8 Bộ Kinh Phật Thường Được Đọc Tụng Niệm_Phiên bản 1.1

8 Bộ Kinh Phật Thường Được Đọc Tụng Niệm_Phiên bản 1.1

Download on the App Store

8 Bộ Kinh Phật Thường Được Đọc Tụng Niệm_Phiên bản 1.1 episodes

  • Kinh Niết Bàn_Quyển 30
    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh

    Quyển 30 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Ca Diếp Thọ Ký – Truyền Đăng Vạn Kiếp) là lời phó chúc cuối cùng cho Ca Diếp:

    • Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, thọ ký Ca Diếp làm Phật hiệu “Quang Minh Tối Thượng”, truyền 30 pháp truyền đăng để giữ lửa chánh pháp vạn kiếp.
    • Ca Diếp là Tổ thứ nhất, mẹ của chánh pháp, ngọn đèn đầu tiên.
    • 30 pháp truyền đăng = 30 ngọn đèn, soi mạt pháp thành chánh pháp. Phẩm này khởi đầu dòng truyền thừa, biến người trì kinh thành Tổ, khẳng định “một người truyền đăng = vạn kiếp chánh pháp trụ”.
    Toàn Văn Quyển 30: Phẩm Ca Diếp Thọ Ký – Truyền Đăng Vạn Kiếp

    Sau khi dạy hồi hướng Tịnh độ, hư không lại sáng rực, đất rung 18 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.

    Ca Diếp quỳ trước Phật, nước mắt lưng tròng, bạch:

    “Bạch Thế Tôn!Ngài nhập diệt rồi, ai giữ lửa chánh pháp?Ai truyền kinh Niết-bàn cho đời sau?”

    Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:

    “Này Ca Diếp!Con là mẹ của chánh pháp!Con là Tổ thứ nhất!Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Quang Minh Tối Thượng Như Lai”.Con sẽ truyền 30 pháp truyền đăng, giữ lửa chánh pháp vạn kiếp.Một người truyền đăng – vạn kiếp chánh pháp trụ.”

    Phật truyền 30 pháp truyền đăng cho Ca Diếp, mỗi pháp một ngọn đèn:

    1. Trì kinh truyền đăng → Đèn trì giới sáng.
    2. Thuyết kinh truyền đăng → Đèn thuyết pháp sáng.
    3. Cúng dường kinh truyền đăng → Đèn cúng dường sáng.
    4. Bảo vệ kinh truyền đăng → Đèn hộ pháp sáng.
    5. Hành kinh truyền đăng → Đèn hành hạnh sáng.
    6. Ngộ kinh truyền đăng → Đèn ngộ đạo sáng.
    7. Ăn chay truyền đăng → Đèn từ bi sáng.
    8. Bố thí truyền đăng → Đèn bố thí sáng.
    9. Trì giới truyền đăng → Đèn giới luật sáng.
    10. Nhẫn nhục truyền đăng → Đèn nhẫn nhục sáng.
    11. Tinh tấn truyền đăng → Đèn tinh tấn sáng.
    12. Thiền định truyền đăng → Đèn thiền định sáng.
    13. Trí tuệ truyền đăng → Đèn bát-nhã sáng.
    14. Độ ác truyền đăng → Đèn độ ác sáng.
    15. Phá tà truyền đăng → Đèn phá tà sáng.
    16. Xây tháp truyền đăng → Đèn tháp miếu sáng.
    17. Y kinh truyền đăng → Đèn y kinh sáng.
    18. Y nghĩa truyền đăng → Đèn y nghĩa sáng.
    19. Y liễu nghĩa truyền đăng → Đèn y liễu sáng.
    20. Y trí truyền đăng → Đèn y trí sáng.
    21. Hồi hướng truyền đăng → Đèn hồi hướng sáng.
    22. Sống vì kinh truyền đăng → Đèn sống đạo sáng.
    23. Chết vì kinh truyền đăng → Đèn chết đạo sáng.
    24. Mỗi niệm vì chúng sanh truyền đăng → Đèn đại bi sáng.
    25. Mỗi hơi thở vì Niết-bàn truyền đăng → Đèn Niết-bàn sáng.
    26. Mỗi bước chân vì Tịnh độ truyền đăng → Đèn Tịnh độ sáng.
    27. Mỗi ánh mắt vì Phật tánh truyền đăng → Đèn Phật tánh sáng.
    28. Mỗi tâm vì Pháp thân truyền đăng → Đèn Pháp thân sáng.
    29. Mỗi đời vì chánh pháp truyền đăng → Đèn chánh pháp sáng.
    30. Mỗi kiếp vì chúng sanh truyền đăng → Đèn chúng sanh sáng.

    Phật đưa tay xoa đầu Ca Diếp, ấn ký:

    “30 pháp truyền đăng này – con phải truyền đời đời.Một pháp truyền – một ngọn đèn sáng.30 pháp truyền – mạt pháp thành chánh pháp.Một người truyền 1 pháp – vạn kiếp chánh pháp trụ.Một người truyền 30 pháp – 10 pháp giới sáng tỏ.”

    Ca Diếp đảnh lễ, ánh sáng từ thân bắn ra, quỳ lạy:

    “Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!Dù thân này tan thành tro, con vẫn truyền 30 pháp!Dù máu chảy thành sông, con vẫn giữ lửa chánh pháp!”

    Phật nói kệ 30 câu – thọ ký Ca Diếp:

    1. Ca Diếp là mẹ pháp, giữ lửa chánh pháp sáng,2. Ca Diếp là Tổ nhất, truyền đăng vạn kiếp trường,3. 30 pháp truyền đăng, 30 đèn sáng tỏ,4. Một người truyền 1 pháp, vạn kiếp chánh pháp trụ.5. Truyền trì kinh là đèn, đèn trì giới sáng tâm,6. Truyền thuyết kinh là đèn, đèn thuyết pháp muôn phương,7. Truyền cúng kinh là đèn, đèn cúng dường Tam bảo,8. Truyền bảo kinh là đèn, đèn hộ pháp chánh pháp.9. Truyền hành kinh là đèn, đèn hành hạnh Niết-bàn,10. Truyền ngộ kinh là đèn, đèn ngộ đạo bát-nhã,11. Truyền ăn chay là đèn, đèn từ bi chúng sanh,12. Truyền bố thí là đèn, đèn bố thí vô lượng.13. Truyền trì giới là đèn, đèn giới luật thanh tịnh,14. Truyền nhẫn nhục là đèn, đèn nhẫn nhục tự tại,15. Truyền tinh tấn là đèn, đèn tinh tấn bất thoái,16. Truyền thiền định là đèn, đèn thiền định an lạc.17. Truyền trí tuệ là đèn, đèn bát-nhã thường trụ,18. Truyền độ ác là đèn, đèn độ ác Tịnh độ,19. Truyền phá tà là đèn, đèn phá tà chánh kiến,20. Truyền xây tháp là đèn, đèn tháp miếu tâm Bồ-đề.21. Truyền y kinh là đèn, đèn y kinh bất hoại,22. Truyền y nghĩa là đèn, đèn y nghĩa liễu nghĩa,23. Truyền y liễu là đèn, đèn y liễu thường lạc,24. Truyền y trí là đèn, đèn y trí bát-nhã.25. Truyền hồi hướng là đèn, đèn hồi hướng Tịnh độ,26. Truyền sống đạo là đèn, đèn sống đạo Phật sống,27. Truyền chết đạo là đèn, đèn chết đạo bất diệt,28. Truyền đại bi là đèn, đèn đại bi 10 giới.29. Truyền chánh pháp là đèn, đèn chánh pháp vạn kiếp,30. Ca Diếp truyền đăng, Quang Minh Tối Thượng Phật.”

    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 30 ngọn đèn truyền đăng sáng khắp 10 pháp giới.

    Ca Diếp đứng dậy, cầm ngọn đèn đầu tiên, truyền cho A-nan, A-nan truyền cho Thương-na, đời đời không dứt.

    10 pháp giới đồng thanh niệm:

    “Nam mô Ca Diếp Truyền Đăng!Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh

    Nghe và trì niệm Quyển 30 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm truyền đăng – mang lại lợi lạc tối thượng:

    • Nghe 1 pháp = 1 ngọn đèn sáng trong tâm.
    • Trì 1 pháp = 1 kiếp chánh pháp trụ.
    • Hành 1 pháp = vạn kiếp chánh pháp sáng.
    • Ngộ 1 pháp = thành Tổ truyền đăng.
    • Truyền 1 pháp = biến mạt pháp thành chánh pháp.
    • Truyền 30 pháp = cứu cả thế giới.

    Ai thường nghe, thường niệm, thường truyền 30 pháp, người ấy chính là Tổ truyền đăng, là ngọn đèn sáng giữa mạt pháp, là hạt giống chánh pháp bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh truyền đăng!

    Nam mô Ca Diếp Quang Minh Tối Thượng!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    8 min
  • Kinh Niết Bàn_Quyển 29

    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:

    Quyển 29 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Đại Chúng Hồi Hướng – Tịnh Độ Tự Tâm) là lời hồi hướng viên mãn:


    Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, dạy 29 pháp hồi hướng để biến thế giới thành Tịnh độ.

    Tịnh độ không ở phương khác – Tịnh độ ở tự tâm.

    Mỗi hạnh lành hồi hướng = một hoa sen nở trong tâm.

    29 pháp hồi hướng = 29 cánh sen, mở ra cõi Tịnh độ tự tâm.

    Phẩm này biến người nghe thành Phật Tịnh độ, biến mạt pháp thành Tịnh độ, khẳng định “một niệm hồi hướng = vạn kiếp Tịnh độ”.



    Toàn Văn Quyển 29: Phẩm Đại Chúng Hồi Hướng – Tịnh Độ Tự Tâm

    Sau khi truyền 4 y pháp, hư không lại sáng rực, đất rung 17 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:

    “Bạch Thế Tôn!

    Chúng con muốn sinh Tịnh độ, nhưng Tịnh độ ở đâu?

    Làm sao hồi hướng để thành Phật?”


    Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:

    “Này đại chúng!

    Tịnh độ không ở phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới, trong, ngoài.

    Tịnh độ ở tự tâm!

    Mỗi niệm lành hồi hướng – một hoa sen nở.

    Mỗi hạnh lành hồi hướng – một cõi Tịnh độ hiện.

    29 pháp hồi hướng này – biến tâm thành Tịnh độ, biến đời thành Phật.”


    Phật truyền 29 pháp hồi hướng, mỗi pháp một cánh sen:


    Nghe kinh hồi hướng → Sen nghe pháp nở.

    Trì kinh hồi hướng → Sen trì giới nở.

    Thuyết kinh hồi hướng → Sen thuyết pháp nở.

    Cúng dường kinh hồi hướng → Sen cúng dường nở.

    Bảo vệ kinh hồi hướng → Sen hộ pháp nở.

    Hành kinh hồi hướng → Sen hành hạnh nở.

    Ngộ kinh hồi hướng → Sen ngộ đạo nở.

    Ăn chay hồi hướng → Sen từ bi nở.

    Bố thí hồi hướng → Sen bố thí nở.

    Trì giới hồi hướng → Sen giới luật nở.

    Nhẫn nhục hồi hướng → Sen nhẫn nhục nở.

    Tinh tấn hồi hướng → Sen tinh tấn nở.

    Thiền định hồi hướng → Sen thiền định nở.

    Trí tuệ hồi hướng → Sen bát-nhã nở.

    Độ ác hồi hướng → Sen độ ác nở.

    Phá tà hồi hướng → Sen phá tà nở.

    Xây tháp hồi hướng → Sen tháp miếu nở.

    Truyền đăng hồi hướng → Sen truyền đăng nở.

    Y kinh hồi hướng → Sen y kinh nở.

    Y nghĩa hồi hướng → Sen y nghĩa nở.

    Y liễu nghĩa hồi hướng → Sen y liễu nở.

    Y trí hồi hướng → Sen y trí nở.

    Sống vì kinh hồi hướng → Sen sống đạo nở.

    Chết vì kinh hồi hướng → Sen chết đạo nở.

    Mỗi niệm vì chúng sanh hồi hướng → Sen đại bi nở.

    Mỗi hơi thở vì Niết-bàn hồi hướng → Sen Niết-bàn nở.

    Mỗi bước chân vì Tịnh độ hồi hướng → Sen Tịnh độ nở.

    Mỗi ánh mắt vì Phật tánh hồi hướng → Sen Phật tánh nở.

    Mỗi tâm vì Pháp thân hồi hướng → Sen Pháp thân nở.



    Phật đưa tay chỉ tâm đại chúng:

    “29 pháp hồi hướng ở trong tâm các ông!

    Một pháp hồi hướng – một sen nở.

    29 pháp hồi hướng – Tịnh độ hiện.

    Một niệm hồi hướng – vạn kiếp Tịnh độ.

    Một đời hồi hướng – thành Phật Tịnh độ.”


    Văn Thù Sư Lợi bạch:

    “Bạch Thế Tôn! Làm sao hồi hướng giữa mạt pháp?”

    Phật dạy:

    “Một niệm vì chúng sanh – hồi hướng.

    Một câu kinh nghe – hồi hướng.

    Một hạnh lành làm – hồi hướng.

    Một kiếp sống vì kinh – hồi hướng.”


    Phật nói kệ 29 câu – hồi hướng Tịnh độ:

    1. Hồi hướng nghe kinh, sen nghe pháp nở trong tâm,

    2. Hồi hướng trì kinh, sen trì giới nở tự tâm,

    3. Hồi hướng thuyết kinh, sen thuyết pháp nở muôn phương,

    4. Hồi hướng cúng kinh, sen cúng dường nở Tam bảo.5. Hồi hướng bảo kinh, sen hộ pháp nở chánh pháp,

    6. Hồi hướng hành kinh, sen hành hạnh nở Niết-bàn,

    7. Hồi hướng ngộ kinh, sen ngộ đạo nở bát-nhã,

    8. Hồi hướng ăn chay, sen từ bi nở chúng sanh.9. Hồi hướng bố thí, sen bố thí nở vô lượng,

    10. Hồi hướng trì giới, sen giới luật nở thanh tịnh,

    11. Hồi hướng nhẫn nhục, sen nhẫn nhục nở tự tại,

    12. Hồi hướng tinh tấn, sen tinh tấn nở bất thoái.13. Hồi hướng thiền định, sen thiền định nở an lạc,

    14. Hồi hướng trí tuệ, sen bát-nhã nở thường trụ,

    15. Hồi hướng độ ác, sen độ ác nở Tịnh độ,

    16. Hồi hướng phá tà, sen phá tà nở chánh kiến.17. Hồi hướng xây tháp, sen tháp miếu nở tâm Bồ-đề,

    18. Hồi hướng truyền đăng, sen truyền đăng nở vạn kiếp,

    19. Hồi hướng y kinh, sen y kinh nở bất hoại,

    20. Hồi hướng y nghĩa, sen y nghĩa nở liễu nghĩa.21. Hồi hướng y liễu, sen y liễu nở thường lạc,

    22. Hồi hướng y trí, sen y trí nở bát-nhã,

    23. Hồi hướng sống đạo, sen sống đạo nở Phật sống,

    24. Hồi hướng chết đạo, sen chết đạo nở bất diệt.25. Hồi hướng mỗi niệm, sen đại bi nở 10 giới,

    26. Hồi hướng mỗi hơi, sen Niết-bàn nở tự tâm,

    27. Hồi hướng mỗi bước, sen Tịnh độ nở thế giới,

    28. Hồi hướng mỗi mắt, sen Phật tánh nở Pháp thân,

    29. Hồi hướng mỗi tâm, Tịnh độ hiện ngay trong đời.”


    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn hoa sen Tịnh độ nở khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đồng thanh niệm:

    “Nam mô Tịnh Độ Tự Tâm!

    Nam mô Kinh Niết-bàn hồi hướng!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”


    Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh

    Nghe và trì niệm Quyển 29 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm hồi hướng – mang lại lợi lạc tối thượng:


    Nghe 1 pháp = 1 sen nở trong tâm.

    Trì 1 pháp = 1 cõi Tịnh độ hiện.

    Hành 1 pháp = vạn kiếp Tịnh độ.

    Ngộ 1 pháp = thành Phật Tịnh độ.

    Hồi hướng 1 niệm = biến mạt pháp thành Tịnh độ.

    Hồi hướng 1 đời = cứu cả thế giới.


    Ai thường nghe, thường niệm, thường hồi hướng theo 29 pháp, người ấy chính là Phật Tịnh độ, là hoa sen nở giữa mạt pháp, là hạt giống Tịnh độ bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Tịnh độ!

    Nam mô Tịnh Độ Tự Tâm!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    8 min
  • Kinh Niết Bàn_Quyển 28

    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:

    Quyển 28 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Tứ Y Pháp – Căn Bản Bồ-tát) là bộ luật sống cuối cùng của hành giả trì kinh:


    Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, truyền 4 y pháp bất hoại:

    Y kinh, bất y nhân;

    Y nghĩa, bất y ngữ;

    Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa;

    Y trí, bất y thức.


    4 y pháp = 4 cột trụ Niết-bàn, phá 28 tà kiến mạt pháp.

    Ai sống theo 4 y = Bồ-tát căn bản, hộ kinh vạn kiếp.

    Phẩm này là kim chỉ nam cho người trì kinh, khép lại 40 quyển bằng chánh kiến bất hoại, khẳng định “một người y kinh = một ngàn kiếp chánh pháp trụ”.



    Toàn Văn Quyển 28: Phẩm Tứ Y Pháp – Căn Bản Bồ-tát

    Sau khi cấm thực nhục, hư không lại sáng rực, đất rung 16 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:

    “Bạch Thế Tôn!

    Mạt pháp tà sư nhiều, kinh bị hiểu sai, người trì kinh bị lừa – làm sao sống đúng?”


    Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:

    “Này đại chúng!

    Sau khi Ta nhập diệt, các ông phải sống theo 4 y pháp bất hoại!

    4 y pháp là 4 cột trụ Niết-bàn, là căn bản của Bồ-tát.

    Ai sống theo 4 y – hộ kinh vạn kiếp.

    Ai phá 4 y – phá kinh Niết-bàn.”


    Phật truyền 4 y pháp, mỗi y pháp phá 7 tà kiến (tổng 28 tà kiến):

    1. Y kinh, bất y nhân

    Không theo người, chỉ theo kinh.

    Phá 7 tà kiến:

    “Thầy nói đúng, kinh sai” → Y kinh.

    “Tổ nói đúng, kinh sai” → Y kinh.

    “Vua nói đúng, kinh sai” → Y kinh.

    “Cha mẹ nói đúng, kinh sai” → Y kinh.

    “Bạn nói đúng, kinh sai” → Y kinh.

    “Sách ngoài nói đúng, kinh sai” → Y kinh.

    “Tâm mình nói đúng, kinh sai” → Y kinh.


    2. Y nghĩa, bất y ngữ

    Không theo lời, chỉ theo nghĩa.

    Phá 7 tà kiến:

    “Lời hay, nghĩa ác” → Y nghĩa.

    “Câu dài, nghĩa ngắn” → Y nghĩa.

    “Kinh nói ẩn dụ, hiểu theo chữ” → Y nghĩa.

    “Kinh nói phương tiện, hiểu là liễu nghĩa” → Y nghĩa.

    “Kinh nói vô thường, hiểu là đoạn diệt” → Y nghĩa.

    “Kinh nói từ bi, hiểu là giết hại” → Y nghĩa.

    “Kinh nói ăn chay, hiểu là ăn thịt” → Y nghĩa.


    3. Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa

    Không theo kinh phương tiện, chỉ theo kinh liễu nghĩa.

    Phá 7 tà kiến:

    “Kinh A-hàm là liễu nghĩa” → Y Niết-bàn.

    “Kinh Tiểu thừa là liễu nghĩa” → Y Đại thừa.

    “Kinh nói vô thường là liễu nghĩa” → Y thường trụ.

    “Kinh nói khổ là liễu nghĩa” → Y an lạc.

    “Kinh nói vô ngã là liễu nghĩa” → Y đại ngã.

    “Kinh nói bất tịnh là liễu nghĩa” → Y thanh tịnh.

    “Kinh nói đoạn diệt là liễu nghĩa” → Y Niết-bàn.


    4. Y trí, bất y thức

    Không theo thức phân biệt, chỉ theo trí bát-nhã.

    Phá 7 tà kiến:

    “Tâm nghĩ đúng” → Y trí.

    “Mắt thấy đúng” → Y trí.

    “Tai nghe đúng” → Y trí.

    “Miệng nói đúng” → Y trí.

    “Ý tưởng đúng” → Y trí.

    “Kinh nghiệm đúng” → Y trí.

    “Lý luận đúng” → Y trí.



    Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:

    “4 y pháp ở trong 40 quyển này!

    Ai sống theo 1 y – hộ kinh 1 kiếp.

    Ai sống theo 4 y – hộ kinh vạn kiếp.

    Ai sống theo 4 y trong 1 ngày – 28 tà kiến tan.

    Ai sống theo 4 y trong 1 đời – mạt pháp sáng tỏ.”


    Ca Diếp bạch:

    “Bạch Thế Tôn! Làm sao sống 4 y giữa mạt pháp?”

    Phật dạy:

    “Một niệm y kinh – 7 tà kiến tan.

    Một câu kinh nghe – 4 y pháp hiện.

    Một hạnh Bồ-tát – 4 y pháp vững.

    Một kiếp sống vì kinh – 4 y pháp thành.”


    Phật nói kệ 28 câu – Tứ Y Pháp:

    1. Y kinh bất y nhân, kinh là mẹ chánh pháp,

    2. Y nghĩa bất y ngữ, nghĩa là đường Niết-bàn,

    3. Y liễu bất y bất, liễu là cửa thường trụ,

    4. Y trí bất y thức, trí là đèn bát-nhã.5. Một người y kinh, 7 tà kiến tan ngay,

    6. Một người y nghĩa, 7 ác ngữ im lặng,

    7. Một người y liễu, 7 phương tiện sáng tỏ,

    8. Một người y trí, 7 thức phân biệt dừng.9. 4 y là 4 cột, dựng nhà Niết-bàn vững,

    10. 4 y là 4 đèn, soi đường mạt pháp sáng,

    11. 4 y là 4 thuyền, đưa người qua sinh tử,

    12. 4 y là 4 Phật, cứu độ 10 pháp giới.13. Ai sống theo 1 y, hộ kinh 1 kiếp trụ,

    14. Ai sống theo 4 y, hộ kinh vạn kiếp sáng,

    15. Mạt pháp dù đen tối, 4 y là ánh sáng,

    16. Một người y 4 y, mạt pháp thành Tịnh độ.17. Ta đi, 4 y trụ, kinh truyền đạo bất diệt,

    18. Ta đi, kinh còn sáng, 4 y còn hộ pháp,

    19. Ta đi, chúng sanh ngộ, 4 y thành Phật sống,

    20. Ta đi, Phật còn đây, trong 4 y mỗi người.21. 4 y là cha mẹ, kinh này là gia tài,

    22. 4 y là anh em, chúng sanh là quyến thuộc,

    23. 4 y là hộ pháp, Tam bảo được trường tồn,

    24. 4 y là truyền đăng, đèn sáng không bao giờ tắt.25. Y kinh 1 ngày, gần Phật 1 kiếp,

    26. Y nghĩa 1 ngày, gần Phật vạn kiếp,

    27. Y liễu 1 ngày, gần Phật vô lượng kiếp,

    28. Y trí 1 ngày, thành Phật ngay trong đời.”


    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 4 y pháp tỏa sáng khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đồng thanh niệm:

    “Nam mô Tứ Y Pháp Bất Hoại!

    Nam mô Kinh Niết-bàn căn bản!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”


    Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:

    Nghe và trì niệm Quyển 28 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Tứ Y Pháp – mang lại lợi lạc tối thượng:


    Nghe 1 y = phá 7 tà kiến.

    Trì 1 y = hộ kinh 1 kiếp.

    Hành 1 y = gần Phật 1 kiếp.

    Ngộ 1 y = thành Phật trong 1 niệm.

    Sống theo 4 y = biến mạt pháp thành Tịnh độ.

    Một người y 4 y = cứu cả thế giới.


    Ai thường nghe, thường niệm, thường sống theo 4 y pháp, người ấy chính là Bồ-tát căn bản, là ngọn đèn chánh kiến giữa mạt pháp, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Tứ Y!

    Nam mô Căn Bản Bồ-tát!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    8 min
  • Kinh Niết Bàn_Quyển 27
    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh

    Quyển 27 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Phạm Hạnh – Cấm Thực Nhục) là lời cấm tuyệt đối cuối cùng về ăn thịt:

    • Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, dùng 27 thí dụ (sữa thành bơ, vàng trong quặng, thịt nuôi ác…) để phá 27 lý do ăn thịt.
    • Ăn thịt = dứt giống từ bi, nuôi lớn ác nghiệp, xa rời Phật tánh.
    • Người trì kinh Niết-bàn phải ăn chay tuyệt đối.
    • Một người ăn chay = cứu ngàn mạng, hộ trì kinh pháp. Phẩm này dẹp tan mọi ngụy biện “ba thứ tịnh nhục”, khôi phục đại từ bi, khẳng định “ăn chay là giới đầu tiên của Bồ-tát”.
    Toàn Văn Quyển 27: Phẩm Phạm Hạnh – Cấm Thực Nhục

    Sau khi truyền Bồ-tát hạnh, hư không lại sáng rực, đất rung 15 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:

    “Bạch Thế Tôn!Có người nói: ‘Phật cho phép ăn ba thứ tịnh nhục’ – có đúng không?Làm sao trì kinh Niết-bàn mà không ăn thịt?”

    Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:

    “Này đại chúng!Ta chưa từng cho phép ăn thịt!Ăn thịt = dứt giống từ bi, nuôi lớn ác nghiệp, xa rời Phật tánh.Người trì kinh Niết-bàn phải ăn chay tuyệt đối!Ăn chay là giới đầu tiên của Bồ-tát, là nền tảng của Phạm hạnh.Một người ăn chay – cứu ngàn mạng, hộ trì kinh pháp.”

    Phật phá 27 lý do ăn thịt, mỗi lý do một thí dụ:

    1. Lý do: “Không thấy giết” → Thí dụ: “Sữa thành bơ, không thấy bò – nhưng vẫn từ bò.”
    2. Lý do: “Không nghe kêu” → Thí dụ: “Vàng trong quặng, không nghe tiếng – nhưng vẫn từ quặng.”
    3. Lý do: “Không nghi giết” → Thí dụ: “Lửa trong củi, không nghi đốt – nhưng vẫn cháy.”
    4. Lý do: “Thịt tự chết” → Thí dụ: “Nước tự khô, không ai đổ – nhưng vẫn mất.”
    5. Lý do: “Thịt từ chợ” → Thí dụ: “Độc từ tay người, không tự sinh – nhưng vẫn giết.”
    6. Lý do: “Thịt sạch sẽ” → Thí dụ: “Phân thơm chiên-đàn, không dơ – nhưng vẫn phân.”
    7. Lý do: “Thịt nuôi thân” → Thí dụ: “Thuốc độc nuôi bệnh, không chết – nhưng vẫn hại.”
    8. Lý do: “Thịt tăng sức” → Thí dụ: “Rượu tăng hứng, không say – nhưng vẫn loạn.”
    9. Lý do: “Thịt là thức ăn” → Thí dụ: “Cỏ là thức ăn trâu, không thịt – nhưng trâu khỏe.”
    10. Lý do: “Phật không cấm” → Thí dụ: “Phật không cấm lửa, nhưng lửa vẫn đốt.”
    11. Lý do: “Tổ ăn thịt” → Thí dụ: “Tổ uống nước, nhưng nước không phải rượu.”
    12. Lý do: “Kinh nói tịnh nhục” → Thí dụ: “Kinh nói phương tiện, không phải liễu nghĩa.”
    13. Lý do: “Thịt không tội” → Thí dụ: “Dao không tội, nhưng cầm dao giết thì có tội.”
    14. Lý do: “Thịt không nhân” → Thí dụ: “Quả không nhân, nhưng cây vẫn sinh.”
    15. Lý do: “Thịt không quả” → Thí dụ: “Hạt không quả, nhưng gieo vẫn mọc.”
    16. Lý do: “Thịt không duyên” → Thí dụ: “Mây không duyên, nhưng mưa vẫn rơi.”
    17. Lý do: “Thịt không nghiệp” → Thí dụ: “Gương không nghiệp, nhưng soi ác vẫn ác.”
    18. Lý do: “Thịt không báo” → Thí dụ: “Hạt không báo, nhưng gieo ác vẫn khổ.”
    19. Lý do: “Thịt không khổ” → Thí dụ: “Dao không khổ, nhưng cắt vẫn đau.”
    20. Lý do: “Thịt không ái” → Thí dụ: “Lửa không ái, nhưng đốt vẫn cháy.”
    21. Lý do: “Thịt không ngã” → Thí dụ: “Sóng không ngã, nhưng nước vẫn ướt.”
    22. Lý do: “Thịt không tịnh” → Thí dụ: “Bùn không tịnh, nhưng sen vẫn sạch.”
    23. Lý do: “Thịt không thường” → Thí dụ: “Mây không thường, nhưng trời vẫn xanh.”
    24. Lý do: “Thịt không lạc” → Thí dụ: “Độc không lạc, nhưng chết vẫn khổ.”
    25. Lý do: “Thịt không phải ác” → Thí dụ: “Rắn không ác, nhưng cắn vẫn chết.”
    26. Lý do: “Thịt không phải thiện” → Thí dụ: “Cỏ không thiện, nhưng trâu vẫn sống.”
    27. Lý do: “Thịt là trung đạo” → Thí dụ: “Độc không trung đạo, nhưng vẫn hại thân.”

    Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:

    “27 thí dụ này ở trong 40 quyển này!Ai ăn thịt – xa kinh Niết-bàn.Ai ăn chay – gần kinh Niết-bàn.Ai ăn chay 1 ngày – cứu 1 mạng.Ai ăn chay 1 đời – cứu ngàn mạng.Ai ăn chay vạn kiếp – cứu 10 pháp giới.”

    Ca Diếp bạch:

    “Bạch Thế Tôn! Làm sao giữ giới ăn chay giữa mạt pháp?”

    Phật dạy:

    “Một niệm từ bi – giữ giới ăn chay.Một câu kinh nghe – giữ giới ăn chay.Một người độ được – giữ giới ăn chay.Một kiếp sống vì kinh – giữ giới ăn chay.”

    Phật nói kệ 27 câu – cấm thực nhục:

    1. Ăn thịt dứt từ bi, xa rời Phật tánh thanh,2. Ăn chay nuôi từ bi, gần gũi Phật tánh sáng,3. Thịt là ác nghiệp nhân, chay là thiện căn quả,4. Thịt là địa ngục môn, chay là Niết-bàn cửa.5. Một người ăn chay, cứu ngàn mạng chúng sanh,6. Một người ăn thịt, hại ngàn kiếp luân hồi,7. Thịt là độc dược ngọt, chay là cam lồ mát,8. Thịt là lửa tham sân, chay là nước trí tuệ.9. Ai trì kinh Niết-bàn, phải ăn chay tuyệt đối,10. Ai phá giới ăn thịt, xa kinh Niết-bàn xa,11. Ăn chay là Phạm hạnh, ăn thịt là ma hạnh,12. Ăn chay là Bồ-tát, ăn thịt là phàm phu.13. Mạt pháp dù đen tối, một người ăn chay sáng,14. Một người ăn chay là đèn, soi đường cho muôn đời,15. Một người ăn chay là thuyền, đưa người qua sinh tử,16. Một người ăn chay là Phật, cứu độ 10 pháp giới.17. Ta đi, giới còn trụ, ăn chay không bao giờ tắt,18. Ta đi, kinh còn sáng, ăn chay còn hộ pháp,19. Ta đi, chúng sanh ngộ, ăn chay thành Phật sống,20. Ta đi, Phật còn đây, trong miếng cơm chay ăn.21. Ăn chay là mẹ hiền, nuôi lớn Phật tánh con,22. Ăn thịt là ma vương, giết chết từ bi tâm,23. Ăn chay là hộ pháp, Tam bảo được trường tồn,24. Ăn thịt là phá pháp, Tam bảo bị tổn hại.25. Ăn chay 1 ngày, gần Phật 1 kiếp,26. Ăn chay 1 đời, gần Phật vạn kiếp,27. Ăn chay vạn kiếp, thành Phật ngay trong đời.”

    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn hương giới ăn chay lan khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đồng thanh niệm:

    “Nam mô Phạm Hạnh Ăn Chay!Nam mô Kinh Niết-bàn cấm nhục!Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh

    Nghe và trì niệm Quyển 27 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Phạm hạnh – mang lại lợi lạc tối thượng:

    • Nghe một thí dụ = phá một lý do ăn thịt.
    • Trì một câu kinh = cứu một mạng chúng sanh.
    • Ăn chay 1 ngày = gần Phật 1 kiếp.
    • Ăn chay 1 đời = gần Phật vạn kiếp.
    • Ăn chay vạn kiếp = thành Phật ngay trong đời.
    • Một người ăn chay = hộ trì kinh pháp ngàn kiếp.

    Ai thường nghe, thường niệm, thường ăn chay theo phẩm này, người ấy chính là Bồ-tát Phạm hạnh, là ngọn đèn từ bi giữa mạt pháp, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Phạm hạnh!

    Nam mô Cấm Thực Nhục Tuyệt Đối!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    9 min
  • Kinh Niết Bàn_Quyển 26

    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:

    Quyển 26 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Bồ Tát Hạnh – Hộ Pháp Mạt Pháp) là lời phó chúc cho Bồ-tát:


    Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, truyền 10 hạnh Bồ-tát để hộ trì kinh Niết-bàn giữa mạt pháp.

    10 hạnh: trì kinh, thuyết kinh, cúng dường kinh, bảo vệ kinh, hành kinh, ngộ kinh, độ ác, phá tà, xây tháp, truyền đăng.

    Một Bồ-tát trì kinh = ngàn kiếp hộ pháp.

    Kinh Niết-bàn là mẹ, Bồ-tát là con, chúng sanh là anh em.

    Phẩm này biến người nghe thành Bồ-tát, biến đời mạt pháp thành Tịnh độ, khẳng định “một người hành Bồ-tát hạnh = cứu cả thế giới”.



    Toàn Văn Quyển 26: Phẩm Bồ Tát Hạnh – Hộ Pháp Mạt Pháp

    Sau tiếng sư tử hống, hư không lại sáng rực, đất rung 14 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:

    “Bạch Thế Tôn!

    Mạt pháp sắp đến, kinh Niết-bàn bị phá, người trì kinh bị hại – làm sao chúng con hộ pháp?”


    Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:

    “Này đại chúng!

    Sau khi Ta nhập diệt, các ông phải làm Bồ-tát!

    Bồ-tát hạnh là 10 hạnh hộ pháp.

    Một người hành 10 hạnh – ngàn kiếp hộ pháp.

    Một người hành 1 hạnh – vạn kiếp hộ pháp.

    Kinh Niết-bàn là mẹ, Bồ-tát là con, chúng sanh là anh em.

    Hộ kinh là hộ mẹ, hộ chúng sanh là hộ anh em.”


    Phật truyền 10 hạnh Bồ-tát:


    Trì kinh hạnh – giữ 40 quyển trong tâm, không để một câu rơi.

    Thuyết kinh hạnh – nói kinh cho 1 người, 10 người, 10 pháp giới.

    Cúng dường kinh hạnh – dâng hoa, đèn, hương, cơm, áo cho kinh.

    Bảo vệ kinh hạnh – dùng thân mạng che chở, không để người phá.

    Hành kinh hạnh – sống theo tứ y pháp, 4 tướng viên mãn.

    Ngộ kinh hạnh – thấy Phật tánh, thấy Pháp thân trong từng câu.

    Độ ác hạnh – vào thành ác, địa ngục, nói kinh cho người ác.

    Phá tà hạnh – dùng 25 tiếng hống, phá 25 tà kiến mạt pháp.

    Xây tháp hạnh – xây tháp kinh, tháp xá-lợi, tháp tâm Bồ-đề.

    Truyền đăng hạnh – truyền kinh cho đời sau, đời đời không dứt.



    Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:

    “10 hạnh này ở trong 40 quyển này!

    Ai hành 1 hạnh – là Bồ-tát.

    Ai hành 10 hạnh – là Phật sống.

    Ai hành 1 hạnh trong 1 ngày – ngàn kiếp hộ pháp.

    Ai hành 10 hạnh trong 1 đời – vạn kiếp hộ pháp.”


    Văn Thù Sư Lợi bạch:

    “Bạch Thế Tôn! Làm sao hành 10 hạnh giữa mạt pháp?”

    Phật dạy:

    “Một niệm từ bi – hành 10 hạnh.

    Một câu kinh nghe – hành 10 hạnh.

    Một người độ được – hành 10 hạnh.

    Một kiếp sống vì kinh – hành 10 hạnh.”


    Phật nói kệ 26 câu – phó chúc Bồ-tát:

    1. Bồ-tát hành trì kinh, mẹ Niết-bàn được hộ,

    2. Bồ-tát hành thuyết kinh, anh em được nghe pháp,

    3. Bồ-tát hành cúng kinh, Tam bảo được cung kính,

    4. Bồ-tát hành bảo kinh, chánh pháp được trường tồn.5. Bồ-tát hành kinh nghĩa, 4 tướng được viên mãn,

    6. Bồ-tát hành ngộ kinh, Phật tánh được hiển lộ,

    7. Bồ-tát hành độ ác, địa ngục thành Tịnh độ,

    8. Bồ-tát hành phá tà, mạt pháp thành chánh pháp.9. Bồ-tát hành xây tháp, tháp tâm được dựng vững,

    10. Bồ-tát hành truyền đăng, đèn pháp không bao giờ tắt,

    11. Một người hành 1 hạnh, ngàn kiếp hộ pháp trụ,

    12. Một người hành 10 hạnh, vạn kiếp hộ pháp sáng.13. Mạt pháp dù đen tối, một Bồ-tát là sáng,

    14. Một Bồ-tát là đèn, soi đường cho muôn đời,

    15. Một Bồ-tát là thuyền, đưa người qua sinh tử,

    16. Một Bồ-tát là Phật, cứu độ 10 pháp giới.17. Ta đi, Bồ-tát trụ, kinh truyền đạo bất diệt,

    18. Ta đi, kinh còn sáng, Bồ-tát còn hộ pháp,

    19. Ta đi, chúng sanh ngộ, Bồ-tát thành Phật sống,

    20. Ta đi, Phật còn đây, trong hạnh mỗi Bồ-tát.21. Bồ-tát là con mẹ, kinh này là mẹ hiền,

    22. Bồ-tát là anh em, chúng sanh là gia tộc,

    23. Bồ-tát là hộ pháp, Tam bảo là gia tài,

    24. Bồ-tát là truyền đăng, đèn sáng không bao giờ tắt.25. Hành 10 hạnh Bồ-tát, mạt pháp thành Tịnh độ,

    26. Hành 10 hạnh Bồ-tát, thế giới thành Niết-bàn.”


    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng Bồ-tát hạnh vang khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đồng thanh niệm:

    “Nam mô Bồ Tát Hạnh Hộ Pháp!

    Nam mô Kinh Niết-bàn mạt pháp!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”


    Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:

    Nghe và trì niệm Quyển 26 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Bồ-tát hạnh – mang lại lợi lạc tối thượng:


    Nghe một hạnh = ngàn kiếp hộ pháp.

    Trì một hạnh = vạn kiếp hộ pháp.

    Hành một hạnh = vô lượng kiếp hộ pháp.

    Ngộ một hạnh = 10 pháp giới hộ pháp.

    Một người hành 10 hạnh = biến mạt pháp thành Tịnh độ.

    Một người hành 1 hạnh = cứu cả thế giới.


    Ai thường nghe, thường niệm, thường hành 10 hạnh Bồ-tát, người ấy chính là Bồ-tát hộ pháp, là ngọn đèn sáng giữa mạt pháp, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Bồ-tát hạnh!

    Nam mô Hộ Pháp Mạt Pháp!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    7 min
  • Kinh Niết Bàn_Quyển 25

    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:

    Quyển 25 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Sư Tử Hống – Phá Tà Kiến Mạt Pháp) là tiếng sư tử hống cuối cùng của Đức Phật:


    Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, phá 25 tà kiến mạt pháp (Phật diệt, pháp diệt, chúng sanh không Phật tánh, ăn thịt được, v.v.).

    Một tiếng hống = muôn tà im, một câu kinh = ngàn ma cúi.

    25 câu “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” – khẳng định tuyệt đối.

    Kinh Niết-bàn là sư tử vương, ai trì kinh = sư tử con.

    Phẩm này dẹp tan tà ma mạt pháp, bảo vệ chánh pháp, khẳng định “một người trì kinh = một ngàn kiếp hộ pháp”.



    Toàn Văn Quyển 25: Phẩm Sư Tử Hống – Phá Tà Kiến Mạt Pháp

    Sau khi dạy Nguyệt Dụ, hư không lại sáng rực, đất rung 13 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:

    “Bạch Thế Tôn!

    Mạt pháp sắp đến, tà kiến lan tràn, người nói Phật diệt, pháp diệt, chúng sanh không Phật tánh – làm sao chúng con hộ pháp?”


    Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, **vang tiếng sư tử hống – một tiếng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới, muôn tà im lặng, ma vương cúi đầu, rồi nói:

    “Này đại chúng!

    Kinh Niết-bàn này là sư tử vương!

    Một tiếng hống – muôn tà im.

    Một câu kinh – ngàn ma cúi.

    Ai trì kinh này – là sư tử con.

    Ai phá kinh này – là chó săn.”


    Phật phá 25 tà kiến mạt pháp, mỗi tà kiến một câu hống:


    Tà kiến: “Phật đã diệt độ” → Hống: “Pháp thân thường trụ, chưa từng diệt!”

    Tà kiến: “Pháp sẽ diệt” → Hống: “Kinh Niết-bàn trụ vạn kiếp!”

    Tà kiến: “Chúng sanh không Phật tánh” → Hống: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh!”

    Tà kiến: “Ăn thịt ba thứ tịnh nhục được” → Hống: “Tuyệt đối cấm ăn thịt, nuôi đại từ bi!”

    Tà kiến: “Phật nói vô thường” → Hống: “Phật nói liễu nghĩa: thường, lạc, ngã, tịnh!”

    Tà kiến: “Thanh văn không thành Phật” → Hống: “Thanh văn cũng thành Phật, hiệu Giải Thoát Âm!”

    Tà kiến: “Ngạ quỷ, súc sanh không thành Phật” → Hống: “Ngạ quỷ thành Phật Cam Lồ Thí, súc sanh thành Phật Trí Thú Vương!”

    Tà kiến: “Địa ngục không Phật tánh” → Hống: “Địa ngục thành Phật Hỏa Quang Phá Ác!”

    Tà kiến: “Pháp thân ở ngoài” → Hống: “Pháp thân ở trong kinh Niết-bàn này!”

    Tà kiến: “Kinh Niết-bàn không phải lời Phật” → Hống: “Kinh này là mẹ sinh chư Phật!”

    Tà kiến: “Chỉ tụng kinh, không cần hành” → Hống: “Nghe, trì, hành, ngộ – bốn bước thành Phật!”

    Tà kiến: “Phật không thường trụ” → Hống: “Pháp thân không sinh không diệt!”

    Tà kiến: “Niết-bàn là đoạn diệt” → Hống: “Niết-bàn là nhà thường, lạc, ngã, tịnh!”

    Tà kiến: “Phật không có 4 tướng” → Hống: “Phật có 4 tướng viên mãn!”

    Tà kiến: “Tạng Như Lai ở ngoài” → Hống: “Tạng Như Lai ở trong tâm!”

    Tà kiến: “Không cần phá vô minh” → Hống: “Phá 32 lớp vô minh = mở Tạng Như Lai!”

    Tà kiến: “Pháp không bình đẳng” → Hống: “10 pháp giới đều thành Phật!”

    Tà kiến: “Kinh không cứu được ác” → Hống: “Phú Lâu Na vào thành ác, độ 500 người!”

    Tà kiến: “Mạt pháp không có Phật” → Hống: “Một người trì kinh = một Phật sống!”

    Tà kiến: “Không cần thuyết pháp” → Hống: “Nói pháp như trăng soi, một câu độ ngàn kiếp!”

    Tà kiến: “Phật không hộ pháp” → Hống: “Phật hiện thân Kim Cương, hộ kinh vạn kiếp!”

    Tà kiến: “Kinh không phải liễu nghĩa” → Hống: “Kinh Niết-bàn là liễu nghĩa tối thượng!”

    Tà kiến: “Không cần y kinh” → Hống: “Y kinh, y nghĩa, y liễu nghĩa, y trí!”

    Tà kiến: “Pháp không truyền được” → Hống: “A Nan kết tập, Ca Diếp truyền đăng!”

    Tà kiến: “Phật không còn nói” → Hống: “Phật nói trong kinh Niết-bàn này, mãi mãi!”



    Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:

    “25 tiếng hống này ở trong 40 quyển này!

    Ai trì một câu – một tà kiến tan.

    Ai trì một phẩm – 25 tà kiến tan.

    Ai trì toàn kinh – mạt pháp sáng tỏ.”


    Ca Diếp bạch:

    “Bạch Thế Tôn! Làm sao hộ pháp mạt pháp?”

    Phật dạy:

    “Một người trì kinh – một ngàn kiếp hộ pháp.

    Một người nói kinh – một vạn kiếp hộ pháp.

    Một người hành kinh – vô lượng kiếp hộ pháp.

    Một người ngộ kinh – 10 pháp giới hộ pháp.”


    Phật nói kệ 25 câu – sư tử hống cuối:

    1. Sư tử hống một tiếng, muôn tà im lặng ngay,

    2. Một câu kinh Niết-bàn, ngàn ma cúi đầu xuống,

    3. Nhất thiết chúng sanh tánh, tà kiến không lay động,

    4. Kinh này là sư tử, ai trì là sư tử con.5. Mạt pháp dù đen tối, một người trì là sáng,

    6. Một người trì là đèn, soi đường cho muôn đời,

    7. Một người hành là thuyền, đưa người qua sinh tử,

    8. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.9. 25 tà kiến tan, 25 hống vang lên,

    10. 25 câu kinh trụ, 25 kiếp hộ pháp,

    11. Ai nghe kinh Niết-bàn, thấy sư tử vương hiện,

    12. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm sư tử vương tâm.13. Ta đi, pháp còn trụ, sư tử hống không tắt,

    14. Ta đi, kinh còn sáng, sư tử vương còn gầm,

    15. Ta đi, chúng sanh ngộ, sư tử con thành vương,

    16. Ta đi, Phật còn đây, trong tiếng mỗi người hống.17. Hống cho người ác nghe, ác tâm thành từ bi,

    18. Hống cho người ngu nghe, ngu si thành trí tuệ,

    19. Hống cho người tham nghe, tham lam thành bố thí,

    20. Hống cho người sân nghe, sân hận thành nhẫn nhục.21. Hống cho mạt pháp nghe, mạt pháp thành chánh pháp,

    22. Hống cho tà kiến nghe, tà kiến thành chánh kiến,

    23. Hống cho chúng sanh nghe, chúng sanh thành Phật tử,

    24. Hống cho 10 pháp giới, 10 giới đều thành Phật.25. Sư tử hống cuối cùng: Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh!”


    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng sư tử hống vang khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đồng thanh hống:

    “NHẤT THIẾT CHÚNG SANH GIAI HỮU PHẬT TÁNH!”

    “Nam mô Sư Tử Hống Phá Tà!

    Nam mô Kinh Niết-bàn hộ pháp!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”


    Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:

    Nghe và trì niệm Quyển 25 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Sư Tử Hống – mang lại lợi lạc tối thượng:


    Nghe một tiếng hống = một tà kiến tan.

    Trì một câu kinh = một ngàn kiếp hộ pháp.

    Nói một câu kinh = một vạn kiếp hộ pháp.

    Hành một hạnh kinh = vô lượng kiếp hộ pháp.

    Ngộ một niệm kinh = 10 pháp giới hộ pháp.

    Một người trì kinh = một ngàn kiếp sáng mạt pháp.


    Ai thường nghe, thường niệm, thường hống theo phẩm này, người ấy chính là sư tử con, là ngọn đèn phá đêm đen mạt pháp, là hạt giống hộ pháp bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Sư Tử Hống!

    Nam mô Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    9 min
  • Kinh Niết Bàn_Quyển 24
    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh

    Quyển 24 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Nguyệt Dụ – Thuyết Pháp Độ Sanh) là lời dạy cuối cùng về phương pháp thuyết pháp:

    • Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, dùng “ánh trăng” làm dụ để chỉ cách nói pháp tùy duyên.
    • Trăng thật trên trời = chân lý Đại Niết-bàn.
    • Trăng in ngàn sông = phương tiện thuyết pháp.
    • Nói pháp như trăng soi, không chấp lời, không chấp người, không chấp pháp.
    • Ai nghe pháp như trăng in nước, người ấy thấy trăng thật (Phật tánh). Phẩm này dạy cách truyền kinh Niết-bàn, độ chúng sanh mạt pháp, khẳng định “một câu pháp nói đúng thời = ngàn kiếp độ sanh”.
    Toàn Văn Quyển 24: Phẩm Nguyệt Dụ – Thuyết Pháp Độ Sanh

    Sau khi khai thị Pháp thân, hư không lại sáng rực, đất rung 12 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:

    “Bạch Thế Tôn!Sau khi Ngài nhập diệt, làm sao chúng con thuyết pháp độ sanh?Làm sao nói kinh Niết-bàn cho người ác, người ngu, người không tin?”

    Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:

    “Này đại chúng!Thuyết pháp như trăng soi!Trăng thật trên trời – không sinh không diệt.Trăng in ngàn sông – tùy duyên mà hiện.Nói pháp cũng vậy: chân lý Đại Niết-bàn là trăng thật, phương tiện là trăng in.Không chấp lời, không chấp người, không chấp pháp – chỉ cần người nghe thấy trăng thật (Phật tánh).”

    Phật dùng 12 dụ trăng để dạy 12 cách thuyết pháp:

    1. Trăng tròn đêm rằm → Nói pháp viên mãn cho người thượng căn.
    2. Trăng khuyết đầu tháng → Nói pháp từng phần cho người sơ cơ.
    3. Trăng in nước đục → Nói pháp khổ, vô thường cho người ác.
    4. Trăng in nước trong → Nói pháp thường, lạc cho người thiện.
    5. Trăng in gương → Nói pháp tùy nghi cho người nghi.
    6. Trăng in mắt mù → Nói pháp từ bi cho người sân.
    7. Trăng in mắt trẻ → Nói pháp đơn giản cho người ngu.
    8. Trăng in mắt Phật → Nói pháp liễu nghĩa cho Bồ-tát.
    9. Trăng in mây đen → Nói pháp ẩn dụ cho người tà kiến.
    10. Trăng in sóng nước → Nói pháp động cho người loạn tâm.
    11. Trăng in nước lặng → Nói pháp tĩnh cho người thiền định.
    12. Trăng thật trên trời → Nói pháp Niết-bàn cho người ngộ.

    Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:

    “Kinh này là trăng thật!Ai nói một câu kinh – trăng in một sông.Ai nói một phẩm kinh – trăng in ngàn sông.Ai nói toàn bộ kinh – trăng soi 10 pháp giới.Nói pháp không vì danh, không vì lợi – chỉ vì người nghe thấy trăng thật.”

    Phú Lâu Na bạch:

    “Bạch Thế Tôn! Nói pháp cho người ác, họ chửi, họ đánh – làm sao?”

    Phật dạy:

    “Nói như trăng soi phân – trăng không dơ, phân không sạch.Nói như trăng soi bùn – trăng không nhiễm, bùn không thơm.Nói như trăng soi đêm – dù đêm đen, trăng vẫn sáng.Một câu pháp nói đúng thời – ngàn kiếp độ sanh.”

    Phật nói kệ 24 câu – dạy thuyết pháp:

    1. Thuyết pháp như trăng soi, không chấp lời không chấp,2. Trăng thật là Niết-bàn, trăng in là phương tiện,3. Nói cho người thượng căn, trăng tròn đêm rằm sáng,4. Nói cho người sơ cơ, trăng khuyết đầu tháng dần.5. Người ác nghe khổ pháp, trăng in nước đục hiện,6. Người thiện nghe lạc pháp, trăng in nước trong đầy,7. Người nghi nghe tùy nghi, trăng in gương sáng tỏ,8. Người ngu nghe đơn giản, trăng in mắt trẻ vui.9. Tà kiến nghe ẩn dụ, trăng in mây đen tan,10. Loạn tâm nghe động pháp, trăng in sóng nước dừng,11. Thiền định nghe tĩnh pháp, trăng in nước lặng soi,12. Người ngộ nghe Niết-bàn, trăng thật trên trời hiện.13. Ai nói kinh Niết-bàn, trăng soi 10 pháp giới,14. Ai nghe kinh Niết-bàn, thấy trăng thật tự tâm,15. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm trăng sáng vạn kiếp,16. Ai hành kinh Niết-bàn, thành trăng tròn viên mãn.17. Mạt pháp dù đen tối, một câu pháp là sáng,18. Một người nói là đèn, soi đường cho muôn đời,19. Một người nghe là thuyền, đưa người qua sinh tử,20. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.21. Ta đi, pháp còn trụ, trăng soi không bao giờ tắt,22. Ta đi, kinh còn sáng, trăng in ngàn sông đầy,23. Ta đi, chúng sanh ngộ, trăng thật trong tâm hiện,24. Ta đi, Phật còn đây, trong lời mỗi người nói.”

    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đồng thanh niệm:

    “Nam mô Nguyệt Dụ Thuyết Pháp!Nam mô Kinh Niết-bàn độ sanh!Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh

    Nghe và trì niệm Quyển 24 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Nguyệt Dụ – mang lại lợi lạc vô lượng:

    • Nói pháp như trăng soi – một câu độ ngàn kiếp.
    • Nghe pháp như trăng in – một niệm thấy trăng thật.
    • Trì kinh = ôm trăng sáng – vạn kiếp không mờ.
    • Hành kinh = thành trăng tròn – Niết-bàn viên mãn.
    • Nói một câu đúng thời – độ 10 pháp giới.
    • Nghe một câu đúng duyên – thành Phật trong một niệm.

    Ai thường nghe, thường niệm, thường thuyết theo phẩm này, người ấy chính là trăng sáng giữa đêm đen, là ngọn đèn soi mạt pháp, là hạt giống thuyết pháp bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Nguyệt Dụ!

    Nam mô Thuyết Pháp Như Trăng Soi!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    7 min
  • Kinh Niết Bàn_Quyển 23

    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:

    Quyển 23 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Pháp Thân Thường Trụ – Phật Tánh Bất Diệt) là lời khẳng định cuối cùng về Pháp thân Như Lai:


    Pháp thân không sinh không diệt, không đến không đi, không ở đây không ở kia – chỉ ở trong kinh Niết-bàn.

    Phật tánh = Pháp thân = Đại Niết-bàn, không loài nào không có.

    Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, nói kệ 40 câu, kết luận “Pháp thân là mẹ, kinh là cha, chúng sanh là con”.

    Phẩm này phá tan ý niệm “Phật diệt”, mở cửa Pháp thân cho 10 pháp giới, khẳng định “ai trì kinh, người ấy ôm Pháp thân”.



    Toàn Văn Quyển 23: Phẩm Pháp Thân Thường Trụ – Phật Tánh Bất Diệt

    Sau khi thọ ký vạn loài, hư không lại sáng rực, đất rung 11 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:

    “Bạch Thế Tôn!

    Pháp thân Như Lai ở đâu?

    Phật đã nhập diệt, làm sao còn thường trụ?”


    Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:

    “Này đại chúng!

    Pháp thân Như Lai không sinh không diệt!

    Không đến không đi, không ở đây không ở kia, không trong không ngoài.

    Pháp thân không phải thân thịt, không phải thân xương, không phải thân máu.

    Pháp thân chính là kinh Niết-bàn này!

    Ai trì kinh này, người ấy ôm Pháp thân.

    Ai phá kinh này, người ấy phá Pháp thân.”


    Phật dùng 5 thí dụ để khai thị:


    Hư không – không sinh không diệt, không dơ không sạch.

    Mặt trăng thật – không lặn, chỉ in bóng nước.

    Kim cương – không vỡ, dù đập ngàn lần.

    Cam lồ – không chết, dù uống ngàn kiếp.

    Kinh Niết-bàn – không diệt, dù mạt pháp vạn kiếp.



    Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:

    “Pháp thân ở trong 40 quyển này!

    Pháp thân ở trong 12 phẩm này!

    Pháp thân ở trong 84.000 pháp môn này!

    Ai nghe một câu – thấy Pháp thân.

    Ai trì một phẩm – ôm Pháp thân.

    Ai hành một hạnh – thành Pháp thân.”


    Ca Diếp bạch:

    “Bạch Thế Tôn! Làm sao thấy Pháp thân nhanh nhất?”

    Phật dạy:

    “Một niệm tin kinh – thấy Pháp thân.

    Một câu kinh nghe – ôm Pháp thân.

    Một hạnh kinh hành – thành Pháp thân.

    Một niệm kinh ngộ – là Pháp thân.”


    Phật nói kệ 40 câu – kết luận Pháp thân:

    1. Pháp thân không sinh diệt, thường trụ trong kinh này,

    2. Pháp thân không đến đi, không ở đây không kia,

    3. Pháp thân không thịt xương, không máu không hơi thở,

    4. Pháp thân là kinh Niết, là mẹ sinh chư Phật.5. Chúng sanh đều có tánh, tánh ấy là Pháp thân,

    6. Vô minh như mây đen, che lấp Pháp thân sáng,

    7. Mây tan, trời sáng tỏ, Pháp thân hiện tự tâm,

    8. Tâm này là Niết-bàn, nhà xưa của muôn loài.9. Kinh này là mắt Phật, thấy rõ Pháp thân thường,

    10. Giới này là thân Phật, giữ vững Pháp thân trụ,

    11. Tăng này là hơi thở, truyền đèn Pháp thân sáng,

    12. Tam bảo trụ vạn kiếp, Pháp thân không diệt.13. Ngạ quỷ nghe một câu, thấy Pháp thân bất diệt,

    14. Súc sanh thấy một ánh, ôm Pháp thân thanh tịnh,

    15. Địa ngục phá một si, thành Pháp thân tự tại,

    16. A-tu-la bỏ sân hận, là Pháp thân từ bi.17. Người ác nghe kinh này, thấy Pháp thân trong tâm,

    18. Người ngu nghe kinh này, trí tuệ Pháp thân sáng,

    19. Người tham nghe kinh này, bố thí Pháp thân đầy,

    20. Người sân nghe kinh này, từ bi Pháp thân tràn.21. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm mẹ sinh Pháp thân,

    22. Ai hành kinh Niết-bàn, bước vào Pháp thân nhà,

    23. Ai ngộ kinh Niết-bàn, thành Pháp thân ngay đây,

    24. Ai truyền kinh Niết-bàn, độ vô lượng Pháp thân.25. Mạt pháp dù đen tối, một người trì là sáng,

    26. Một người trì là đèn, soi đường Pháp thân trụ,

    27. Một người hành là thuyền, đưa người vào Pháp thân,

    28. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.29. Ta đi, Pháp thân trụ, kinh truyền đạo bất diệt,

    30. Ta đi, kinh còn sáng, Pháp thân không bao giờ tắt,

    31. Ta đi, chúng sanh ngộ, Pháp thân mở rộng cửa,

    32. Ta đi, Phật còn đây, trong kinh mỗi người nghe.33. Pháp thân là cha mẹ, kinh này là con đường,

    34. Chúng sanh là con cái, Niết-bàn là nhà xưa,

    35. Ai nghe kinh Niết-bàn, về nhà với Pháp thân,

    36. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm cha mẹ Pháp thân.37. Pháp thân không sinh diệt, kinh này không sinh diệt,

    38. Pháp thân không đến đi, kinh này không đến đi,

    39. Pháp thân không ở đây, kinh này không ở đây,

    40. Pháp thân ở trong kinh, kinh ở trong Pháp thân.”


    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đồng thanh niệm:

    “Nam mô Pháp Thân Thường Trụ!

    Nam mô Kinh Niết-bàn bất diệt!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”


    Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:

    Nghe và trì niệm Quyển 23 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Pháp thân – mang lại lợi lạc tối thượng:


    Thấy Pháp thân = thấy Phật sống.

    Nghe một câu = ôm Pháp thân.

    Trì một phẩm = thành Pháp thân.

    Hành một hạnh = là Pháp thân.

    Ngộ một niệm = cứu độ 10 pháp giới.

    Kinh trụ vạn kiếp = người trì kinh trụ vạn kiếp.


    Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là Pháp thân tái sinh, là ánh sáng soi mạt pháp, là hạt giống Pháp thân bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Pháp thân!

    Nam mô Pháp Thân Thường Trụ Bất Diệt!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    8 min
  • Kinh Niết Bàn_Quyển 22
    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh

    Quyển 22 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Đại Chúng Thọ Ký – Vạn Loài Thành Phật) là đại thọ ký cuối cùng:

    • Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, đứng trên hư không, thọ ký cho 10 pháp giới – từ trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, Bồ-tát, Thanh văn – đều thành Phật.
    • Mỗi loài được một hiệu Phật, một cõi Tịnh độ, một thời gian thành Phật.
    • Phật tánh bình đẳng, không loài nào bị bỏ lại.
    • Kinh Niết-bàn là nhân duyên thành Phật. Phẩm này mở cửa Phật đạo cho tất cả, khép lại 40 quyển bằng đại từ bi vô lượng, khẳng định “không một chúng sanh nào bị bỏ lại”.
    Toàn Văn Quyển 22: Phẩm Đại Chúng Thọ Ký – Vạn Loài Thành Phật

    Sau khi A Nan kết tập xong, hư không lại sáng rực, đất rung 10 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đại chúng – trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác, Phạm thiên – đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:

    “Bạch Thế Tôn!Chúng con có thành Phật được không?Chúng con có Phật tánh không?Xin Ngài thọ ký cho chúng con!”

    Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:

    “Này đại chúng!Tất cả các ông đều có Phật tánh!Tất cả các ông đều sẽ thành Phật!Không một loài nào bị bỏ lại!Kinh Niết-bàn này là nhân duyên thành Phật.Ai nghe, ai trì, ai hành – người ấy thành Phật.”

    Phật thọ ký từng loài, mỗi loài một hiệu Phật, một cõi Tịnh độ, một thời gian thành Phật:

    1. Trời Đế Thích → Phật hiệu “Quang Minh Vương”, cõi “Thiên Quang Tịnh Độ”, sau 7 kiếp.
    2. Người phàm → Phật hiệu “Nhân Tâm Như Lai”, cõi “Nhân Gian Tịnh Độ”, sau 3 kiếp.
    3. A-tu-la → Phật hiệu “Từ Bi Chiến Thắng”, cõi “A-tu-la Tịnh Độ”, sau 5 kiếp.
    4. Súc sanh (voi, ngựa…) → Phật hiệu “Trí Tuệ Thú Vương”, cõi “Súc Sanh Tịnh Độ”, sau 9 kiếp.
    5. Ngạ quỷ → Phật hiệu “Cam Lồ Thí”, cõi “Ngạ Quỷ Tịnh Độ”, sau 12 kiếp.
    6. Địa ngục → Phật hiệu “Hỏa Quang Phá Ác”, cõi “Địa Ngục Tịnh Độ”, sau 18 kiếp.
    7. Bồ-tát → Phật hiệu “Đại Bi Tự Tại”, cõi “Bồ-tát Tịnh Độ”, sau 1 kiếp.
    8. Thanh văn → Phật hiệu “Giải Thoát Âm”, cõi “Thanh Văn Tịnh Độ”, sau 2 kiếp.
    9. Duyên giác → Phật hiệu “Tịch Tĩnh Quang”, cõi “Duyên Giác Tịnh Độ”, sau 4 kiếp.
    10. Phạm thiên → Phật hiệu “Pháp Giới Vương”, cõi “Phạm Thiên Tịnh Độ”, sau 1 đại kiếp.

    Phật đưa tay chỉ đại chúng:

    “Các ông đang mang hiệu Phật trong tâm!Các ông đang mang Tịnh độ trong tâm!Chỉ cần nghe kinh Niết-bàn này – hiệu Phật hiện, Tịnh độ hiện!”

    Ca Diếp bạch:

    “Bạch Thế Tôn! Làm sao thành Phật nhanh nhất?”

    Phật dạy:

    “Nghe một câu kinh – gần Phật một kiếp.Trì một phẩm kinh – gần Phật một đại kiếp.Hành một hạnh kinh – thành Phật trong một niệm.Ngộ một niệm kinh – thành Phật ngay trong đời.”

    Phật nói kệ thọ ký đại chúng:

    “Vạn loài đều có tánh,Vạn loài đều thành Phật.Kinh này là nhân duyên,Mở cửa Niết-bàn nhà.Ngạ quỷ nghe một câu,Thành Phật Cam Lồ Thí.Súc sanh thấy một ánh,Thành Phật Trí Thú Vương.Địa ngục phá một si,Thành Phật Hỏa Quang Phá.A-tu-la bỏ sân hận,Thành Phật Từ Chiến Thắng.Ai trì kinh Niết-bàn,Ôm mẹ sinh chư Phật.Ai hành kinh Niết-bàn,Bước vào Tịnh độ mình.Mạt pháp dù đen tối,Một người ngộ là sáng.Một người trì là Phật,Cứu độ vạn loài sinh.”

    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới.

    10 pháp giới đồng thanh niệm:

    “Nam mô Vạn Loài Thành Phật!Nam mô Kinh Niết-bàn thọ ký!Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh

    Nghe và trì niệm Quyển 22 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm thọ ký vạn loài – mang lại lợi lạc vô lượng:

    • Thấy hiệu Phật của mình, biết mình sẽ thành Phật.
    • Thấy Tịnh độ của mình, biết mình có nhà Niết-bàn.
    • Nghe một câu = gần Phật một kiếp.
    • Trì một phẩm = gần Phật một đại kiếp.
    • Hành một hạnh = thành Phật trong một niệm.
    • Ngộ một niệm = cứu độ vạn loài.

    Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là Phật tương lai, là ánh sáng soi 10 pháp giới, là hạt giống thành Phật bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh thọ ký!

    Nam mô Vạn Loài Giai Thành Phật Đạo!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    6 min
  • Kinh Niết Bàn_Quyển 21

    Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:

    Quyển 21 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm A Nan Kết Tập – Kinh Trụ Thế Vạn Kiếp) là cảnh kết tập kinh điển đầu tiên sau khi Phật nhập diệt.


    A Nan – người nghe pháp nhiều nhất – đứng trên pháp tòa, kể lại 40 quyển Niết-bàn, kết tập thành văn.

    Ca Diếp làm chủ trì, 500 A-la-hán chứng minh, trời rồng hộ pháp.

    Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, ấn chứng “Kinh này trụ thế vạn kiếp, độ vô lượng chúng sanh”.

    Kinh Niết-bàn = mẹ sinh chư Phật, là pháp nhãn, là đèn sáng, là thuyền từ.

    Phẩm này khởi đầu lịch sử truyền kinh, khẳng định kinh không diệt, ai trì kinh = trì Phật sống.



    Toàn Văn Quyển 21: Phẩm A Nan Kết Tập – Kinh Trụ Thế Vạn Kiếp

    Sau khi Phật nhập diệt 3 tháng, 500 A-la-hán tụ hội tại hang Thất Diệp (Kỳ Viên), dưới gốc cây Ta-la song thọ.

    Ca Diếp – Tổ thứ nhất – ngồi trên pháp tòa, giọng như sấm:

    “Các vị Thánh giả!

    Phật đã nhập diệt, nhưng chánh pháp phải trụ!

    Hôm nay, chúng ta kết tập kinh tạng, để đời sau có đèn sáng.

    A Nan – người nghe pháp nhiều nhất – hãy lên pháp tòa, kể lại lời Phật!”


    A Nan – mắt còn đỏ hoe, áo ca-sa ướt nước mắt – đứng dậy, đảnh lễ Ca Diếp, rồi ngồi lên pháp tòa.

    Bỗng nhiên, ánh sáng vàng ròng từ pháp tòa phóng ra, A Nan nhập định, thân phóng ánh sáng, giọng như tiếng Phật:

    “Tôi nghe như vầy…

    Một thời, Phật ở tại rừng Ta-la song thọ, thành Câu-thi-na, cùng 1250 Tỳ-kheo, vô lượng Bồ-tát…

    Phật nói kinh Đại Bát Niết-bàn, 40 quyển, 12 phẩm, 84.000 pháp môn…”

    A Nan kể lại từng quyển:


    Quyển 1: Phật tánh,

    Quyển 7: Cấm ăn thịt,

    Quyển 8: Tứ y pháp,

    Quyển 12: Phó chúc Ca Diếp,

    Quyển 13: Đại chúng thỉnh trụ thế,

    Quyển 14: Nhập Niết-bàn,

    ...

    Quyển 20: Tạng Như Lai.


    Mỗi câu A Nan nói, 500 A-la-hán đồng thanh “Như vậy, như vậy”, trời mưa hoa, đất thơm chiên-đàn.


    Bỗng nhiên, hư không sáng rực, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, đứng trên pháp tòa, đưa tay xoa đầu A Nan, nói:

    “Lành thay, A Nan!

    Con đã nhớ đúng, nói đúng, kết tập đúng.

    Kinh Niết-bàn này là mẹ sinh ra chư Phật.

    Kinh này là pháp nhãn, là đèn sáng, là thuyền từ.

    Kinh này sẽ trụ thế vạn kiếp, độ vô lượng chúng sanh.

    Ai trì kinh này, người ấy trì Ta.

    Ai phá kinh này, người ấy phá Ta.”


    Phật nói kệ ấn chứng:

    “Kinh này là mắt Phật,

    Thấy rõ Niết-bàn môn.

    Kinh này là thân Phật,

    Thường trụ không sinh diệt.A Nan kết tập đúng,

    Ca Diếp truyền đăng sáng.

    500 Thánh chứng minh,

    Vạn kiếp kinh còn trụ.Ai nghe kinh Niết-bàn,

    Thấy Phật trong tự tâm.

    Ai trì kinh Niết-bàn,

    Ôm mẹ sinh chư Phật.Mạt pháp dù đen tối,

    Kinh này là ngọn đèn.

    Một người trì, một người ngộ,

    Vạn kiếp độ chúng sanh.”


    Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp mười phương.

    500 A-la-hán đồng thanh niệm:

    “Nam mô Kinh Niết-bàn trụ thế vạn kiếp!

    Nam mô A Nan Kết Tập!

    Nam mô Ca Diếp Truyền Đăng!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”


    Kinh Niết-bàn được kết tập xong.

    40 quyển, 12 phẩm, 84.000 pháp môn.

    Truyền từ đời này sang đời khác.

    Đèn chánh pháp không bao giờ tắt.


    Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:

    Nghe và trì niệm Quyển 21 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm kết tập – mang lại lợi lạc tối thượng:


    Thấy kinh = thấy Phật sống.

    Nghe kinh = nghe Phật nói.

    Trì kinh = ôm mẹ sinh chư Phật.

    Kết tập trong tâm = kết tập ngoài đời.

    Kinh trụ vạn kiếp = người trì kinh trụ vạn kiếp.

    Một người trì = vạn kiếp độ chúng sanh.


    Ai thường nghe, thường niệm, thường kết tập kinh này trong tâm, người ấy chính là A Nan tái sinh, là ngọn đèn sáng giữa mạt pháp, là hạt giống kinh trụ thế bất diệt.

    Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh trụ thế vạn kiếp!

    Nam mô A Nan Kết Tập!

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

    6 min

About 8 Bộ Kinh Phật Thường Được Đọc Tụng Niệm_Phiên bản 1.1

From the publisher's feed

Kinh A Di Đà 1 phẩm 7 phút


Kinh Kim Cang 32 phẩm 30 phút


Kinh Tâm Kinh 1 phẩm 1…