới. Trong một bài viết đăng trên mạng ngày 09/03/2026, công ty Okta, chuyên về quản lý danh tính ( Identity Management ), cho biết: “Một hệ sinh thái tội phạm mạng rộng lớn bắt nguồn từ Việt Nam đã được liên kết với các chiến dịch đăng ký tài khoản giả mạo quy mô lớn nhắm vào các nhà cung cấp dịch vụ và nền tảng trực tuyến trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu đã truy tìm hoạt động này đến một cụm cơ sở hạ tầng được đặt tên nội bộ là O-UNC-036, sử dụng địa chỉ email dùng một lần và bot tự động để tạo ra các danh tính kỹ thuật số giả mạo ở quy mô đáng báo động.”

    Theo công ty này, các tội phạm sử dụng những tài khoản trực tuyến gian lận như một cánh cửa để thực hiện các hoạt động tội phạm tài chính, từ thư rác và lừa đảo trực tuyến đến các vụ lừa đảo cá nhân. Các tổ chức tội phạm có tổ chức ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở khu vực gần biên giới Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Cam Bốt dùng những thủ đoạn này để dụ dỗ nạn nhân vào các vụ lừa đảo tiền điện tử, lừa đảo tình cảm và tống tiền tình dục,...

    Các nhà phân tích của Okta đã xác định được một lượng lớn các đăng ký tài khoản đáng ngờ liên kết với nhiều tên miền email dùng một lần, trở thành sợi dây liên kết quan trọng giữa hoạt động này với một thị trường lừa đảo rộng lớn hơn có trụ sở tại Việt Nam. Thiệt hại về tài chính từ hoạt động này là rất lớn. Trong một báo cáo tháng 4/2025, Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) đã chỉ ra rằng thị trường ngầm này hiện có những người chuyên buôn bán bộ công cụ lừa đảo, dữ liệu bị đánh cắp, phần mềm độc hại, công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dịch vụ rửa tiền được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các nạn nhân trên toàn cầu.

    Chính là để phòng chống những hoạt động lừa đảo trực tuyến như trên mà Công ước Hà Nội thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố và hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm mạng.

    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 22/05/2026, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), cho biết Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào cho việc tham gia Công ước Hà Nội :

    "Thứ nhất là Việt Nam đã hoàn thiện khung pháp lý nội địa, đặc biệt là trong các lĩnh vực an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và xử lý chứng cứ điện tử. Có thể nói rằng trong những năm trở lại đây, Quốc Hội của Việt Nam và các cơ quan, trong đó có vai trò rất là lớn bộ Công An Việt Nam, đã điều chỉnh, bổ sung và ban hành các luật, khung pháp lý nội địa rất  kịp thời trong lĩnh vực an ninh mạng và xử lý điện tử, chứng cứ điện tử.

    Thứ hai là Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ trong việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật, đặc biệt là đào tạo chuyên sâu cho các lực lượng điều tra tội phạm công nghệ cao. Song song với đó, đầu tư vào các hệ thống cơ sở hạ tầng số cũng rất là ổn định để kịp thời trước lúc tham gia Công ước Hà Nội.

    Thứ ba là tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các cơ chế song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia. Việt Nam không tham gia Công ước Hà Nội một cách hình thức mà đang từng bước thích nghi với các chuẩn mực toàn cầu về quản trị an ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao."

    Công ước Hà Nội quy định đầy đủ các vấn đề từ hình sự hóa hành vi phạm tội, thẩm quyền điều tra, dẫn độ, tương trợ tư pháp, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân.

    Các hành vi như truy cập trái phép, đánh cắp dữ liệu, gian lận điện tử, tấn công cơ sở hạ tầng trọng yếu, sử dụng không gian mạng để tài trợ khủng bố hay rửa tiền bằng tài sản số đều được định danh rõ ràng. Quan trọng hơn, Công ước tạo ra “chuẩn mực pháp lý chung”, giúp các quốc gia phối hợp hiệu quả trong xử lý các vụ án xuyên biên giới.

    Việc tham gia Công ước giúp Việt Nam có thêm công cụ pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích:

    "Công ước Hà Nội quy định rất toàn diện các vấn đề về hình sự hóa tội phạm mạng, thẩm quyền điều tra, hợp tác quốc tế, dẫn độ, hỗ trợ tư pháp và bảo vệ dữ liệu và cá nhân. Công ước mang lại cho Việt Nam một số công cụ pháp lý rất quan trọng, đáng chú ý ở đây là chia sẻ thông tin và chứng cứ điện tử nhanh hơn giữa các quốc gia. Có thể nói đây là một trong những    yếu tố then chốt trong điều tra tội phạm mạng xuyên biên giới.

    Ngoài ra, Công ước Hà Nội còn hỗ trợ cho phía Việt Nam và các cơ quan tư pháp hình sự của Việt Nam hài hòa các định nghĩa, các cách tiếp cận về pháp lý liên quan đến tội phạm mạng giữa các quốc gia. Thứ hai là tăng cường cơ chế tương trợ tư pháp và dẫn độ khi triển khai Công ước Hà Nội. Thứ ba là Công ước này sẽ hỗ trợ trực tiếp các cuộc điều tra chung.

    Khi được thông qua, Công ước Hà Nội sẽ có thêm cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cụ thể và chính thống để tiến hành các cuộc điều tra chung, thành lập các đội điều tra chung ( investigation teams ) giữa các nước trong khu vực và thế giới, khi phát sinh các yếu tố liên quan đến phòng chống tội phạm mạng, đặc biệt là trong các vụ lừa đảo xuyên quốc gia và rửa tiền kỹ thuật số. Điều này giúp đáng kể khoảng trống pháp lý mà tội phạm mạng thường lợi dụng. Hiện nay không gian mạng rất khó kiểm soát và không có biên giới."

    Những công cụ mới mà Công ước Hà Nội mang lại sẽ tác động như thế nào đến việc phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải dự báo:

    "Ở đây ta có thể tiếp cận từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là tác động của Công ước Hà Nội đối với Việt Nam. Góc độ thứ hai là tác động của Công ước Hà Nội đối với các đối tác của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

    Đầu tiên là trong nước, Công ước Hà Nội sẽ giúp cho Việt Nam, cụ thể là các cơ quan chức năng như bộ Công An hoặc bộ Thông Tin Truyền Thông, chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm mạng, vừa bám theo Công ước Hà Nội, vừa nội hóa các luật nội địa Việt Nam đã ban hành, ví dụ như Luật an ninh mạng và gần đây nhất là luật về trí tuệ nhân tạo AI. Nó sẽ giúp chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm liên quan đến không gian mạng, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thu thập chứng cứ điện tử, thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và bằng chứng trong thực thi pháp luật của các cơ quan ở Việt Nam. 

    Cấp độ thứ hai là với các đối tác của Việt Nam trong khu vực ASEAN, cũng như các nước ngoài ASEAN, trong đó có Úc, Châu Âu, hay Mỹ. Ở cấp độ xuyên quốc gia, tác động sẽ rõ nét hơn. Công ước tạo nền tảng cho việc phối hợp hành động nhanh hơn giữa các quốc gia, đặc biệt là trong việc truy xét dòng tiền, xác định máy chủ và triệt phá các mạng lưới tội phạm hoạt động ở nhiều quốc gia cùng một lúc trên không gian mạng. Tuy nhiên ở đây tôi cũng cần lưu ý rằng hiệu quả thực sự sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ thực thi và niềm tin giữa các quốc gia. Bởi vì xây dựng niềm tin pháp lý, chia sẻ thông tin ở không gian mạng hiện nay có lúc vẫn bị nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đánh giá là những vấn đề nhạy cảm. Việc chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực và ngoài khu vực đều có những hạn chế nhất định. Thậm chí nhiều lúc chưa có sự tin tưởng một cách tuyệt đối."

    Trong việc phòng chống tội phạm mạng, Việt Nam từ nhiều năm qua vẫn có sự hỗ trợ của Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ). Tháng 5/2026, Cảnh sát Liên bang Úc đã phối hợp với bộ Công An Việt Nam và cảnh sát các nước Đông Nam Á khác tổ chức một hội thảo ở Đà Nẵng về nâng cao hợp tác giữa các bên trong lĩnh vực. Là một trong những người tham gia hội thảo, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải cho biết:

    "Hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ) có một hệ thống sĩ quan liên lạc cảnh sát quốc tế phủ rộng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Văn phòng Việt Nam đã mở hơn 20 năm nay. Có thể nói, theo đánh giá của cá nhân tôi, văn phòng đại diện sĩ quan liên lạc cảnh sát Úc ở Việt Nam đã đóng một vai trò rất lớn là một cầu nối quan trọng để kết nối lực lượng thực thi pháp luật của hai nước trong việc cập nhật, trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, xử lý, dẫn độ cũng như giải quyết các vụ án mang tính chất xuyên quốc gia.

    Sự kiện ở Đà Nẵng có ba nội dung trọng tâm mà hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc nâng cao hiệu quả hợp tác với đối tác Việt Nam. Thứ nhất là chia sẻ thông tin tình báo và dữ liệu tội phạm mạng, một trong những điểm rất quan trọng. Hội thảo vừa rồi cũng đánh giá cao sự chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực ASEAN và lực lượng cảnh sát Úc.

    Thứ hai là hỗ trợ đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật ở Việt Nam, thông qua nhiều kênh khác nhau, ví dụ như kênh về chương trình đào tạo quản lý lực lượng thực thi pháp luật khu vực châu Á - Thái Bình Dương, được tổ chức thường niên mỗi năm khoảng hai đến ba khóa, tùy vào các chủ đề liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia. Những năm gần đây ưu tiên đặc biệt là các vụ lừa đảo scam qua mạng ( scam ) rất là nhiều. Qua kênh đào tạo này thì hiện đã có hơn 1000 cán bộ thực thi pháp luật, trong đó có nhiều cán bộ của Việt Nam đã được đào tạo cùng với các nước ASEAN và khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chính điểm thứ hai này đã tạo ra được một lực lượng rất là thiện chiến trong phòng chống tội phạm mạng và các vấn đề liên quan đến an ninh mạng cho phía Việt Nam mà phía Úc đã hỗ trợ.

    Hợp tác thứ ba nữa mà tại diễn đàn này tôi cũng đã tập trung trao đổi, đó là chia sẻ những kinh nghiệm, phương thức, chiến thuật, các hoạt động phối hợp điều tra các vụ án xuyên biên giới, đặc biệt liên quan đến các vụ lừa đảo trực tuyến, rửa tiền số và bóc lột lao động trong các đường dây lừa đảo.

    Có thể nói trong bối cảnh Đông Nam Á đang nổi lên như một điểm nóng của các trung tâm lừa đảo xuyên quốc gia, hợp tác Việt Nam và Cảnh sát Liên bang Úc đóng một cái vai trò quan trọng không chỉ ở khía cạnh thực thi pháp luật, mà còn trong việc chia sẻ các kinh nghiệm thực chiến và xây dựng các chiến lược phòng ngừa mang tính nhất dài hạn."

    10 min
  • Việt Nam : Các đại dự án giúp bảo tồn mục tiêu tăng trưởng 10%?

    “Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao.

    Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ?

    RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada.

    RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ?

    Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn.

    Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia.

    Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai.

    Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử

    Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế.

    Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế.

    Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.

    RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ?

    Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ.

    Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển.

    Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc.

    Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng

    Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa.

    Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường.

    Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu.

    RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào  trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ?

    Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai.

    Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam.

    Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại

    Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn.

    Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á.

    RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ?

    Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn.

    Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên.

    Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD

    Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý.

    Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định.

    RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ?

    Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%.

    Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng.

    Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam

    Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài.

    Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ.

    Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030.

    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada.

    (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026

    12 min
  • Việt Nam mua tên lửa BrahMos của Ấn Độ: Hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận

    Trong khuôn khổ chính sách "Hướng Đông" của Ấn Độ và nhằm đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á, thủ tướng Narendra Modi đã thảo luận với tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm Ấn Độ đầu tháng 5 vừa qua về việc tăng cường hợp tác quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam, bao gồm cả việc bán tên lửa hành trình siêu âm BrahMos cho Hà Nội. 

    Thương vụ bán tên lửa BrahMos cho Việt Nam cũng đã là một trong những chủ đề chính trong chuyến thăm Việt Nam của bộ trưởng Quốc Phòng Rajnath Singh trong hai ngày 18 và 19/05. Theo báo chí Ấn Độ, hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận trị giá 700 triệu đôla để cung cấp tên lửa BrahMos cho Việt Nam. Các cuộc đàm phán được mô tả là đang ở giai đoạn "nâng cao" và thỏa thuận có thể sẽ được ký kết trong những tháng tới.

    Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã đàm phán mua tên lửa siêu thanh BrahMos của Ấn Độ, loại tên lửa mà ít nhất 15 quốc gia khác, nhất là các nước Đông Nam Á, cũng đang quan tâm. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong đó có vấn đề chuyển giao công nghệ, đàm phán giữa Hà Nội và New Delhi đã kéo dài.

    Tên lửa BrahMos ngày càng hấp dẫn với các nước Đông Nam Á là nhờ có hiệu năng vượt trội và khả năng chiến đấu đã được chứng minh. Lần ra mắt trên chiến trường của tên lửa siêu thanh này là trong “Chiến dịch Sindoor” vào tháng 5/2025, chiến dịch quân sự của Ấn Độ chống Pakistan sau một cuộc tấn công của phiến quân ở vùng Kashmir do Ấn Độ quản lý, khiến ít nhất 26 thường dân thiệt mạng. Các cuộc tấn công cho thấy khả năng của BrahMos xuyên thủng hệ thống phòng không chủ động . 

    Trên trang mạng của nhật báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 10/05/2026, Gaurav Kumar, một nhà nghiên cứu tại một viện nghiên cứu quốc phòng của Ấn Độ, cho biết tên lửa BrahMos bay với tốc độ hơn Mach 3. Theo ông Kumar, vận tốc và độ cao tương đối thấp của BrahMos khiến “hệ thống phòng không của đối phương có rất ít thời gian phản ứng. Các hệ thống có thể theo dõi tên lửa này, nhưng việc đánh chặn vẫn cực kỳ khó khăn, đặc biệt là trong các cuộc tấn công hàng loạt.” 

    Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 14/05/2026, nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, cho biết thêm:

    “BrahMos là loại tên lửa đa dụng, tức là không chỉ gắn lên xe phóng ở trên bờ, ta có thể gắn tên lửa lên máy bay chiến đấu. Triển khai máy bay đó ra ngoài bờ biển cũng tạo ra một sức ép rất lớn với đối thủ tiềm tàng, hoặc là đặt trên bờ và di chuyển tên lửa đó đến những vị trí mà mình muốn, tạo ra cái mà Việt Nam gọi là "khả năng răn đe" đối với một đối thủ tiềm tàng nào đó trong trường hợp xung đột xảy ra. 

    Thứ hai là tính hiện đại. Tên lửa này có tốc độ rất cao, Mach 3, tức gấp ba lần vận tốc âm thanh. Công nghệ siêu thanh này Việt Nam chưa có. 

    Thứ ba, quan trọng nhất, là giá thành. Các loại vũ khí tương tự của Nhật hay của Châu Âu có giá tương đối cao, trong khi BrahMos có giá tương đối thấp. Đối với các nước Đông Nam Á có nguồn lực quốc phòng không đủ mạnh, không đủ nhiều, lựa chọn này là một trong những lựa chọn “affordable”, tức là có tính kinh tế nhất, cho việc phát triển và hiện đại hóa năng lực phòng thủ không chỉ của Việt Nam, mà còn của các nước như Philippines, Indonesia, Malaysia, những nước đang có tranh chấp trên biển. 

    Thứ tư, đây là một sản phẩm quốc phòng của Ấn Độ dựa trên công nghệ của Nga. Nếu nói về một trong những loại công nghệ phòng thủ bờ biển vừa hiệu quả mà vừa rẻ tiền, đầu tiên người ta nói tới Nga. Nhưng chiến tranh Ukraina từ 2022 tới nay khiến cho việc tiếp cận công nghệ vũ khí, khí tài của Nga trên thị trường thế giới rất khó.

    Sản phẩm đó của Ấn Độ ngẫu nhiên trở thành lựa chọn hấp dẫn, vì đó là công nghệ Nga nhưng được làm ở Ấn Độ và được đăng ký bản quyền ở Ấn Độ, cho nên sẽ không bị những rào cản về cấm vận, hay bị các nước phương Tây để ý, giúp cho các quốc gia Đông Nam Á tiếp cận một loại công nghệ phòng thủ tốt nhưng rẻ và không vướng vào những khúc mắc liên quan tới cuộc chiến Nga - Ukraina.

    Xét về mặt công nghệ tên lửa hiện nay hầu như toàn bộ các quốc gia Đông Nam Á, chứ không riêng Việt Nam, đều chưa có một loại vũ khí nào có thể đối phó hiệu quả trong một cuộc chiến với Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh xung đột trên các đảo đang tranh chấp ở Biển Đông, một kịch bản giả định một cuộc xâm lược từ hướng biển. Kịch bản này là một trong những kịch bản mà Việt Nam liên tục cập nhật.

    Về các loại vũ khí tàu chiến, ngoài Mỹ, một số nước Châu Âu và Nhật Bản, BrahMos là một lựa chọn tương đối là phù hợp, tuy không phải là phù hợp nhất, đối với các nước Đông Nam Á trong việc cải thiện năng lực phòng thủ bờ biển.”

    Nếu thỏa thuận được ký kết, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia thứ ba sở hữu hệ thống tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos, sau hợp đồng trị giá 375 triệu đô la của Philippines vào năm 2022 và thỏa thuận của Indonesia vào tháng 3/2026 để hoàn tất hợp đồng trị giá ít nhất 340 triệu đô la. Nhưng theo Nguyễn Thế Phương, có một số lý do khiến đàm phán giữa Việt Nam và Ấn Độ về mua tên lửa BrahMos kéo dài:

    “Thật ra hợp đồng BrahMos là hợp đồng mà Việt Nam và Ấn Độ đã đàm phán rất lâu, từ cách đây cũng khoảng 10 năm. Cho tới nay thực tế thì tỷ lệ phần trăm mà Việt Nam có thể mua BrahMos từ Ấn Độ vẫn là 50/50, chứ chưa phải là điều gì chắc chắn cả. Hai bên vẫn đang đàm phán với nhau.

    Có nhiều lý do khiến cho tên lửa này hấp dẫn, nhưng chưa đủ để cho đàm phán đó tiến nhanh.Thứ nhất là Việt Nam hiện đang trong quá trình xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, tự chủ và cho tới nay đã đạt được một số thành tựu nhất định, đặc biệt là đã tự chế tạo được loại tên lửa tạm gọi là “phòng thủ bờ biển”. Cách đây hai năm, Việt Nam cũng đã cho ra mắt một số loại tên lửa nội địa. Đây cũng là một phần khiến cho sự mặn mà của Việt Nam đối với BrahMos chưa phải là cấp thiết lắm.

    Thứ hai là tỷ lệ nội địa hóa của Ấn Độ đối với BrahMos chưa phải là cao. BrahMos là một dự án liên doanh hợp tác chuyển giao công nghệ giữa Ấn Độ và Nga. Ở thời điểm hiện tại, theo một số nguồn tin, tỷ lệ mà Ấn Độ nội địa hóa trong tên lửa BrahMos là vào khoảng 60 tới 70% thôi, còn 30 tới 40% còn lại thì vẫn dựa vào công nghệ của Nga.

    Việt Nam vẫn lo ngại là trong bối cảnh chiến tranh Nga - Ukraina hiện nay, liệu thành phẩm hoàn chỉnh BrahMos có đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ, chiến thuật hay không? Hiện giờ Nga đang bị cấm vận và chính sách quốc phòng của Nga đang hướng nội, tập trung cho việc xây dựng nguồn lực cho cuộc chiến với Ukraina nhiều hơn là hợp tác với nước ngoài. Việt Nam lo ngại nếu nhập khẩu thì liệu hệ thống tên lửa đó có vận hành đúng như những gì mà Việt Nam mong muốn không?

    Ngoài ra còn có những điểm liên quan đến chuyển giao công nghệ nữa. Đây là một trong những điểm mà hai bên chắc đang phải tập trung đàm phán. Đối với Việt Nam hiện nay, một trong những trụ cột của chính sách phát triển quốc phòng và đặc biệt là chính sách phát triển các loại vũ khí là mong muốn được đối tác nước ngoài chuyển giao công nghệ.

    Việc nhập khẩu tên lửa BrahMos có một hàm ý quan trọng là liệu Ấn Độ có cho phép Việt Nam tiếp cận công nghệ động cơ đó hay không? Đây là một điểm khá là khúc mắc, bởi vì thường thì đứng về góc độ của người bán vũ khí, họ sẽ lưỡng lự và cũng rất khó khăn trong quyết định có nên chuyển giao công nghệ cho đối tác nước ngoài không. 

    Việt Nam hiện đang tổ chức lại lực lượng tên lửa và tăng cường hệ thống phòng không, cho nên cũng quan tâm đến các loại tên lửa khác của Ấn Độ, theo lời Nguyễn Thế Phương: 

    Ngoài BrahMos, có thông tin là Việt Nam cũng quan tâm đến các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ và một số loại công nghệ tên lửa đạn đạo trong bối cảnh Việt Nam đang tái cấu trúc lại tên lửa, pháo binh thành Bộ tư lệnh Pháo binh - Tên lửa.

    Trong việc hiện đại hóa năng lực pháo binh cộng với các loại tên lửa đất đối đất tầm ngắn và tầm trung trong tương lai, Ấn Độ là nước có năng lực phát triển tên lửa đối đất thuộc hàng top ở châu Á. Thứ hai là về phòng không, Việt Nam cách đây khoảng một năm đã đưa ra một khái niệm “Vòm phòng không bền vững”, tương tự như "Vòm Sắt" của Israel .

    Nói đến vòm phòng không là nói đến các loại vũ khí liên quan tới phòng không, nhiều tầng nhiều lớp. Đây là mảng hợp tác cũng tương đối tiềm năng giữa Ấn Độ và Việt Nam. Ấn Độ đã phát triển một số loại tên lửa phòng không, mà theo quảng cáo, về mặt lý thuyết tương đối là có năng lực. Nhưng các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ là có công nghệ của Israel.  Trong bối cảnh hiện nay, quan hệ hợp tác Việt Nam và Israel đang chậm lại, vì Israel vướng vào cuộc chiến Gaza, cuộc chiến với Iran, nguồn lực của Israel phải tập trung vào các cuộc chiến đó, khiến cho việc Việt Nam tiếp cận công nghệ của Israel cũng có vấn đề."

    Theo Nguyễn Thế Phương, ngoài việc mua sắm vũ khí, Việt Nam còn cần đến kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc vận hành các loại vũ khí có công nghệ của Nga. Sau chuyến thăm của chủ tịch nước Tô Lâm, Ấn Độ cho biết sẽ tiếp tục giúp Việt Nam huấn luyện thủy thủ tàu ngầm và tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo phi công cũng như kỹ sư vận hành các loại máy bay chiến đấu đang trong biên chế của Việt Nam là Su 27 và Su 30.

    10 min

About Tạp chí Việt Nam

From the publisher's feed

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam

More shows like Tạp chí Việt Nam

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

221 Listeners

 by RFI Tiếng Việt

15 Listeners

VOV - Chương trình Thời sự by Đài Tiếng nói Việt Nam

VOV - Chương trình Thời sự

6 Listeners

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí tiêu điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí tiêu điểm

0 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

VnExpress Podcasts: VnExpress Hôm nay by VnExpress

VnExpress Podcasts: VnExpress Hôm nay

1 Listeners

More Perspectives by Duy Thanh Nguyen

More Perspectives

12 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

Nguyễn Hữu Trí Podcast by Nguyễn Hữu Trí

Nguyễn Hữu Trí Podcast

24 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners

Pháp Thoại Thích Pháp Hòa by Thầy Thích Pháp Hòa

Pháp Thoại Thích Pháp Hòa

0 Listeners