
Sign up to save your podcasts
Or


"L'Amour et Moi" (Tình yêu và Ta) là tựa đề tuyển tập nhạc trữ tình qua giọng ca Dalida, vừa được cho ra mắt vào mùa xuân năm nay. Tuyển tập này gồm hai phiên bản : dưới dạng hai đĩa CD với hơn 40 bài hát. Còn album đĩa nhựa dành cho giới sưu tầm gồm khoảng 20 ca khúc chọn lọc.
Trong số những bản nhạc trên album vừa được phát hành, "L'Amour et Moi" (Tình yêu và Ta) được chọn làm nhạc phẩm trích đoạn đầu tiên để quảng bá cho tập nhạc. Đối với nhiều người hâm mộ, bài hát này có một giai điệu nghe khá quen thuộc. Trong nguyên tác, đây là nhạc phẩm "The Love Inside" (Tình yêu trong ta) do nhóm Bee Gees sáng tác cho Barbra Streisand. Vào năm 1981, tác giả Pierre Delanoë đã thực hiện một bản phóng tác tiếng Pháp theo yêu cầu của Dalida.
Phản ánh ba thập niên sự nghiệp ghi âm của nữ danh ca người Pháp gốc Ý, sinh trưởng tại Ai Cập, tuyển tập "Tình yêu và Ta" gồm nhiều bài hát nổi tiếng của các nghệ sĩ khác, chẳng hạn như bản nhạc "Quand on n'a que l'amour" (Khi ta chỉ có tình yêu) của Jacques Brel, "Parlez moi d'amour" (tạm dịch Lời tỏ tình bên tai) của Lucienne Boyer hay "La vie en rose" (Cuộc đời màu hồng) của Édith Piaf.
Tuyển tập này cũng có khá nhiều nhạc phẩm phóng tác từ những bài hát nổi tiếng của làng nhạc Anh Mỹ, Tây Ban Nha hay giai điệu tiếng Ý, vốn là sở trường của Dalida, từ khi mới vào nghề nữ danh ca đã ghi âm trong nhiều thể loại khác nhau, cũng như trong nhiều thứ tiếng. Đáng chú ý nhất, giai điệu "Green green grass of home" từng thịnh hành qua giọng ca của Tom Jones trở thành "Les grilles de ma maison" ghi âm bằng tiếng Pháp, trong khi "Aranjuez mon amour" hay các nhạc phẩm "Night in white satin" và "Summerwine" lại được trình bày trong tiếng Ý.
Bộ đĩa "L'Amour et Moi" được chia thành hai phần : phần thứ nhất bao gồm các bản tình ca gắn liền với tên tuổi của Dalida, ngay từ những năm tháng đầu đời, khi cô vừa mới đến Pháp lập nghiệp. Dòng nhạc lãng mạn trữ tình trở thành dấu ấn của giọng ca có lối luyến láy mượt mà, âm hưởng khác lạ.
Hầu như tất cả các bài hát trên album đều có chữ tình (amour / love) trong tựa đề. Đây là dịp để cho giới hâm mộ Dalida khám phá lại những giai điệu ít phổ biến hơn của Dalida như "Tant d'amour du printemps" (Bao tình yêu mùa xuân) hay "L'amour qui venait du froid" (Tình đến từ vùng đất lạnh) bên cạnh những giai điệu rất ăn khách chẳng hạn như " Love in Portofino" hay " Histoire d'un amour" từng được tác giả Anh Băng đặt thêm lời Việt thành "Chuyện tình yêu".
Phần thứ nhì phản ánh sự nghiệp của Dalida trong giai đoạn đi biểu diễn thường xuyên ở nước ngoài. Đó là thời kỳ Dalida thành công với những bản nhạc phóng tác sang tiếng Tây Ban Nha (Los niños del Pireo, La violetera) tiếng Anh (Born to sing / Mourir sur scène hay He must have been eighteen / Il venait d'avoir 18 ans), ngoài ra còn có một số phiên bản song ngữ thành công không kém như "Come Prima / Tu me donnes" hay "Senza di te / Et maintenant" của Gilbert Bécaud ...
Ngược lại, có lẽ do vấn đề tác quyền cho nên bài hát chủ đề của bộ phim "The Godfather" (Bố Già) với tựa đề "Parle plus bas / Parla piu piano" lại vắng mặt trên album này, cho dù Dalida là người đầu tiên được mời ghi âm ca khúc chính bằng tiếng Pháp cho hai tập phim Bố Già (tập I & II).
Tai Pháp, vài năm sau khi Dalida tự kết liễu cuộc đời vào năm 1987, em trai của nữ danh ca là nhà sản xuất Orlando đã cố gắng duy trì di sản do người chị để lại, qua việc phát hành các bài hát của Dalida với lối hoà âm mới, hợp với thị hiếu của giới trẻ hiện thời. Điều đó có thể giải thích vì sao câu lạc bộ những người hâm mộ Dalida có đến một phần ba là giới trẻ dưới 25 tuổi, thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Cũng như nam danh ca Claude François, hơn ba thập niên sau ngày qua đời, tên tuổi của Dalida tiếp tục là nguồn cảm hứng cho nhiều dự án ghi âm "mới". Vầng hào quang vẫn sáng ngời thành công, cho dù đã bao năm khuất bóng.
Vào đầu những năm 1990, nhạc phẩm "Một thoáng chim bay" nằm trong số những ca khúc nhạc ngoại lời Việt thịnh hành trong làng nhạc hải ngoại. Người đầu tiên ghi âm bài hát này trong tiếng Việt là nam ca sĩ Anh Tú. Giai điệu bài hát gốc là một ca khúc tiếng Pháp mang tựa đề "Elle Imagine". Do nhóm Nacash sáng tác và ghi âm, giai điệu này này là thành công lớn nhất của ban nhạc người Pháp.
Làng nhạc Pháp có hai nhóm chuyên dùng ghi ta làm nhạc cụ sở trường. Ban nhạc Gipsy Kings với nhạc phẩm "Bamboleo" đã đưa nhịp điệu "rumba catalana" đi vòng quanh trái dất. Còn nhóm Nacash cũng thành danh vào những năm 1980 phối hợp ghi ta cổ điển với âm nhạc thế giới (world music). Được thành lập vào đầu những năm 1970, nhóm Nacash trước hết là một câu chuyện gia đình, cũng như các anh em nhà Reyes của nhóm Gipsy Kings. Ban nhạc Nacash gồm 5 thành viên người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Algérie trước khi theo cha mẹ sang Pháp định cư. Năm anh em (Alain, Norbert, Claude, Gérard và Marc) xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ. Từ thời còn nhỏ, họ học đàn với thân phụ là nhạc sĩ Alexandre Nakache, chuyên chơi thể điệu arabo-andalou, ngoài mandoline và violon, ông thường kết hợp Tây ban cầm cổ điển với các nhạc cụ truyền thống gồm trống darbuka và đàn oud của người Ả Rập.
Vào năm 1971, nhóm Nacash đôi khi được gọi là "Les Frères Nacash" trình làng đĩa hát 45 vòng đầu tiên, nhưng họ chỉ thực sự thành danh một thập niên sau đó. Giai đoạn hoạt động tích cực của nhóm là trong suốt những năm 1980, Nacash phát hành hơn 10 đĩa đơn trong vòng một thập niên. Năm 1987, bản ghi âm thứ sáu "Elle Imagine" .... hiểu theo nghĩa "Em thả hồn tưởng tượng" giúp cho 5 anh em nhà Nacash lập kỷ lục số bán, nhóm này đã đạt đến đỉnh cao với nhiều bài hát ăn khách trong bốn năm liền. Bản nhạc "Elle Imagine" cũng là một câu chuyện gia đình nói về tình hoài hương, nghe qua lời kể của 5 người anh trai, cô em gái mường tượng lại vùng đất thương yêu mà cha mẹ họ đã buộc phải rời bỏ, xa lìa.
Trong tiếng Việt bài này có hai lời khác nhau : lời thứ nhất với tựa đề "Tàn Phai", có nhiều nguồn ghi chép là của nhạc sĩ Pham Duy từng được ca sĩ Ngọc Lan ghi âm. Lời thứ nhì do tác gia Khúc Lan chuyển thành nhạc phẩm "Một thoáng chim bay" từng nổi tiếng trước đây với giọng ca Anh Tú. Gần đây hơn, có các phiên bản ghi âm của Thanh Hiền hay Thùy Dung.
Nhờ được đào tạo kỹ lưỡng, nhóm Nacash rất vững về mặt sáng tác giai điệu, theo phong cách thuần túy nhạc nhẹ của Pháp, cộng thêm lôi hoà âm trau chuốt, sang trọng qúy phái nhờ sở trường phối hợp nhiều loại đàn dây với nhau. Trong hơn một thập niên, nhóm Nacash đã phát hành 3 album phòng thu và 12 đĩa đơn. Vào giữa những năm 1990, Nacash chuyển sang hợp tác với những tài năng mới trên thị trường Pháp, họ giúp cho nhiều giọng ca nổi tiếng sau đó như Chimène Badi, Alabina, Yael Naïm hay nhóm J-Five ..... Đáng chú ý nhất, họ tham gia sáng tác nhạc phẩm “Dieu m’a donné la Foi” (1995) của Ophélie Winter, hạng nhất thị trường Pháp trong nhiều tuần lễ, hay “Parle-moi de nous”, đĩa đơn thứ ba trich từ album "Au nom d'une femme" phát hành vào năm 2000 của Hélène Ségara. Album này đạt mức điã kim cương với gần một triệu rưỡi bản được bán trong vòng 6 tháng.
Với album phòng thu thứ ba "Un beau dimanche d'été" (Một buổi sáng chủ nhật mùa hạ) trong đó nhóm Nacash từng mời nam danh ca Enrico Macias ghi âm lại nhạc phẩm "Elle Imagine"(Em thả hồn tưởng tượng) bên cạnh những bài hát ăn khách khác như "Des matins calmes" hay là "Il faut du temps", nhóm Nacash đã khẳng định được vị trí của mình trong làng nhạc Pháp những năm 1980 và 1990. Trong số những bản nhạc thành công nhất của nhóm Nacash, có giai điệu "Y'a des jours comme ça" cũng từng được chuyển sang lời Việt. Một lần nữa, bài hát này có hai lời khác nhau là "Tình ngàn năm còn nhớ" và "Anh vẫn buồn như xưa". Ngoài những tiết tấu trầm buồn, nhẹ nhàng du dương, các nhạc phẩm của Nacash thường có những đoạn solo biến tấu đàn dây tài tình, tạo cho nhóm này một dấu ấn riêng : cho giai điệu vấn vương nỗi niềm, cho thời gian "soi gương" kỷ niêm.
Sau thành công của hai album đầu tiên với sự hợp tác của nhiều tài năng trẻ như nghệ sĩ dương cầm Sofiane Pamart và ca sĩ Emma Peters (Le coup de soleil), nhóm Bon Entendeur trình làng album phòng thu thứ ba bao gồm 12 bản nhạc mới, trong đó đáng chú ý nhất, có các bản hoà âm tân thời của hai giai điệu nổi tiếng của Nicoletta và Sylvie Vartan.
Mang tựa đề "Rivages" (hiểu theo nghĩa Bến bờ), album này là phần tiếp nối của hai tập nhạc trước xoay quanh cùng một chủ đề. Album đầu tiên (đĩa bạch kim) "Aller-Retour" có nghĩa là Khứ hồi giống như một hành trình du ngoạn tham quan. Album thứ nhì "Minuit" Nửa đêm (đĩa vàng) trong cách dùng ẩn dụ, lại là một chuyến du hành ngược thời gian, thay vì xuyên không gian. Lần này, album "Rivages" gợi hứng từ các chuyến lưu diễn của nhóm nhạc pop người Pháp, đưa giới hâm mộ qua nhiều địa danh tràn đầy nắng ấm.
Từ bến cảng nước Ý, miền Riviera của Pháp hay sa mạc Ai Cập ven biển Địa Trung Hải, nhóm này chọn những điểm dừng chân xa hơn nữa với dòng nhạc bossa nova hay samba của Brazil, tiêu biểu qua giai điệu "Fio Maravilha". Trong nguyên tác, "Fio Maravilha" ban đầu do nam ca sĩ Jorge Ben trình bày. Bài hát sau đó được Nicoletta ghi âm lại vào năm 1973. Nhóm Bon Entendeur cài vào trong giai điệu chứa chan hoài niệm, những nhịp đập "dễ thương", tựa như một đóa hoa khác thường.
Trong hơn mười năm qua, nhóm nhạc Bon Entendeur thường xen kẽ những sáng tác chưa được phát hành với các bản hit chủ yếu là tiếng Pháp, từ những năm 1960 và 1970, kết hợp âm thanh điện tử với nhiều dòng nhạc khác nhau (funk, disco, pop hoặc giao hưởng). Vào đầu tháng tư, bộ ba Bon Entendeur trình diễn tại nhà hát Olympia, khai màn cho vòng lưu diễn đầy hứa hẹn nhân các kỳ liên hoan âm nhạc mùa hè tại Pháp, nhằm quảng bá cho album mới, được giới hâm mộ chờ đợi từ ba năm nay.
Trong số các ca khúc nổi bật trên album này, có nhạc phẩm "Baby It's You", một tình khúc do ban tam ca Shirelles ghi âm và trình diễn lần đầu tiên trên sân khấu vào năm 1961. Tựa đề ban đầu của bài hát này là "I'll Cherish You", nhưng vào giờ chót, nhà sản xuất Luther Dixon (với bút danh Barney Williams đồng sáng tác bài hát với Mack David và Burt Bacharach) đã quyết định đổi tên bài hát. Nhạc phẩm này từng lọt vào bảng xếp hạng Top Ten thi trường Hoa Kỳ và được nhóm The Beatles cover lại trên album "Please, please me" vào năm 1963. Bài hát sau đó được hãng đĩa Capitol cho tái bản vào năm 1965 trên album "The Early Beatles" gồm những bản ghi âm đầu tay của nhóm Tứ Quái.
Ngoài một phiên bản ghi âm khác của ban song ca The Carpenters vào năm 1970, bài hát này cũng từng được phóng tác sang tiếng Pháp với tựa đề "Baby c'est vous" do Sylvie Vartan ghi âm và phát hành vào năm 1962 trên album đầu tiên của mình. Thành công của album này tạo cơ hội cho Sylvie lên ngôi thần tượng nhạc trẻ Pháp.
Tuy được phát hành vào mùa xuân, nhưng album thứ ba của nhóm Bon Entendeur lại tràn ngập các giai điệu mùa hạ, như thể nhóm này nạp năng lượng mặt trời để tạo cho các nhịp điệu thêm sức sống về đêm. Trước khi vinh danh Sylvie Vartan, nhóm này từng hoà âm lại giai điệu "Le temps de l’amour" của Françoise Hardy (Mùa tình yêu) đưa người nghe tìm về những khung trời kỷ niệm. Tâm hồn phiêu lưu càng xa bờ, con tim càng mong ngày cập bến.
Noi gương bộ tứ Il Divo, ban tam ca người Ý Il Volo là một trong những nhóm nhạc thành công nhất trong lĩnh vực bán cổ điển. Năm 2024 đánh dấu 15 năm sự nghiệp thành công của nhóm này. Tập nhạc mới của Il Volo vừa được phát hành vào đầu mùa xuân năm 2024.
Mang tựa đề tiếng Latinh "Ad Astra" (per Aspera) có nghĩa là "Hướng tới những vì sao" (xuyên qua thử thách). Đây là album phòng thu thứ 8 của nhóm, bao gồm 10 sáng tác mới, phiên bản deluxe có thêm vài bản nhạc cover nổi tiếng của Queen (Who Wants To Live Forever). Sau 4 năm vắng bóng sân khấu, ban tam ca đã xuất hiện trở lại nhân kỳ liên hoan ca khúc tiếng Ý Sanremo vào đầu tháng 02/2024 vừa qua, nhằm quảng bá cho một album gồm nhiều bài hát gốc.
Đây là một bước ngoặt quan trọng nhân 15 năm sự nghiệp của nhóm, ban tam ca cố gắng thay đổi hình ảnh, hướng tới một âm hưởng pop rock với sắc thái hiện đại hơn, trong khi vẫn giữ được trên sân khấu chất giọng opera, đậm chất cổ điển của mình.
Nhóm Il Volo gồm ba thành viên năm nay mới tròn 30 tuổi, gồm hai giọng nam cao tenor (Piero và Ignazio sinh năm 1994) và một giọng nam trung baryton / baritone (Gianluca sinh năm 1995). Họ gặp nhau vào mùa xuân năm 2009, lúc bấy giờ họ mới 14, 15 tuổi trong một cuộc thi hát truyền hình (Ti Lascio Una Canzone) dành cho các giọng ca mầm non. Tuy là thí sinh nhỏ tuổi nhất, nhưng Gianluca lại gây bất ngờ khi giành giải nhất cuộc thi này.
Ban đầu, cả ba thí sinh đều đăng ký đi dự thi một mình. Trong chương trình biểu diễn, họ mới có cơ hội hát chung với nhau (ca khúc O Solo Mio). Ngoài khả năng thanh nhạc, ba giọng ca này còn biểu diễn ăn ý với nhau. Giám đốc chương trình thi hát lúc bấy giờ (Roberto Cenci) mới có ý tưởng thành lập một nhóm nhạc trẻ chuyên hát nhạc opera và bán cổ điển, gợi hứng từ mô hình trước đây của ba danh ca tenor nổi tiếng thế giới là Luciano Pavarotti, José Carreras và Plácido Domingo (The Three Tenors). Do vậy, ban tam ca lúc đầu lấy nghệ danh là "I Tre Tenorini" (Ba giọng tenor trẻ) rồi sau đó mới đổi tên thành nhóm Il Volo (nghĩa đen trong tiếng Ý là Chuyến bay).
Il Volo hẳn chắn là ban tam ca người Ý nổi tiếng nhất hiện nay. Các đợt trình diễn của họ trên sân khấu các nhà hát lớn tại nhiều châu lục luôn chật kín người xem trong 15 năm qua. Ban nhạc này đã có 8 album phòng thu và 5 tuyển tập, chinh phục hàng triệu khán giả trên toàn thế giới. Tính đến nay, ngoài 20 triệu đĩa nhạc bán chạy, Il Volo còn thu hút trên hai mạng Spotify và Deezer hơn 500 triệu lượt phát trực tuyến.
Về mặt các giải thưởng quốc tế, nhóm Il Volo đã nhận được nhiều đề cử giải Grammy Latin và Billboard Latin, nhiều bản ghi âm của nhóm đã đạt được mức đĩa bạch kim, trong đó "Grande Amore" là album phổ biến nhất trên toàn cầu, với hơn 5 triệu bản.
Trong 15 năm sự nghiệp, Il Volo đã có dip hát chung với nhiều ngôi sao quốc tế hàng đầu nhu Barbra Streisand, Céline Dion, Andrea Bocelli hay Gloria Estefan ... Ho từng tham gia các chương trình biểu diễn lớn ở Châu Âu, Hoa Kỳ hay Nam Mỹ và từng phát hành các album chuyên đề dành riêng cho ba giọng tenor (nam cao) huyền thoại Luciano Pavarotti, Plácido Domingo và José Carreras, cũng như nhà soạn nhạc phim người Ý Ennio Morricone ...
Ngay từ khi mới vào nghề, ban tam ca Il Volo đã thành danh nhờ sở trường hát nhạc pop opera và các giai điệu La Tinh lãng mạn. Album thứ tám mà nhóm này vừa trình làng cho thấy ban tam ca muốn mở rộng sân chơi khi kết hợp âm hưởng bán cổ điển với nhịp điệu pop rock. Trong số các giọng ca xuất thân từ các cuộc thi hát truyền hình, it có nhóm nào lại chinh phục nhanh và nhiều đến như vậy giới yêu nhạc trữ tình. Mới đó mà đã hơn một thập niên, ba cậu thiếu niên 15 tuổi thuở nào, lại chấp cánh bay cao, mạo hiểm vươn xa hướng tới những vì sao.
Làng nhạc Pháp đã mất đi một trong những ngòi bút sáng tác hàng đầu. Theo Hiệp hội các tác giả Pháp Sacem, nhà soạn nhạc Jean-Pierre Bourtayre đã qua đời hôm 5 tháng 3 năm 2024, hưởng thọ 82 tuổi. Sinh thời, ông nổi tiếng là người chuyên viết nhạc cho Claude François, trong đó có nhiều giai điệu ăn khách như "Magnolias for ever" (1977), nhạc phẩm chủ đề trích từ album cuối cùng của nam danh ca người Pháp.
Sinh năm 1942 tại thủ đô Paris, Jean-Pierre Bourtayre lớn lên trong một gia đình nghệ sĩ. Bố ông là một nhà soạn nhạc (Henri Bourtayre) từng làm việc với các danh ca thời truớc là Tino Rossi, Maurice Chevalier và Luis Mariano. Thừa hưởng tài năng của thân phụ, Jean-Pierre Bourtayre cũng chọn theo đuổi sự nghiệp sân khấu. Ban đầu, ông ghi âm một số sáng tác của chính mình, phát hành vài đĩa hát cuối những năm 1960 ngay vào lúc cực nh của phong trào nhạc trẻ tại Pháp. Có lẽ cũng vì không gặt hái được nhiều thành công, cho nên ông từ bỏ giấc mộng làm ca sĩ, rồi chuyển hẳn sang nghề sáng tác cho các nghệ sĩ khác ...
Vào năm 1971, bài hát "Un banc, un arbre, une rue" do ông sáng tác cho nữ ca sĩ Séverine, đại diện cho Monaco, đã đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision. Sự nghiệp của Jean-Pierre Bourtayre cất cánh đó, ông được mời sáng tác cho nhiều giọng ca ăn khách thời bấy giờ, ngoài hai album viết cho Michel Sardou trong đó có nhạc phẩm "Chanteur de jazz", ông đã soạn nhạc cho Sylvie Vartan, Johnny Hallyday, Hugues Aufray, Gérard Lenorman, Julien Clerc hay Marie Laforêt với phiên bản hoà âm gần đây của nhóm nhạc pop điện tử Bon Entendeur.
Song song với làng nhạc nhẹ, Jean-Pierre Bourtayre còn tham gia vào nhóm tác giả chuyên sáng tác nhạc phim điện ảnh và truyền hình (Le Grand Meaulnes 1967, Arsène Lupin 1971-1974). Đây là thời gian ông gặp gỡ và hợp tác với hai vợ chồng nghệ sĩ Françoise Hardy và Jacques Dutronc. Sau này, nam danh ca người Canada Garou ghi âm lại nhạc phẩm "Gentleman Cambrioleur" (Tên trộm hào hoa) do Jacques Dutronc trình bày lần đầu tiên. Đây là bản nhạc chủ đề nổi tiếng của loạt phim truyền hình "Arsène Lupin", gợi hứng sau đó cho phiên bản tân thời "Lupin" của Netflix với Omar Sy trong vai chính ...
Ngoài năng khiếu soạn nhạc, ông Jean-Pierre Bourtrayre còn là một nhà quản lý tài ba, khi được mời làm giám đốc nghệ thuật của hãng đĩa Barclays và sau đó là phó chủ tịch Hiệp hội các tác giả Pháp Sacem. Quan trọng hơn nữa, Jean-Pierre Bourtayre là nhà soạn nhạc "chính thức" của Claude François. Ông đã sáng tác hàng chục bài hát cho nam danh ca người Pháp, trong đó có nhiều giai điệu lập kỷ lục số bán, như "Une chanson populaire" (1973), "Le téléphone pleure" (1974), "Le chanteur malheureux" (1975) hay "Alexandrie Alexandra" (1978), phiên bản ghi âm lại gần đây nhất là của M.Pokora.
Trong 8 năm làm việc chung với Claude François (từ năm 1970 đến 1978), ông trở thành cố vấn cho danh ca Pháp, luôn theo dõi và nắm bắt kịp thời các trào lưu mới trong âm nhạc, giúp cho Claude François giữ vị trí danh ca hàng đầu. Khi muốn tham gia vào phong trào nhạc disco, Claude François lúc đầu định hát bằng tiếng Anh, nhưng nhà soạn nhạc Boutayre đã khuyên anh nên hát tiếng Pháp, nhằm tạo ra nét khác biệt với đa số các nghệ sĩ thời bấy giờ, vốn chuyên hát nhạc disco bằng tiếng Anh. Thậm chí, nhà soạn nhạc này còn thuyết phục được tác giả Étienne Roda-Gil đặt lời cho hai nhạc phẩm cuối cùng của Claude Francois là “Alexandrie Alexandra” và “Magnolias for Ever”. Sự hợp tác giữa hai gương mặt này đánh dấu đỉnh thành công thứ nhì trong sự nghiệp của đôi bên. Nhưng cái chết bất ngờ của Claude François vào tháng 3 năm 1978 do tai nạn ở nhà riêng, đã chấm dứt quan hệ hợp tác này.
Ngoại trừ trường hợp của nhạc phẩm kinh điển "Comme d'habitude", (trong tiếng Anh là nhạc phẩm My Way), bài "Magnolias for ever" nằm trong số những bài hát của Claude François được ghi âm lại nhiều nhất, kể cả các phiên bản cover gần đây của Julien Doré hay Emma Peters. Bài hát cũng được chuyển sang nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Việt bài có tựa là "Nhớ mãi Magnolia". Theo thời gian, mùi hương của mộc lan đọng lại trong ký ức của giới hâm mộ, đi sâu vào lòng người, tưởng chừng chỉ vài thập niên, nào ngờ vương vấn ngàn đời.
Một nữ một nam, đàn điện tử hay phím dương cầm, nhưng cả hai đều có tâm hồn nhạy cảm. Zaho de Sagazan là người Pháp, còn Nuit Incolore là người Thụy Sĩ gốc Việt. Điểm chung của hai nghệ sĩ mới ngoài 20 tuổi này là họ đã thành danh trong một thời gian ngắn. Công chúng không hề biết đến hai gương mặt này, cách đây hơn một năm.
Ở trên những đám mây mù bao phủ, luôn có một bầu trời rực rỡ tươi sáng, như Zaho de Sagazan từng hát trong nhạc phẩm "La Symphonie des éclairs" (Bản giao hưởng tia chớp). Chính với album đầu tay cùng tên, Zaho trở thành một trong những nghệ sĩ trẻ tuổi thành công nhất nhân kỳ trao giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp năm 2024.
Zaho de Sagazan sáng tác vượt trội dù non tuổi đời
Được đề cử ở 5 hạng mục, rốt cuộc Zaho đã đoạt 4 giải quan trọng, dành cho Tài năng đầy triển vọng, Mầm non sân khấu, Ca khúc nguyên tác và Album hay nhất trong năm. Sinh trưởng tại Saint-Nazaire, Zaho đã vượt lên trên một số nghệ sĩ hàng đầu của ngành công nghiệp ghi âm như Aya Nakamura hay Véronique Sanson. Theo ban tổ chức giải Victoires de la Musique, 2024 là một năm đầy hứa hẹn bất ngờ, nhưnf quan trọng hơn nữa, các album đầu tay đã được các nhà phê bình đồng loạt khen ngợi. Cũng như "La Loi de Papillon" của Nuit Incolore, tập nhạc "La Symphonie des éclairs’" được chứng nhận đĩa vàng vào đầu năm 2024, chỉ 6 tháng sau ngày phát hành.
Đối với Zaho, một người thích nghe nhạc điện tử (phong trào modular đến từ Berlin) những năm 1980 cũng như nhạc Pháp của Brel và Barbara, mọi chuyện bắt đầu vào năm 2015. Thời niên thiếu, Zaho de Sagazan đã mở một tài khoản Instagram theo lời khuyên của bạn bè để chia sẻ các bản nhạc cover cũng như các bản sáng tác gốc. Theo lời kể của Zaho, lúc bấy giờ trên mạng Instagram, người ta chỉ có thể làm video 15 giây. Vì vậy trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, Zaho phải tìm cách thu hút sự chú ý của người xem, đặc biệt là qua giai điệu hay ngôn từ. Năm 2019, khán giả khám phá giọng hát dịu dàng, với lối diễn đạt nhịp nhàng của Zaho trên những sân khấu liên hoan nhạc Pháp, như Francofolies tại La Rochelle, Mùa Xuân thành phố Bourges hay Rock en Seine ở vùng ngoại ô Paris.
Hai năm sau, cùng với hai người bạn (Alexis Delong và Pierre Cheguillaume của nhóm Inüit) Zaho ký hợp đồng ghi âm với Virgin Records, một chi nhánh của tập đoàn Universal. Trong năm 2023, cô ca sĩ trẻ tuổi đã thực hiện hơn 70 buổi biểu diễn cùng với nhóm. Zaho chính thức đăng quang tại lễ trao giải âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp hồi đầu tháng 02/2024 tại nhà hát La Seine Musicale. Dù còn non tuổi đời, nhưng Zaho lại biết lắng nghe con tim thổn thức nhạy cảm, rồi diễn dạt qua ngòi bút sáng tác, những ngẫu hứng bất chợt mà vượt trội.
Nhân kỳ Victoires de la Musique vừa qua, một tài năng khác là Nuit Incolore (Đêm không màu) cũng đã thu hút sự chú ý của giới phê bình lẫn công chúng. Sinh năm 2001 tại Việt Nam, anh tên thật là Théo Marclay và được một gia đình người Thụy Sĩ nhận làm con nuôi lúc anh mới 5 tháng tuổi.
Đêm không màu : giấc mộng ban ngày tràn đầy khát vọng
Ca sĩ kiêm tác giả trẻ tuổi đến từ bang Valais đã trở thành một trong những nhà soạn nhạc Pháp đầy hứa hẹn. Với nhạc phẩm "Dépassé", Nuit Incolore từng được xếp hạng cao trong chương trình truyền hình "Bài hát hay nhất năm 2023" (trên kênh TF1 bên cạnh những tên tuổi lớn như Juliette Armanet, Slimane, Kendji Girac hay Florent Pagny …..) Bản nhạc này đã thu hút hơn 25 triệu lượt truy cập trên mạng Spotify. Vào mùa hè năm ngoái, anh cũng được mời biểu diễn nhân Liên hoan nhạc Jazz Montreux. Đầu năm 2024, anh nhận đề cử Tài năng đầy triển vọng nhân kỳ Victoires de la Musique. Những thành công bước đầu ấy vẫn không làm cho Théo cảm thấy choáng ngợp hay đuối sức, anh vẫn thản nhiên đeo đuổi dòng nhạc của mình ....
Ở tuổi 23, Théo Marclay có một nét gì đó rất trưởng thành nếu không nói chín muồi so với những nghệ sĩ cùng trang lứa. Anh thường dành nguyên những buổi tối để sáng tác, đôi khi hăng say đến nỗi quên ngủ, thức khuya đến 4 giờ sáng. Người nghệ sĩ dao động giữa các nốt nhạc, thả hồn vào sáng tác, mặc cho giai điệu cuốn theo bản năng, giống như vũ điệu của một con bướm đêm nhạy cảm với siêu âm .....
Nhờ năng khiếu nghệ thuật ấy, anh đã nhanh chóng trở thành một trong những tác gia nổi bật trong khối Pháp ngữ. Sau khi đăng video lên mạng TikTok, tài khoản của anh hiện có hơn 350.000 người đăng ký theo dõi, ca sĩ này ký hợp đồng ghi âm với hãng đĩa Cinq7. Tánh tình trầm lặng, phong cách kín đáo, "Nuit Incolore" (Đêm không màu) là người đầu tiên ngạc nhiên trước việc công chúng hưởng ứng nhiệt tình những tập nhạc đầu tay "Insomnia" và "La loi du Papillon" của mình, phát hành trong năm 2023.
Gợi hứng từ thần tượng của anh là nam danh ca Charles Aznavour, Nuit Incolore không những trau chuốt giai điệu mà còn chắt lọc ca từ cho các tác phẩm của mình. Những giai điệu sáng tác luôn đồng hành cùng Théo ban đêm. Phải nói rằng bố mẹ anh quản lý một cửa hàng chuyên bán nhạc cụ ở thành phố Martigny, Thuy Sĩ. Vì vậy, việc anh ấy bắt đầu chơi piano là điều khá tự nhiên. Sau đó đến nhạc viện thành phố, rồi theo khoa sáng tác tại Đại học Fribourg. Nuit Incolore định nghĩa sáng tác của anh là nhạc pop gothic, kết hợp thế giới truyện tranh và phim hồi hộp trinh thám làm toát mồ hôi lạnh (của Hitchcock), những thứ luôn khiến anh mê mẩn, để rồi phác họa những khung trời âm thanh "bí ẩn" ....
Sau khi kết thúc chuyến lưu diễn ở Pháp, Théo chuẩn bị biểu diễn trên sân khấu Casino de Paris vào cuối tháng 04/2024. Anh đang thực hiện một album gồm toàn là những sáng tác mới. Théo cho biết được hát trên sân khấu với một dàn nhạc giao hưởng vẫn là niềm khát vọng lớn nhất trong đời.
Ở trên những đám mây mù, màn "đêm không màu" bao phủ, phải chăng lúc nào cũng có một bầu trời rực rỡ tươi sáng, Đằng sau những giai điệu man mác trầm buồn của Zaho de Sagazan, uẩn khúc tâm hồn của Nuit Incolore, lại thấp thoáng ánh mắt huy hoàng, tia chớp lạc quan.
Cùng với nhiều nghệ sĩ Canada hát tiếng Pháp như Isabelle Boulay hay Lara Fabian, Natasha St Pier dành khá nhiều thời gian để đi hát ở Paris, nơi cô có một lượng người hâm mộ trung thành đông đảo. Thành danh tại Pháp từ đầu những năm 2000 bằng việc hợp tác với hai anh em tác giả Goldman, Natasha St Pier nhờ hát nhạc kịch trong thời gian đầu mà có được thêm nhiều kinh nghiệm sân khấu.
Khuôn mặt của Natasha St Pier không còn gì xa lạ đối với khán giả Pháp, nhất là năm nay, cô là một trong những thí sinh tham gia cuộc thi nhảy ''Danse avec les Stars'' của chương trình khiêu vũ quốc tế Dance with the Stars (phiên bản tiếng Việt là ''Bước nhảy hoàn vũ''). Sinh trưởng tại bang New Brunswick Canada, Natasha bắt đầu đi hát từ năm lên 8 và ghi âm đĩa nhạc đầu tay năm cô mới 12 tuổi.
Sau những bước đầu đầy hứa hẹn tại quê nhà, sự nghiệp của Natasha St Pier đã đạt đến tầm quốc tế, khi vào năm 17 tuổi cô được chọn đóng một trong những vai quan trọng của vở nhạc kịch ''Notre Dame de Paris'' (Nhà thờ Đức Bà Paris) của hai tác giả Luc Plamondon và Richard Cocciante. Hồi tưởng lại giai đoạn này, cô đã từng ghi âm nhạc phẩm ''Le temps des Cathédrales'' (Kỷ nguyên thánh đường) trên loạt tuyển tập ''Croire'' nói về đức tin của người theo đạo Chúa.
Cùng với đoàn kịch Nhà thờ Đức Bà Paris, Natasha đã lưu diễn Canada và vương quốc Anh, tạo cho cô cơ hội gặp gỡ và hợp tác ghi âm với các nhóm tác giả nuớc ngoài. Sau khi đại diện cho nước Pháp nhân cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision năm 2001, Natasha thực sự vươn cánh bay cao khi hợp tác với nhóm sáng tác của nam danh ca Pascal Obispo. Họ đã cùng thực hiện 5 album phòng thu và hầu hết đều đã thành công lớn trên thị trường khối Pháp ngữ, trong đó có các bản ghi âm với Florent Pagny (nhạc phẩm Là bas của Jean Jacques Goldman), hay những sáng tác mới của nam danh ca kiêm tác giả Calogero …
Trong vòng hai thập niên đi hát tại Pháp, Natasha St Pier đã cho phát hành 13 album phòng thu, trong đó có album gần đây nhất là tuyển tập nhạc Giáng Sinh phát hành hồi cuối năm 2023. Giai đoạn thứ hai trong sự nghiệp của Natasha St Pier bắt đầu từ năm 2012 trở đi, khi Natasha hợp tác với nhiều tác giả khác, trong đó có Grégoire và Mickael Miro, thoát khỏi tầm ảnh hưởng của ngòi bút Pascal Obispo.
Đây cũng là giai đoạn Natasha St Pier tham gia vào khá nhiều dự án ghi âm tập thể, hoặc các album song ca với thế hệ đàn anh như Enrico Macias, Roch Voisine, Claude Dubois, Didier Barbelivien trong album tưởng niệm Jean Ferrat và nhất là với nam danh ca người Bồ Đào Nha Tony Carreira, khi họ cùng ghi âm lại bản song ca ''Sous le Vent'' (Thuyền xuôi gió) vốn đã vô cùng ăn khách trước đó qua hai giọng ca thần tượng là Céline Dion và Garou.
Còn trong lãnh vực nhạc kịch, Natasha St Pier từng ghi âm lại các giai điệu ăn khách nhất trích từ hai vở nhạc kịch của tác giả người Pháp Félix Gray. Lối diễn đạt đầy sức thuyết phục của Natasha lọt vào tai nhà sản xuất người Anh Steve Mac. Ông là người đã mời Natasha hợp tác với nhóm Il Divo khi ban nhạc này lên kế hoạch ghi âm một album chuyên đề nhạc kịch. Natasha được mời hát chung với nhóm Il Divo nhạc phẩm ''Aimer'' ca khúc chủ đề của vở nhạc kịch Chuyện tình ''Romeo & Juliet'' của tác giả Gérard Presgurvic. Bài hát này sau đó được dịch sang nhiều ngôn ngữ, trong tiếng Hàn do Im Tae-Kyung et Kim So-Hyun ghi âm. Còn trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Nguyễn Trần Tuấn Kiệt đặt thêm lời thành bản nhạc mang tựa đề ''Yêu là'' …
Tuy mới ngoài 40 tuổi, nhưng thật ra Natasha St Pier đã có đến 30 năm tay nghề. Sau khi sinh con, Natasha muốn dành thêm thời gian cho gia đình và như vậy cô vẫn tiếp tục hoạt động nhưng lai chọn những dự án ít buộc cô phải xa lánh mái âm gia đình (chồng con). Trong những album gần đây, Natasha không còn chọn nhạc pop mà lại thiên về những dự án hoà âm phối khí theo lối giao hưởng thính phòng. Những giai điệu với phần nhạc đệm gần như bán cổ điển lại hợp với cách diễn đạt của Natasha, trau chuốt từng câu, nhẹ mà vững nhịp, làn hơi mềm mà vẫn mạnh, luôn rõ chữ tròn vành … một trong những chất giọng đến từ vùng đất lạnh mà hơi ấm ngập tràn, biểu cảm nồng nàn ...
Trong nhóm sáng tác nhạc Pháp của Pascal Obispo (gồm các ngòi bút Zazie, Patrice Guirao và Lionel Florence), Calogero là nghệ sĩ trẻ tuổi nhất nhưng đồng thời có lối soạn nhạc phong phú, đa dạng hơn ai hết. Giới chuyên nghiệp đã hai lần vinh danh Calogero như một trong những tác giả hàng đầu trong hai thập niên gần đây. Trong năm qua, Calogero cũng từng được mời làm chủ tịch danh dự của Lễ trao giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp.
Sinh năm 1971 tại vùng ngoại ô Grenoble, Calogero vào nghề ca hát từ năm 17 tuổi, nhờ vào sự dìu dắt của nữ danh ca France Gall. Sau một thời gian đi hát với ban nhạc trẻ The Charts, Calogero tách ra riêng và khởi nghiệp hát solo năm anh 28 tuổi. Trong vòng 15 năm qua, tính từ 1998 cho đến 2023, Calogero đã trình làng 9 album phòng thu, trong đó có đến 4 album đạt mức đĩa kim cương, tương đương với một triệu bản cho mỗi tập nhạc.
Ngoài việc ghi âm các sáng tác của mình, Calogero còn soạn nhạc cho nhiều nghệ sĩ khác. Cũng như bậc đàn anh là Julien Clerc, Calogero có sở trường soạn giai điệu, nhưng lại ít khi nào đặt lời. Có lẽ cũng vì thế mà ngay từ những năm mới vào nghề, Calogero đã mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều thế hệ tác giả : quan trọng nhất vẫn là các nghệ sĩ Françoise Hardy (Une dernière chance, 2002), Jean-Jacques Goldman (C'est d'ici que je vous écris, 2010), Marc Lavoine (Nathan, 2011) hay Benjamin Biolay (Mauvais perdant, 2020)... Gần đây hơn, khi được mời soạn nhạc cho Serge Lama, Calogero đã gợi hứng khá nhiều từ nhạc phẩm Les ballons rouges (Những quả bong bóng đỏ) để soạn giai điệu Le souvenir (Kỷ niệm) cho người nghệ sĩ mà từ thời còn nhỏ anh vẫn xem như là thần tượng.
Calogero đoạt giải sáng tác 2017 của Hiệp hội SACEMTừ đầu những năm 2000, Calogero đã tham gia vào hầu hết các dự án ghi âm hàng đầu, nói cách khác, các album lập kỷ lục số bán trên thị trường Pháp đều có sự góp mặt của anh. Về phía các nghệ sĩ từng hát nhạc của Calogero có Patrick Fiori, Johnny Hallyday, Pascal Obispo, Hélène Ségara, Natasha St-Pier và dĩ nhiên là Florent Pagny. Để đánh dấu cho mối quan hệ hợp tác chặt chẽ này và đồng thời là tình bạn trong 20 năm qua, nam danh ca Florent Pagny đã mời Calogero tham gia vào các tuyển tập song ca của mình (Châtelet les Halles).
Trong lối tiếp cận âm nhạc, các giai điệu do Calogero sáng tác thường mang đậm chất pop rock, nhạc pop của Pháp nhưng với lối chơi đàn bass lướt nhịp nhanh nhẹn của nhạc rock Anh - Mỹ, từ khi còn nhỏ anh tự học cách chơi bass vì rất ngưỡng mộ Paul McCartney, một trong 4 thành viên nhóm Tứ Quái The Beatles. Vì không giỏi đặt lời cho nên anh phải nhờ đến nhiều ngòi bút khác, nhưng xét về mặt giai điệu, Calogero sáng tác chẳng những rất vững mà còn khá phong phú tài tình trong cách dùng hợp âm.
Trong số những nghệ sĩ thời trước mà anh ngưỡng mộ, ngoài Maxime Le Forestier (Mon frère, 2011), Michel Delpech (Ce lundi-là, 2016), Henri Salvador (Syracuse, 2017), Julien Clerc (Ma préférence, 2019), Calogero còn thấm nhuần một phần nào đó ảnh hưởng của William Sheller (Un homme heureux, 2023).
Về mặt phong cách, Calogero tuy là một trong những tác giả thành công nhất trong hai thập niên qua, nhưng anh vẫn chọn một cuộc sống kín đáo, không thích phô trương. Điều đó giải thích vì sao anh rất kính trọng nhiều nghệ sĩ đàn anh, quý mến truớc hết nhân cách của họ. Nơi Serge Lama hay Adamo, các nam danh ca này đều có hơn nửa thế kỷ sự nghiệp, nhưng họ vẫn chừng mực khiêm tốn, luôn nâng đỡ thế hệ sau. Calogero không chỉ thích đi tìm những giai điệu đẹp như mộng, mà con cần nhìn thấy trong những tấm gương ngời sáng thành công, giá trị chân phương của những tấm lòng.
Cho dù là nhạc nhẹ, bán cổ điển hay nhạc hòa tấu không lời, nhưng chỉ cần tiết tấu nhẹ nhàng, giai điệu tươi sáng, tâm hồn người nghe lại chợt liên tưởng đến hơi thở mùa xuân hồi sinh trên phím đàn, quyện cung tơ lãng mạn… Mời quý thính giả và các bạn cùng Góc vườn Âm nhạc tìm đến những giai điệu nhạc nước ngoài lời Việt với hình tượng mùa xuân, một chủ đề luôn gợi hứng cho nhiều thế hệ tác giả.
Niềm lạc quan trong cuộc sống hiện tại hay những năm tháng hạnh phúc dù chỉ là kỷ niệm, thường là động lực thúc đẩy các nhạc sĩ viết lên những giai điệu thiết tha yêu đời. Trong số này, có nhạc phẩm « Khi mùa xuân trở lại ». Trong nguyên tác « Khi mùa xuân trở lại » là một giai điệu nhạc Pháp, do nam danh ca người Bỉ gốc Ý Adamo sáng tác vào năm 1989.
Được trích từ album « Sur la route des étoiles » (Trên con đường đầy sao sáng), bài hát « Quand le printemps revient » của Adamo thường hay bị nhầm lẫn với nhạc phẩm « Dès que le printemps revient » (Ngay khi mùa xuân về) do nam danh ca Hugues Aufray sáng tác và ghi âm để đại diện cho Luxembourg nhân Cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision năm 1964. Tại Pháp, ngoài các sáng tác cho riêng mình, Hugues Auffray còn nổi tiếng nhờ chuyển các bài hát của Bob Dylan sang lời Pháp cũng như sáng tác cho Johnny Hallyday.
Khi mùa xuân trở lại, bản gốc của AdamoBài hát « Quand le printemps revient » của Adamo là một bản tình khúc chứa chan hoài niệm, nhìn mùa xuân đang đến, mà nghe trong tâm hồn sống lại những vết đau ngọt ngào của một mối tình đã mất. Thế nhưng, mùa xuân cũng báo hiệu cho sự khởi đầu, biết đâu chừng con tim đã vui và muốn yêu trở lại. Trong tiếng Việt, tác giả Khúc Lan đã Việt hóa bài này thành nhạc phẩm « Khi mùa xuân trở lại » từng được nam ca sĩ Lâm Nhật Tiến ghi âm và trình bày.
Trong số các ngòi bút Pháp trứ danh, có tác giả Jacques Plante từng viết lời cho hàng loạt giai điệu kinh điển như « Tango Xanh » cho Tino Rossi, « Marjolaine » cho Dalida hay « La Bohème » (Kiếp phóng lãng) cho Charles Aznavour. Ngoài nhạc phẩm « Dès que le printemps revient » viết với Hugues Aufray, ông còn đặt lời cho giai điệu nổi tiếng « Domino » của nhạc si Louis Ferrari.
Người đầu tiên ghi âm bài này là André Claveau, giọng ca crooner nổi danh vào thập niên 1950. Bài hát sau đó được tác giả người Mỹ Don Raye đặt thêm lời tiếng Anh, được các nam danh ca Tony Martin, Bing Crosby và nhất là Andy Williams lần lượt ghi âm vài năm sau đó.
Trong tiếng Pháp, « Domino » là cách gọi thân mật tên của tình nhân Dominique, người mà theo cách mô tả của tác giả là tiếng gọi của con tim, cho giai điệu tình yêu rạo rực tâm hồn, bao tiếng xuân cùng hát trong ta (le printemps chante en moi). Được sáng tác theo điệu valse, nhạc phẩm nổi tiếng của Pháp có ít nhất ba lời trong tiếng Việt.
Tác giả Hương Huyền Trinh, cô ruột của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên từng đặt lời Việt cho bài này trước năm 1975 với tựa đề « Khúc nhạc muôn đời » với những câu như sau : Trăng đã lên, trăng đã lên. Hương ngát thơm bao u huyền vườn thu thiết tha. Trăng sáng soi trên lá hoa. Dâng nhớ bao câu mong chờ nhạc xưa đã qua. Xa xôi rồi nhớ thương, ai mong chờ vấn vương. Riêng có ta tim xót xa, luyến thương bao khúc ca xưa đã phai nhòa…
Domino : Ca từ Xuân trong các bản phóng tác tiếng ViệtSau năm 1975, đến phiên tác giả Hà Quang Minh đặt thêm lời thứ nhì cho bài hát tiếng Pháp thành nhạc phẩm « Người tình Domino ». Domino, anh hỡi anh, trong gió xuân em ôm từng lời ca thiết tha. Ôi ánh dương muôn sắc pha, cho trái tim em theo nhịp tình đôi chúng ta. Hãy buông gần cánh tay cho em tình ngất ngây …. Anh hỡi anh, ôm xiết em, rót cho em chén yêu đương giữa xuân nồng.
Về phần mình, tác giả Phạm Lê Phan cũng gợi hứng từ nhạc phẩm « Domino » để đặt thêm lời Việt thứ ba thành bài hát mang tựa đề « Hội Mùa Hoa » : Ta tới đây, vui với nhau, nghe nắng xuân reo tưng bừng trên muôn đóa hoa. Xiêm áo bay, theo tiếng ca, ôi tóc em xanh vương dài như mây thướt tha. Nghe tâm hồn đắm say, dâng men tình ngất ngây. Tung bước vui, tay nắm tay, mến thương trao ái ân nồng cháy trong hồn...
Cả ba phiên bản đều đẹp như một bài thơ tình, duy chỉ có « Hội mùa hoa » và « Người tình Domino » mới dùng hình tượng mùa xuân tươi thắm, khắc họa tình yêu mãnh liệt, lan tỏa hương nồng say đắm, cho dù lời Việt không hẳn giống như bản nguyên tác tiếng Pháp của Jacques Plante.
Trung thành hay thoát ý so với nguyên tác, chuyện đặt lời là còn tùy theo hoàn cảnh chấp bút sáng tác cũng như cảm hứng nhất thời của từng tác giả. Việc chọn một khúc nhạc hòa tấu để đặt lời cũng là một cách để không bị trói buộc hay lệ thuộc vào bản nhạc gốc. Về điểm này tác giả Thích Chân Quang đã chọn một bản độc tấu đàn ghi ta để đặt thêm lời Việt thành nhạc phẩm « Lời hát cho mùa xuân » do nam ca sĩ Dzoãn Minh trình bày.
Dùng nhạc hòa tấu không lời để làm giàu nhạc xuânTrong nguyên tác, giai điệu này là bản nhạc hòa tấu mang tựa đề « Quelques notes pour Anna » do nghệ sĩ Nicolas de Angelis ghi âm. Một trong những đồng tác giả bài này là nhạc sĩ người Pháp Jean Beaudlot. Sau một thời gian đi hát nhưng không thành công, ông mới chuyển qua sáng tác cho nhiều nghệ sĩ khác trong đó có Michèle Torr (J'aime) hay Joe Dassin (À toi). Quan trọng hơn nữa, ông tham gia nhóm sáng tác của Paul de Senneville và Olivier Toussaint để viết nhạc cho Richard Clayderman (piano), Jean Claude Borelly (kèn đồng) và Nicolas de Angelis (ghi ta).
Khúc nhạc hòa tấu không có liên quan gì đến mùa xuân, nhưng giai diệu đầy âm sắc dịu dàng tươi sáng đã gợi hứng cho tác giả Thích Chân Quang đặt lời Việt thành một bản nhạc xuân : Mùa xuân triệu hoa thắm hái dâng người. Lời xuân là muôn tiếng hát dâng đời… Mùa xuân chờ nhau góc núi chân trời. Gọi nhau tìm trong ánh mắt trông vời. Ngày mới xin mắt ai thôi lệ rơi Vì có những bước chân reo tiếng vui.
Nhờ khéo được đặt lời, cho nên ca từ trong những khúc nhạc gợi hứng từ điệu Tây, lại thêm đậm đà ý ta. Một số tác giả đã thành công trong nỗ lực đem những giai điệu nhạc ngoại dù là nhạc nhẹ, bán cổ điển hay nhạc hòa tấu đến gần hơn với thính giả người Việt, đồng thời làm giàu thêm bộ vựng tập nhạc xuân, sáng tác trong tiếng Việt… Lời nhạc tươi thắm muôn màu, thì thầm vương vấn hồn hoa, cho bao hương non sớm nồng, lộc xuân càng thơm hơi ấm.
Sau 60 năm sống cùng với ánh đèn sân khấu, thần tượng nhạc Pháp Sylvie Vartan tuyên bố giải nghệ, thực hiện đợt biểu diễn cuối cùng trong sự nghiệp của mình. Với tên gọi "Je tire ma révérence" hiểu theo nghĩa ''Giã từ sân khấu'', đợt biểu diễn này sẽ diễn ra vào cuối tháng 11 năm 2024 tại nhà hát Dôme de Paris (tiền thân là cung biểu diễn Palais des Sports).
Cùng với Françoise Hardy và Sheila, Sylvie Vartan là một trong những thần tượng nhạc Pháp hiếm hoi trụ vững từ những năm 1960 cho tới tận bây giờ. France Gall đã qua đời vào năm 2018. Trong vòng 60 năm, Sylvie nhờ phong cách duyên dáng, đã mê hoặc nhiều thế hệ khán giả với những giai điệu lãng mạn, nhẹ nhàng. Nhờ vậy mà Sylvie đã tạo dựng được một thành phần người hâm mộ đông đảo trung thành, trong nhiều thập niên qua. Tạp chí Melody TV từng nhận xét rằng, khi lên sân khấu, Sylvie nếu muốn, không cần phải hát, vì khách hâm mộ thuộc lòng hầu như tất cả các bản nhạc của Sylvie, trong đó có ít nhất ba mươi nhạc phẩm nổi tiếng, gắn liền với tên tuổi của ngôi sao người Pháp gốc Bulgary.
Ở tuổi 79, (Sylvie mừng sinh nhật lần thứ 80 vào tháng 08/2024) nữ danh ca vừa thông báo trên tài khoản Instagram, hẹn gặp lại các fan của mình trong đợt biểu diễn cuối cùng như một lời tạ từ, một giai điệu tri ân. Một cách bồi hồi xúc động, Sylvie cho biết năm tháng trôi qua rất nhanh, mới đó mà đã 60 năm sự nghiệp ca hát. Nữ danh ca vào nghề từ năm 16 tuổi, rồi lớn lên trong tình cảm ưu ái của khán thính giả, niềm đam mê nhiệt huyết từ nhưng năm tháng đầu đời chính là động lực giúp cho Sylvie muốn cất tiếng hát cho đến hơi thở cuối cùng, chừng nào sức khỏe còn cho phép.
Đợt trình diễn cuối cùng của Sylvie Vartan sẽ được tổ chức từ ngày 08/11 đến 10/11/2024, và có nhiều khả năng một số khách mời quan trọng sẽ xuất hiện trên sân khấu lần này bên cạnh Sylvie, ít ra để thực hiện các bản song ca như nhạc phẩm ''Sang pour Sang'' trong đó Sylvie cùng biểu diễn với con trai là nam ca sĩ David Hallyday, hoặc dưới dạng song ca ảo nhạc phẩm "J'ai un problème" mà Sylvie từng ghi âm với chồng là Johnny Hallyday vào năm 1973. Hai nghệ sĩ này chính thức chia tay nhau 7 năm sau đó. Michel Mallory, tác giả của bài hát ''J'ai un problème'' hiện là người đỡ đầu cho nam ca sĩ Jean Baptiste Guégan vốn có giọng ca giống hệt Johnny. Cho nên, nhiều fan hy vọng rằng nam ca sĩ này sẽ góp mặt trong đợt biểu diễn sắp tới.
Đại sứ nhạc PhápTrong vòng 60 năm sự nghiệp, Sylvie Vartan đã ghi âm hơn 45 album phòng thu và bán khoảng 50 triệu đĩa nhạc trên thế giới. Quan trọng hơn nữa, Sylvie đã không ngừng thay đổi phong cách biểu diễn nhưng vẫn trung thành với hướng đi nghệ thuật của mình. Sylvie từng hợp tác với nhiều thế hệ tác giả qua nhiều thập niên khác nhau, như Aznavour những năm 1960, Jean Renard, Michel Mallory, Pierre Delanoe những năm 1970, Richard Cocciante những năm 1980 cho tới thế hệ các nữ tác giả sau này như La Grande Sophie hay Clara Luciani trên album gần đây nhất mang tựa đề ''Merci pour le regard'' , phát hành vào năm 2021. Có lẽ cũng vì thế mà đợt biểu diễn vào tháng 11 tới được chia thành 6 phần, mỗi hoạt cảnh sân khấu phản ánh những nét tiêu biểu cho từng thập niên sự nghiệp của nữ danh ca.
Ngoài những thành công trong quá khứ, Sylvie Vartan đã gây dựng được một di sản âm nhạc đa dạng phong phú, giúp cô luôn giữ một chỗ đứng quan trọng nếu không nó là có tầm ảnh hưởng đáng kể trong làng nhạc Pháp. Trong sự nghiệp của mình, Sylvie Vartan luôn tìm dấu gạch nối giữa quá khứ và hiện tại, nuôi dưỡng tính sáng tạo nhờ hợp tác với các thế hệ tác giả, tìm tòi khám phá qua việc thử nghiệm với nhiều dong nhạc khác nhau.
Sylvie Vartan không chỉ là thần tượng của thời kỳ vàng son nhạc trẻ thập niên 1960, mà còn là đại sứ của làng nhạc Pháp ở nước ngoài, đặc biệt là ở Đông Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Liban hay Nhật Bản. Di sản âm nhạc của Sylvie đủ phong phú về mặt thể loại để truyền cảm hứng lâu dài cho nhiều nghệ sĩ trong tương lai. Một cách nhẹ nhàng khoan thai, hình bóng của Sylvie đã đi vào huyền thoại. Những dư âm vọng lại, chợt vấn vương lòng người, cho tâm hồn nhớ mãi, từ lúc nào không hay.
From the publisher's feed
Góc vườn âm nhạc của RFI

42 Listeners

29 Listeners

221 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

14 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

62 Listeners

0 Listeners

6 Listeners

0 Listeners