
Sign up to save your podcasts
Or


Sau 8 tuần lễ thi đấu trong bầu không khí hào hứng sôi nổi, cuối cùng nam ca sĩ Agustín Galiana đã về đầu cuộc thi hát truyền hình "Mask Singer". Điều gây bất ngờ năm nay là người đoạt giải nhất chương trình thi hát ‘’Ca sĩ Mặt nạ’’ mùa thứ 6, phiên bản tiếng Pháp lại là một giọng ca Tây Ban Nha.
Sinh tại thành phố Alicante, miền đông nam Tây Ban Nha, Agustín Galiana lớn lên trong một gia đình trí thức, bố mẹ anh đều là giáo viên. Từ thời còn nhỏ, anh được gia đình khuyến khích theo đuổi con đường nghệ thuật. Agustín bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình năm anh tròn 20 tuổi. Anh xuất hiện trong nhiều dự án kịch nghệ, điện ảnh và truyền hình, tuy nhiên không có vai diễn nào thực sự giúp cho anh trở thành một diễn viên hàng đầu. Đến năm 2010, anh ký hợp đồng ghi âm nhạc pop và xuất bản hai album tiếng Tây Ban Nha.
Năm 2012, Agustín Galiana lúc ấy đã ngoài 30 tuổi, quyết định rời Tây Ban Nha đến Paris lập nghiệp. Thời gian đầu khá là khó khăn, mỗi lần tham gia casting, Agustín thường hay bị từ chối, vì cách phát âm tiếng Pháp của anh còn hơi khó hiểu, mang nhiều giọng Tây Ban Nha.
Hầu như trong hai năm đầu sau khi đến Pháp, Agustín đã dốc sức học tiếng Pháp và nhất là luyện cách phát âm. Nhờ vào nỗ lực này, vào năm 2015, anh được mời tham gia loạt phim truyền hình nhiều tập “Clem”, vai nhân vật Adrián Muñoz bên cạnh nữ diễn viên Victoria Abril, nổi tiếng nhờ bộ phim ‘’Talons Aiguilles” của đạo diễn trứ danh Tây Ban Nha Pedro Almodóvar.
Sau này, Agustín có ghi âm lại bản nhạc chủ đề bộ phim này là ‘’Piensa en mi’’. Một cơ hội khá bất ngờ cho Agustín Galiana, vì theo hợp đồng ban đầu, anh đóng vai phụ và chỉ xuất hiện trong vài tập. Nhưng rốt cuộc, trước sự hưởng ứng của khán giả, Agustín trở thành một trong những vai chính trong 8 mùa phim sau đó, từ năm 2016 đến năm 2023.
Vào năm 2018, Agustín Galiana được mời tham gia chương trình"Danse avec les Stars" (Khiêu vũ cùng thần tượng) phiên bản tiếng Pháp của ‘’Dance with the Stars’’. Nhờ năng khiếu diễn xuất cộng thêm nỗ lực tập nhảy, Agustín đã giành lấy giải nhất cuộc thi này. Giải quán quân cũng đã thúc đẩy nhiều dự án khác, giúp cho anh ghi âm album đầu tay trong tiếng Pháp, thành công với một số sáng tác mới như "C'était hier" (Mới hôm qua) hay là "Je n'aime que toi" (Chỉ yêu mình em).
Hai năm sau, Agustín phát hành album mang tên "Plein soleil" - Ngập nắng (2020) một tuyển tập song ngữ xen kẽ những bài hát nổi tiếng của Pháp và Tây Ban Nha. Chính album này tạo cơ hội cho thính giả ở Pháp khám phá tài năng ca hát của anh, mặc dù Agustín đã ghi âm trước đó hai album bằng tiếng Tây Ban Nha ... Trong số những bản hát lại quen thuộc, có "Porque te vas" (bài hát nổi tiếng của Jeanette) và "Duel au soleil" (bản nguyên tác của Étienne Daho), thực sự giúp cho Agustín chinh phục người nghe.
Mùa hè năm 2024, sự kiện Agustín Galiana đoạt giải nhất cuộc thi Mask Singer, một lần nữa tạo thêm sự quan tâm của công chúng với các dự án âm nhạc của anh. Tháng 05/2024, anh đã cho phát hành album phòng thu thứ ba mang tựa đề "Enamorado" (Đang yêu). Lần này, Agustín tiếp tục hợp tác với Nazim Khaled, Corson và John Mamann, nhóm tác giả từng viết nhiều bài hát ăn khách cho Kendji.
Nếu như Claudio Capéo từng thành công với album song ngữ Pháp-Ý, thì Agustín Galiana khai thác cùng một bí quyết, với một nét riêng là phối những bài hát trữ tình theo nhịp điệu pop Latinh. Album thứ ba này xen kẻ sáng tác mới và một số bài cover, chẳng hạn như bài “Ti Amo’’ của Umberto Tozzi, qua phiên bản tiếng Tây Ban Nha.
Cũng trên album này, lần đầu tiên anh tham gia viết lời và đồng sáng tác một số ca khúc, như thể anh muốn mở rộng sân chơi cũng như tầm nhìn nghệ thuật của mình. Dường như, Agustín Galiana không tự bó mình trong một tuýp vai diễn, tài năng của anh cũng không muốn bị giới hạn trong một lãnh vực duy nhất, giai điệu con tim luôn nung cháy niềm đam mê, qua âm thanh thử nghiệm trong tìm tòi mạo hiểm.
"Otro Camino" (có nghĩa là Con đường khác) là tựa đề album phòng thu thứ 13 của nhóm Chico and the Gypsies. Kể từ mùa xuân 2024, người nghe có thể khám phá lại phiên bản nâng cấp (deluxe) của tập nhạc này, bao gồm một số bài hát bổ sung cho 13 bản nhạc ban đầu, xen kẻ sáng tác mới với những bản ghi âm lại.
Trong những album trước là ''Unidos'' (Hợp nhất) và ''Mi Corazon'' (Tim ta), nhóm Chico and the Gypsies đã thử kết hợp âm thanh sở trường của họ là rumba catalana với các làn điệu truyền thống của các nước Bắc Phi và Trung Đông, hoặc phối theo các nhịp điệu tân thời hơn như bachata và reggeatón. Sau một thời gian khám phá những chân trời âm nhạc khác lạ, lần này nhóm Chico and the Gypsies trở lại với dòng nhạc ''du mục'' (gipsy) từng làm nên tên tuổi của họ, gầy dựng được một cộng đồng người hâm mộ trung thành và nhờ vậy, sự thành công của nhóm kéo dài trong nhiều thập niên liền.
Đối với ban nhạc Chico and the Gypsies, album ''Otro Camino'' (Con đường khác) đánh dấu 30 năm thành công trong sự nghiệp : một hành trình âm nhạc thú vị, hợp tác với nhiều tên tuổi hàng đầu của làng nhạc Pháp từ Nana Mouskouri cho đến Florent Pagny hay Patrick Fiori. Sau 30 năm tồn tại, nhóm này đã gặt hái thành tích 40 đĩa vàng và hơn 20 triệu album được bán trên thế giới.
Còn đối với nghệ sĩ chơi đàn ghi ta Chico (tên thật là Jalloul Chico Bouchikhi), thực ra sự nghiệp của ông đã kéo dài trong 40 năm. Cùng với các anh em nhà Reyes, Chico Bouchikhi đã đồng sáng lập ban nhạc Gipsy Kings (họ Reyes trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là Những vì Vua). Nhóm Gipsy Kings đã đi biểu diễn trên khắp thế giới, nhưng sự thành công phi thường của nhóm cũng đã làm nảy sinh nhiều mối bất đồng nội bộ. Điều đó buộc Chico Bouchikhi, một trong những thành viên sáng lập, phải tách ra riêng.
Ông rời nhóm Gipsy Kings vào năm 1991 .... làm lại từ đầu bằng cách thành lập một ban nhạc khác, mang tên là Chico and the Gypsies. Nếu như ông không được quyền khai thác thương hiệu của nhóm Gipsy Kings, thì Chico vẫn giữ nguyên cốt cách ban đầu, khai thác sở trường ghi ta du mục để phổ biến dòng nhạc rumba catalana.
Một cách khá bất ngờ là khi trở lại sân khấu cùng với một thành phần nghệ sĩ biểu diễn khác, nhóm Chico & the Gypsies lại thành công trong nhiều năm liên tục, như thể sân chơi khá rộng để cho hai ban nhạc cùng khai thác một dòng nhạc, có đủ ''đất dụng võ'', đủ không gian để biểu diễn mà không giẫm chân nhau.
Trong hành trình âm nhạc của nhóm Chico & the Gypsies, nguyên quán của họ là thành phố Arles luôn là một nguồn cảm hứng dồi dào. Dù được mời đi biểu diễn ở khắp nơi, nhưng nhóm này vẫn luôn gắn bó với nơi họ từng sinh ra và lớn lên. Ban nhạc đã thành lập một ''Ngôi làng Du mục'' bên bờ sông Rhône, với một sân khấu tên là ''Patio de Camargue''. Nhà hát này là nơi tổ chức nhiều buổi biểu diễn và từ đó mà phát hiện thêm nhiều tài năng mới cũng muốn đeo đuổi truyền thống chơi dòng nhạc rumba catlana.
Nhìn lại, album ''Otro Camino'' tuy có nghĩa là Con đường khác, nhưng hóa ra lại là lộ trình tìm về cội nguồn. Chặng đường cuối trời càng thênh thang, tâm hồn du mục lại càng cảm thấy nhẹ nhàng. Đối với những người nghệ sĩ thường hay biền biệt phương xa, không chi bằng những ngõ lối, sớm đưa chân ta về nhà
Trong làng nhạc Ý, "E Penso a te" (Anh mơ về em) là một trong những bài hát được phóng tác nhiều nhất sang tiếng nước ngoài. Trong tiếng Pháp, bài này được chuyển thành nhạc phẩm "Je pense à toi", do Claudio Capéo thu thanh vào năm 2022 trên album song ngữ Pháp-Ý của anh. Trong tiếng Việt, bài được tác giả Khúc Lan (có nguồn ghi là tác giả Lữ Liên) đặt lời thành nhạc phẩm "Mơ về em" từng được khá nhiều nghệ sĩ trong nước và ở hải ngoại ghi âm lại.
Nhạc phẩm "E Penso a te" (Anh mơ về em) do hai nhạc si Lucio Battisti và Mogol đồng sáng tác vào mùa hè năm 1970. Bài hát này ra đời trong một thời gian ngắn, chỉ khoảng 20 phút, nhân một chuyến lái xe trên tuyến đường cao tốc từ thành phố Milano đến bờ hồ Como, cách nhau gần 50 cây số. Ngồi trong xe, hai tác giả người Ý sáng tác bài hát này gần như theo ngẫu hứng, họ cùng hát phụ họa ngân nga từng câu chữ theo giai điệu du dương.
Sinh trưởng ở vùng Rieti nel Lazio, miền trung nước Ý, Lucio Battisti (1943-1998) được xem là một trong những ca sĩ kiêm tác giả hàng đầu của làng nhạc Ý, ông đã ghi âm 20 tập nhạc trong sự nghiệp của mình và đã bán hơn 25 triệu album. Ngoài là một trong những nghệ sĩ biểu diễn có tầm ảnh hưởng lớn những thập niên cuối thế kỷ XX, Lucio Battisti (cũng như Toto Cutugno) đã sáng tác cho nhiều nghệ sĩ khác, kể cả những nghệ sĩ quốc tế như Gene Pitney, the Hollies và Paul Anka.
Khi soạn nhạc, Lucio Battisti thường hợp tác với nhạc sĩ Mogol, nổi tiếng nhờ cái tài đặt lời. Cả hai gương mặt này được ghi nhận là đã trau dồi và đổi mới phong cách sáng tác nhạc pop của Ý, kết hợp truyền thống sáng tác những ca khúc tiếng Ý, với những trào lưu và những thể loại thịnh hành trong làng nhạc quốc tế thời bấy giờ.
Trong mắt nhạc sĩ kỳ cựu Ennio Morricone, nổi tiếng nhờ sáng tác nhạc phim, Lucio Battisti được xem là một tài năng độc đáo, tinh tế trong cách soạn giai điệu, biết hoán chuyển hợp âm nốt nhạc và khá tỉ mỉ trong lối hòa âm, tạo ra được những khung trời âm nhạc đầy cảm xúc và ấn tượng. Về điểm này, Lucio Battisti được đánh giá cao, có lối tiếp cận giống như các nhà soạn nhạc phim.
Lucio Battisti sáng tác nhạc phẩm "Anh mơ về em" không phải cho chính mình, mà cho nam ca sĩ Bruno Lauzi, người đầu tiên ghi âm ca khúc này trên đĩa nhựa 45 vòng (mặt B) vào mùa hè năm 197O, rồi phát hành trên album cùng tên vào tháng 11 năm 1970. Trong những năm sau đó, giai điệu này đã được nhiều nghệ sĩ khác ghi âm lại. Bản thân Lucio Battisti cũng có một phiên bản riếng với lối diễn đạt khác thường.
Trong tiếng Pháp, đây là bản hit thứ nhì của nam danh ca Jean François Michael, từng làm kỷ lục vài năm trước với nhạc phẩm "Adieu Jolie Candy" (Tiễn em nơi phi trường). Lời tiếng Pháp là của tác giả Alain Boublil, trước khi ông thành danh nhờ sáng tác vở nhạc kịch "Les Misérables" (Những người khôn khô). Trong tiếng Anh, "E penso a te" trở thành nhạc phẩm "And i think of you" qua tiếng hát Tanita Tikaram. Con trong lời Việt, nhạc phẩm Mơ về em, từng được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại từ Anh Tú, Don Hồ cho đến Bằng Kiều.
Trong lối dùng ca từ, lời bài hát nhấn mạnh đến nỗi buồn của nhân vật chính khi nhớ đến người yêu. Cảm xúc nhớ nhung được khuếch đại bởi tính dồn dấp và sự lặp đi lặp lại của 4 chữ (E penso a te) Anh mơ về em. Trong phần điệp khúc cuối cùng, bài hát kết thúc bằng một đoạn nhac diminuendo, trong đó tất cả âm thanh, nhạc cụ dần dần biến mất, chỉ còn lại mỗi giọng ca của người diễn dạt. Âm nhạc ban đầu mạnh mẽ, sau đó trở nên nhẹ nhàng trầm lắng, như thể trong tâm hồn, nhân vật đang chết lịm dần trong những nỗi niềm suy tu. Vắng một người mà cả vũ trụ đìu hiu, chỉ còn dư âm trong thế giới lạc lõng, mình ta chết lịm giữa đất trời mênh mông.
Tài năng, tư chất và phong cách, sinh thời, danh ca Françoise Hardy có cả ba ưu điểm này. Trong mắt các ngôi sao nhạc rock như David Bowie hay Mick Jagger, Françoise Hardy là hiện thân của người ''phụ nữ lý tưởng''. Françoise Hardy cũng là nghệ sĩ Pháp duy nhất lọt vào danh sách 200 giọng ca hay nhất mọi thời đại, theo tạp chí Rolling Stone năm 2023. Tài năng ấy giờ đây không còn nữa, Françoise Hardy vừa vĩnh biệt cõi đời hôm 11/06/2024, hưởng thọ 80 tuổi.
Trong tâm trí của người hâm mộ, Françoise Hardy là một trong những biểu tượng ngời sáng cuối cùng của thập niên 1960. Nhờ ngoại hình hấp dẫn, Françoise Hardy ngay từ khi mới vào nghề, đã thu hút các nhà tạo mốt trứ danh như Paco Rabane, André Courrèges hay Yves Saint-Laurent. Nhờ vậy, Françoise Hardy được đăng quang thành thần tượng của giới trẻ, trong cả hai lãnh vực ca nhạc và thời trang.
Trong quyển hồi ký ''L'amour fou'' (Tình yêu điên cuồng) xuất bản vào năm 2012, Françoise Hardy kể lại tuổi thơ đầy khó khăn, cô lớn lên trong một gia đình nghèo, sống cùng với mẹ và em gái trong một căn hộ nhỏ hai phòng ở Paris, quận 9. Thân phụ của cô đã có gia đình, mẹ cô cam chịu thân phận người vợ lẻ, còn cô bé Françoise dù có muốn cũng không có nhiều cơ hội gần gũi với bố. Có lẽ để thoát khỏi khung cảnh ngột ngạt trong gia đình, viết lên trang giấy bao điều chưa nói mà Françoise Hardy đã bắt đầu chấp bút sáng tác rất sớm.
Trong nhạc phẩm ''Tous les garcons et les filles'' (Những nụ tình xanh), cô nói lên cảm giác cô đơn quá đỗi, nỗi quạnh vắng tột cùng khi thấy những cặp trai gái, nắm tay nhau dạo phố. Cảm giác trên đời này không biết có ai thực sự thương mình nói lên tâm trạng của Françoise Hardy lúc bấy giờ, do mặc cảm của một đứa con không được nhìn nhận, như thể phải che giấu tội lỗi, mà sau đó cô khao khát suốt đời đi tìm tình yêu tuyệt đối. Chính nỗi buồn rất thật của một thiếu nữ 17 tuổi đã làm thổn thức rung động hàng triệu con tim mới lớn, nhờ giành lấy ngôi vị quán quân thị trường Pháp vào năm 1962, mà Françoise Hardy đương nhiên trở thành một ngôi sao sáng trên vòm trời nhạc Pháp.
Theo ghi nhận của nhà nhiếp ảnh Jean-Marie Perrier, người đã thực hiện ''Bức ảnh chụp thế kỷ'' (La photo du Siècle), tập hợp 46 ca sĩ trứ danh những năm 1960, trong số 4 thần tượng nhạc trẻ, Françoise Hardy là gương mặt phái nữ duy nhất biết sáng tác (so với France Gall, Sheila và Sylvie Vartan). Sau khi làn sóng nhạc trẻ thoái trào, Françoise Hardy khai thác sở trường này để trụ vững trong làng nhạc, kết quả là trong hơn nửa thế kỷ sự nghiệp, cô đã ghi âm 80 đĩa nhạc, trong đó có hơn 30 album phòng thu và 15 tuyển tập chọn lọc …..
Nhờ tài năng sáng tác ấy, Françoise Hardy giành lấy danh hiệu giọng ca nữ xuất sác nhất nhân kỳ trao giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp năm 2005. Ngoài ra, còn có giải thưởng của hiệp hội các tác giả Pháp Sacem, trao cho album "Clair-obscur", mà Françoise Hardy cho là ưng ý nhất, do album có sự tham gia của hai cha con Jacques và Thomas Dutronc. Quan trọng không kém, giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique dành cho nhạc phẩm "Fais moi une place" đồng sáng tác với nam danh ca Julien Clerc.
Trong tâm trí của người Pháp, hình ảnh của Françoise Hardy luôn gắn liền với hai tên tuổi khác là hai cha con nhạc sĩ Jacques Dutronc và Thomas Dutronc. Cuối năm 1965, Françoise Hardy gặp tại phòng ghi âm nam ca sĩ kiêm tác giả Jacques Dutronc, người đã sáng tác cho cô bản nhạc kinh điển ''Le temps de l'amour'' (Mùa tình yêu). Giai điệu này ban đầu là một khúc nhạc hòa tấu không lời mang tựa đề ''Fort Chabrol'' sáng tác cho nhóm Les Fantômes. Đứa con trai của họ Thomas Dutronc ra đời năm 1973 từ mối tình mãnh liệt say đắm này. Hai người thành hôn vào năm 1981, nhưng lại chia tay nhau 6 năm sau đó, họ sống ly thân nhưng lại không làm thủ tục ly hôn. Do vậy về mặt pháp lý, hai nghệ sĩ này vẫn là vợ chồng.
Khi ghi âm album cuối cùng vào năm 2018, Françoise Hardy đã chọn tựa đề ''Personne d'autre'' (Không ai nào khác) để nhắn nhủ với Jacques Dutronc, người mà trọn đời cô xem là tình yêu đích thực. Tuy nhiên mối quan hệ phức tạp này cũng khiến cho cô chịu nhiều đau khổ. Françoise Hardy đòi hỏi quá nhiều và luôn cần được trấn an, trong khi Jacques Dutronc lại hơi bất cần đời, khao khát tự do, thoải mái vui chơi. Điều đó giải thích vì sao một trong bản nhạc ưng ý nhất của Françoise Hardy chính là nhạc phẩm ''Il n'y a pas d'amour heureux'' (Không có mối tình nào là hạnh phúc), một sáng tác của Georges Brassens.
Trong những năm cuối đời, do chứng bệnh ung thư máu, Françoise Hardy buộc phải xa lánh ánh đèn sân khấu, ít khi nào xuất hiện trước công chúng. Tình trạng sức khỏe sa sút, khiến nữ danh ca lên tiếng đòi quyền an tử, được chết một cách xứng đáng, thay vì cứ kéo dài nỗi đau. Theo lời của gia đình, sau hơn 10 năm chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, rốt cuộc Françoise Hardy đã vĩnh viễn ra đi một cách thanh thản.
Đối với thành phần thính giả người Việt thích nghe nhạc Pháp, có rất nhiều nhạc phẩm của Françoise Hardy như ''L'Amitié'' (Tình bạn), ''Tous les garcons et les filles'' (Những nụ tình xanh), ''Mon amier la rose'' (Nụ hồng mong manh), ''Comment te dire adieu'' (Sao đành vĩnh biệt), ''Le premier bonheur du jour'' (Hạnh phúc đầu tiên trong ngày) ….. đã trở nên kinh điển từ lúc nào không hay. Thần tượng nhạc Pháp từ giã cõi đời cho người hâm mộ ngẩn ngơ thương tiếc. ''Mùa tình yêu'' tưởng chừng bất diệt, giờ đành chia tay ngậm ngùivĩnh biệt.
Hầu như không thể nói về nhạc pop Pháp những năm 1980 mà không nghĩ đến tác giả người Ý Romano Musumarra. Thành danh nhờ sáng tác hàng loạt bài hát ăn khách cho nhiều ca sĩ Pháp trong gần hai thập niên liền, Romano Musumarra giờ đây chuyển sang sản xuất dầu ô liu, nhưng ông vẫn không bỏ lỡ những cơ hội sáng tác cho các dự án giải trí, phối hợp hình ảnh và âm thanh.
Sinh năm 1956 tại thành phố Roma, Romano Musumarra từ thuở thiếu thời được đào tạo tại Nhạc viện quốc gia Santa Cecilia, một trong những học viện âm nhạc lâu đời nhất nước Ý, được thành lập vào năm 1585 theo lệnh của Giáo hoàng Sixtus V. Sau khi tốt nghiệp nhạc viện, ông cùng với những người bạn học thời thơ ấu, thành lập nhóm nhạc pop Ý "La Bottega dell'Arte". Trong vòng 10 năm, từ 1975 cho đến năm 1984, ban nhạc này đã thành công nhờ phát hành 5 album và nhiều đĩa đơn ăn khách.
Năm 1983, ông bắt đầu sự nghiệp quốc tế của mình tại Pháp, với tư cách là nhà soạn nhạc chính cho hai album đầu tiên của Jeanne Mas. Hầu hết các bản hit làm nên tên tuổi của Jeanne Mas như "Toute première fois", "Sauvez-moi" hay "En rouge et noir" đều do ông soạn nhạc. Ngoài am tường nhạc lý, Romano Musumarra còn giỏi về mặt hoà âm, tạo dựng ''âm thanh Musumarra'', với giai điệu và cấu trúc cực kỳ hiệu quả, mà ngay lập tức người mộ điệu có thể nhận ra.
Sau thành công rực rỡ của Jeanne Mas trong làng nhạc Pháp, nhiều nghệ sĩ khác đều đã mời ông hợp tác, khiến Romano Musumarra trở thành một trong những nhà soạn nhạc được săn đón nhiều nhất trong nhiều năm sau đó. Riêng nhạc phẩm "Johnny, Johnny" từng được tác giả Khúc Lan chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm ''Người tình Johnny''.
Nếu nhạc sĩ người Ý Toto Cutugno thành công vượt bậc từ những năm 1970, thì đồng hương của ông trở thành một tên tuổi lớn một thập niên sau đó. Romano Musumarra cộng tác với hầu hết các ca sĩ thịnh hành thời bấy giờ : Sylvie Vartan, Marc Lavoine, Mireille Mathieu, Demis Roussos, Hélène Ségara hay Tina Arena …. Riêng Stéphanie de Monaco, con gái của Thân vương Rainier de Monaco và ngôi sao điện ảnh Grace Kelly, cô thành công nhờ album tiếng Pháp do Romano Musumarra sáng tác. Nhạc phẩm ''Ouragan'' cũng từng có một bản phóng tác tiếng Việt do ca sĩ Minh Xuân trình bày.
Những năm 1990 mở ra giai đoạn sự nghiệp thứ nhì của Romano Musumarra. Ông chủ yếu làm việc tại vùng Québec, thành hôn với nữ ca sĩ Cananda Judith Bérard, sau một thời gian sáng tác cho Céline Dion, Ginette Reno, Roch Voisine, Bruno Pelletier và hai anh em René & Nathalie Simart. Nhưng thành công nhất vào năm 2000 là nhạc phẩm ''Seul'' (Một mình) do nam danh ca Garou ghi âm.
Ngoài việc đồng sáng tác nhạc kịch (vào năm 2002) với tác giả Luc Plamondon, Romano Musumarra còn soạn nhạc nền cho 14 bộ phim, trong giai đoạn 1986-1998. Người đã đưa Romano đến với nhạc phim chính là đạo diễn Régis Wargnier, tác giả của bộ phim "Indochine" (Đông Dương) với Catherine Deneuve trong vai chính.
Trên thực tế, đạo diễn RégisWargnier cũng đang thực hiện bộ phim đầu tiên của mình mang tựa đề "La femme de ma vie" (Tình yêu lớn nhất trong đời). Régis đang tìm kiếm một nhà soạn nhạc để minh họa cho câu chuyện về một nhạc sĩ vĩ cầm (Christophe Malavoy) mắc chứng nghiện rượu. Vợ của anh (do Jane Birkin đóng) từng thành lập một dàn nhạc thính phòng, nhưng quan hệ trong gia đình không còn được êm ấm do chứng nghiện rượu của người chồng.
Do từng được đào tạo về âm nhạc cổ điển, cho nên Romano có thể sáng tác một tổ khúc dương cầm cho bộ phim. Có một đoạn trong phim quay cảnh Elsa (lúc ấy mới 13 tuổi) chơi đàn piano với mẹ (Jane Birkin), cho nên Romano đã soạn một giai điệu ngắn để minh họa cho cảnh phim này. Nhà sản xuất lấy làm tiếc vì đoạn nhạc hay mà lại quá ngắn, cho nên mới đề nghị Romano Musumarra hoàn chỉnh thành một bài hát để làm ca khúc chủ đề giúp quảng bá cho bộ phim. Cho dù Jane Birkin đã là ca sĩ chuyên nghiệp (thành công nhờ hát nhạc của Serge Gainsbourg), nhưng rốt cuộc Romano Musumarra lại mời cô bé Elsa hợp tác ghi âm.
Nhạc phẩm ''T'en va pas'' (Bố đừng đi) được viết riêng cho một cảnh phim, rốt cuộc trở thành môt đĩa nhựa ăn khách do Elsa thu thanh, bài hát kể lại câu chuyện từ góc nhìn của cô con gái, đau khổ khi thấy bố mẹ không còn hoà thuận với nhau. ''T'en va pas'' lập kỷ lục số bán trên thị trường Pháp, đây là thành công lớn đầu tiên của Elsa, giúp cho cô bé trở thành một trong những thần tượng nhạc trẻ những năm 1980. Dù chỉ mới 13 tuổi, nhưng Elsa lại thành công vượt trội, một cách thật bất ngờ ngoài mong đợi.
Vào giữa những năm 1990, có một bài hát tiếng Việt lại có giai điệu khá quen thuộc với giới yêu nhạc Pháp. Nhạc phẩm "Có những tàn phai" từng nổi tiếng qua những giọng ca ở hải ngoại là Chung Tử Lưu, Anh Tú và Tô Chấn Phong. Còn trong nguyên tác tiếng Pháp, bản nhạc mang tựa đề "La maison en ruine" (Ngôi nhà hoang tàn) do Michel Delpech ghi âm và do Jean-Michel Rivat đồng sáng tác.
Năm nay đã ngoài 80 tuổi, Jean-Michel Rivat sinh trưởng ở thành phố Vesoul, trong một gia đình khá giả, thân phụ ông hành nghề nha sĩ. Từ thời còn nhỏ, ông đã có nhiều năng khiếu âm nhạc, tự học đàn rồi sáng tác chủ yếu nhờ nghe nhạc trên đài phát thanh. Đến khi trưởng thành, ông đi làm dành dụm tiền để thu đĩa, ghi âm các sáng tác của chính mình. Sau khi phát hành vài đĩa nhựa nhưng không ăn khách, ông từ bỏ giấc mơ trở thành ca sĩ chuyên đi hát, chuyển hẳn sang viết nhạc cho các nghệ sĩ khác
Trong số những người đầu tiên trình bày các nhạc phẩm của Jean-Michel Rivat có Brigitte Bardot, Frida Boccara, Marie Laforêt hay Richard Anthony. Đến năm 1966, tác giả này gặp Joe Dassin, lúc bấy giờ vừa mới khởi đầu sự nghiệp ca hát. Do nam ca sĩ Joe Dassin là người Mỹ, cho nên ông tìm cách chuyển thể sang tiếng Pháp nhiều bản dân ca nổi tiếng của Hoa Kỳ hay Trung Mỹ, chẳng hạn như "Dans la brume du matin", "Je change un peu de vent", phiên bản tiếng Pháp của bài "Guantanamera" (1967) và nhất là nhạc phẩm "Siffler sur la colline" (Huýt sáo trên đồi), một trong những bài hát đầu tiên làm nên tên tuổi của Joe Dassin.
Sau thành công này, Jean-Michel Rivat nhanh chóng trở thành một tên tuổi quan trọng trong làng sáng tác. Hầu hết các nghệ sĩ thời đó đều muốn hát nhạc của ông như France Gall (Bébé requin 1967), Hervé Vilard (Sayonara 1969), Claude François (Il y a le printemps qui chante 1972), Stone & Charden (L'avventura / Lãng Du 1972), Patrick Juvet (La musica, Tiếng nhạc 1974), Dave (Allo Élisa 1979) Alain Chamfort (Géant 1980) và đặc biệt là Désireless (Voyage voyage 1986), bản nhạc này thực sự lập kỷ lục số bán trên thị trường quốc tế. Sau thành công này, tác giả Jean-Michel Rivat chuyển sang lãnh vực sản xuất nhạc dance.
Trong số những nghệ sĩ từng hát nhạc của Jean-Michel Rivat, giọng ca hợp ý nhất của tác giả này chính là Michel Delpech. Sự hợp tác của họ bắt đầu vào năm 1972 với nhạc phẩm ''Rimbaud chanterait'' và sẽ kéo dài cho đến giữa những năm 1980. Trong thời gian làm việc chung với nhau, Jean-Michel Rivat đã tặng cho Michel Delpech khá nhiều bài hát ăn khách như ''Le chasseur'' (Người thợ săn 1974), ''Quand j'étais chanteur'' (Một thời ca sĩ 1975) ..... Thật không may cho tác giả, Michel Delpech trên đỉnh thành công đã gặp phải nhiều vấn đề gia đình, khiến nam danh ca người Pháp phải tạm ngừng sự nghiệp, và chỉ xuất hiện trở lại nhiều năm sau đó.
Riêng về nhạc phẩm "La maison en ruine" (Ngôi nhà hoang tàn), bài này từng được tác giả Chung Tử Lưu phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm "Có những tàn phai". Một trong những phiên bản ghi âm nổi trội gần đây là của nam ca sĩ Lân Nhã.
Bài hát này được viết vào năm 1973, hầu như cùng thời với nhạc phẩm "Les divorcés" (Chuyện ly hôn). Về hoàn cảnh sáng tác bài hát, Jean-Michel Rivat cho biết ông viết về bản thân mình, do ông lúc bấy giờ đang chia tay với vợ (cô Christine Haas, một nhân vật nổi tiếng trong ngành truyền thông). Nhìn người thấy ta, Michel Delpech cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự, một năm sau khi ghi âm bài này, hai vợ chồng nam danh ca người Pháp cũng đành phải ly hôn.
Trong nhạc phẩm "Les Divorcés", hai nhân vật trong bài hát buộc phải gạt những mối bất đồng qua một bên, tìm cách dàn xếp ổn thoả, làm sao để cho con cái không chịu quá nhiều thiệt thòi, chỉ vì bố mẹ ly hôn. Còn trong nhạc phẩm "La maison en ruine", nội dung bài hát có thêm nhiều nét yêu đời lạc quan. Qua ẩn dụ của đống gạch đổ nát, một ngôi nhà bị bỏ hoang, nhân vật trong bài hát thầm mơ đến một ngày mai tươi sáng, xây lại trên đỉnh đồi một mái ấm gia đình, hạnh phúc dù mong manh vẫn thấp thoáng, hồi sinh từ khung cảnh hoang tàn.
Sau ba năm dày công tìm tòi nghiên cứu, hãng đĩa Universal Music chuẩn bị phát hành vào giữa năm 2024 một bộ sưu tập hoàn chỉnh của Charles Aznavour, gồm 1.800 bản ghi âm trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Bộ toàn tập này ra mắt công chúng vào ngày 22/05/2024, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của danh ca người Pháp gốc Armenia.
Một cách tượng trưng, bộ toàn tập này bao gồm 100 đĩa CD được tung ra cùng lúc trên các thị trường quốc tế. Riêng tại Pháp bộ đĩa này được bán với giá khoảng 300 euro. Chính tại phòng ghi âm chính thức, nằm gần điện Pantheon giữa lòng khu phố La Tinh, hãng đĩa Universal Music ráo riết chuẩn bị kế hoạch phát hành một dự án đồ sộ như vậy, mà dường như chỉ có những nghệ sĩ quốc tế như Elvis Presley, Franck Sinatra hay The Beatles mới có thể sánh bằng.
Để phản ánh một cách tường tận thấu đáo 65 năm sự nghiệp sân khấu của nam danh ca người Pháp, nhóm sản xuất đã mất hơn ba năm trời để đi tìm ở khắp nơi những phiên bản quý hiếm nhất, bên cạnh bộ sưu tập chính thức mà công chúng thường nghe nói tới. Đằng sau ê kíp này là nhà sản xuất Bruno Haye từng quản lý bộ sưu tập của Azvanour trong 10 năm tại hãng đĩa Panthéon và nhà xuất bản Gérard Davoust, người bạn thâm tình nhất của Aznavour. Họ quen nhau cách đây hơn 60 năm, thời ông Aznavour mới vào nghề, ghi âm đĩa nhạc đầu tay.
Aznavour : hơn 1000 bản nhạc, 100 triệu đĩa hátMặc dù đã nghỉ hưu, nhưng hai gương mặt này lại bắt tay hợp tác với nhau đẻ làm việc trên dự án này chủ yếu cũng vì họ vô cùng ngưỡng mộ Charles Aznavour, không những ở tài năng mà còn nơi nhân cách. Theo lời ông Bruno Haye, khi nam danh ca Aznavour ký hợp đồng với Universal Music vào năm 2013 (5 năm trước ngày ông mất) ông đã đem theo một bộ sưu tập gồm 1.680 bản master (bản thu âm chính gốc được dùng để in ra các đĩa CD). Hầu như vào mỗi mùa hè, các nhà sản xuất đến làm việc tại nhà riêng của nam danh ca sĩ gần thành phố Arles.
Nếu không có sự tận tâm ấy, có lẽ dự án khổng lồ này sẽ không bao giờ được hoàn thành. Lúc sinh tiền, Aznavour đã 51 album phòng thu, 21 tập nhạc live, 168 đĩa đơn và hơn 120 tuyển tập đủ loại. Ngoài là tác giả của hơn một ngàn bài hát, nam danh ca Pháp còn ghi âm trong 9 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Nga hay tiếng Armenia. Do vậy, bộ sưu tập đầy đủ nhất có tới 1.800 bản ghi âm. Quả thật là một điều phi thường khi nhóm làm việc tìm lại được nhiều bản ghi âm tưởng chừng như đã bị thất lạc, rồi chìm dần vào quên lãng.
Chuyện sưu tầm đôi khi lại giống như ''khảo cổ''Đối với nhóm sản xuất, công việc sưu tầm mở ra một cuộc ''săn lùng'' các phiên bản hiếm. Điều khó nhất là xác định được toàn bộ các bản thu âm trên thế giới. Sinh thời, Aznavour đã đi biểu diễn trên khắp thế giới, không có châu lục nào mà không có gót chân của ông : từ Sofia đến Osaka, từ Canada đến Argentina. Việc tìm kiếm vì thế lại càng công phu hơn, nhất là trong các chương trình biểu diễn từng được ghi âm thu hình, các nhà sưu tầm lại trở thành các chuyên gia ''khảo cổ'' do âm thanh hình ảnh (đôi khi trên băng nhựa) được cất giữ nhiều năm trong các kho lưu trữ. Với sự giúp đỡ tận tình của giới chuyên gia về âm thanh (như Ayk Potukyan), nhóm sản xuất đã tìm lại được một số bài hát có lối hòa âm khác hẳn với các bản nhạc từng được chính thức phát hành trên đĩa nhựa (45 vòng).
Trong vòng một năm, nhóm sản xuất đã tái tạo một phần lớn bộ sưu tập dựa trên các đĩa nhựa (vinyle) rất phổ biến vào những năm 1960. Trong trường hợp không có các bản gốc master, nhóm sản xuất dùng công nghệ ghi âm để chuyển đổi các đĩa nhựa cổ điển thành những phiên bản số. Về điểm này, các đợt trình diễn thường có những bản nhạc ''hiếm'', do lối hòa âm cho sân khấu được thực hiện khác với phiên bản phòng thu (studio)
Vào cuối năm 2023, nhóm chuyên gia tập trung vào việc ''hoàn chỉnh'' âm thanh, trong đó có khoảng một trăm bản nhạc gốc của giai đoạn từ 1960 đến 1980. Sau khi được khôi phục nhờ công nghệ thời nay, âm thanh được số hóa để dễ lưu trữ trên mạng cũng như để phát hành trực tuyến.
Nhân mùa lễ cuối năm, hãng đĩa Universal sẽ phát hành một bộ đĩa chọn mọc (gồm ba CD hoàn chỉnh). Một dự án khác nữa là tái bản tập nhạc ''Que c'est triste Venise'' trên đĩa nhựa, để kỷ niệm 60 năm ngày ra đời của album nổi tiếng nhất của Aznavour, một album với nhiều giai điệu kinh điển như ''Hier Encore'' (Thương tiếc ngày qua).
Không phải ngẫu nhiên bộ toàn tập gồm 100 đĩa CD sẽ ra mắt công chúng vào trung tuần tháng 05/202, chuẩn bị cho nhiều dự án quan trọng, trong đó có bộ phim tiểu sử ''Monsieur Aznavour'' của nhóm đạo diễn Grand Corps Malade và Mehdi Idir với nam diễn viên Tahar Rahim trong vai chính. Năm 2024 chính là năm của Aznavour. Chương trình kỷ niệm 100 năm ngày sinh của giọng ca kiêm tác giả của nhiều giai điệu thần sầu, dường như chỉ mới bắt đầu.
"Origami" (nghệ thuật Gấp giấy) là tựa đề album phòng thu mới của Julie Pietri. Thành danh kể từ đầu thập niên 1980, cô hiện là một trong những giọng ca chính của vòng lưu diễn các thần tượng "La tournée des Idoles" tại Pháp. Trong số những bản nhạc ăn khách của Julie Pietri, có hai bài từng được đặt thêm lời Việt. Đó là hai nhạc phẩm "Ève lève-toi" và "Magdalena".
Phiên bản cao cấp tập nhạc thứ 8 của Julie Pietri bao gồm 11 bài hát mới và hai bản song ca bổ sung. Lần này, nữ danh ca người Pháp hợp tác với nhiều tác gia ở độ tuổi 30, cho thấy rằng trong 4 thập niên sự nghiệp, Julie Pietri liên tục thay đổi hình ảnh và phong cách để có thể trụ lại sau nhiều trào lưu âm nhạc.
Album này có sự góp mặt của nữ ca sĩ Lio qua nhạc phẩm (Femmes du Sud / Phụ nữ phương Nam). Còn Anne Sila, từng đoạt giải nhất cuộc thi "The Voice All Stars", ghi âm với Julie Pietri bài hát "À quel âge?" (Đến tuổi nào), nói về quan niệm của phụ nữ về cuộc sống ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Được phát hành trong tháng này dưới dạng đĩa nhựa cũng như trên các nền tảng trực tuyến, bản song ca này là trích đoạn mới để quảng bá cho album thứ 8 "Origami" của Julie Pietri.
Sinh tại Algérie trong một gia đình người Pháp, Julie theo cha mẹ hồi hương vào năm 1962, sống một thời gian ở vùng ngoại ô thành phố Rouen rồi về thủ đô Paris lập nghiệp. Từ thời niên thiếu, Julie đã nuôi mộng trở thành một ngôi sao sân khấu. Nhưng theo lời khuyên của gia đình, Julie cố gắng học hành tới nơi tới chốn. Sau khi đậu tú tài, Julie lên đại học. Chính vào năm học cuối cùng, trước khi ra trường, Julie mới ký được hợp đồng ghi âm chuyên nghiệp đầu tiên. Vào năm 1976, Julie lúc ấy 21 tuổi, trở thành thành viên của nhóm La Bande à Basile, gợi hứng từ các nhân vật hài kịch hóa trang "Commedia dell'arte" của Ý... Trong đoàn diễn viên này, Julie vào vai một cô gái du mục.
Từ đầu những năm 1980, Julie tách ra riêng và khởi nghiệp hát solo. Cô thành danh với album đầu tay do Jean Schulteiss thực hiện. Tác giả Jean Marie Moreau trước khi lập kỷ lục số bán nhờ hợp tác với nam danh ca François Feldman, đã thành công trong việc lăng xê Julie Pietri thành một ca sĩ nổi tiếng. Nhạc phẩm "Magdalena" từng được tác giả Hoài An chuyển sang lời Việt.
Giai đoạn huy hoàng của Julie Pietri là vào những năm 1986-1992. Đó là thời kỳ cô ghi âm nhiều bản nhạc ăn khách, nổi bật hơn hết là "Ève lève-toi" do Julie đồng sáng tác và ghi âm, nói về phong trào nữ quyền, dùng biểu tượng của nhân vật Eva để phản ánh sự vùng dậy đầu tiên của người đàn bà. Trong tiếng Việt, bản nhạc này từng được tác giả Khúc Lan viết thêm lời cho nữ ca sĩ Khánh Hà thành nhạc phẩm "Nàng Eva địa đàng".
Từ giữa những năm 1990 trở di, Julie Pietri xa lánh ánh đèn sân khấu và sống một cách kín đáo hơn. Cô lập gia đình, dành thêm thời gian cho việc dạy dỗ con cái. Khi xuất hiện trở lại vào đầu những năm 2010, Julie tham gia chuyến lưu diễn của những thần tượng "La Tournée des Idoles" bên cạnh các giọng ca như Michèle Torr và đợt trình diễn "Stars 80" của những ngôi sao nhạc pop thập niên 1980.
Tuy không thành công liên tục qua nhiều thập niên liền như Mylène Farmer, nhưng Julie Pietri cũng như Jeanne Mas vẫn tạo được dấu ấn sâu đậm trong làng nhạc Pháp những năm 1980. "En rouge et noir" hay "Eve lève-toi" đều nói về sức bền bỉ chịu đựng của phái nữ. Giấy gấp chịu được áp lực lớn hơn vì các nếp gấp làm cho tờ giấy chắc hơn.
Ẩn dụ của một tờ giấy gấp nhỏ mấy lần, lại nói lên được rất nhiều điều, tầng lớp ý nghĩa thêm đa chiều, muôn thuở tình yêu là sức mạnh của "phái yếu".
Vào buổi tối hôm 11/05/2024, vòng chung kết cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision diễn ra tại nhà hát lớn Malmö Arena, Thụy Điển. Năm nay, nam danh ca Pháp Slimane đi tranh giải với nhạc phẩm "Mon Amour" (Người yêu ơi). Nhưng liệu tình khúc này có được giới chuyên gia đánh giá cao, đủ để tạo cơ hội cho nước Pháp đoạt giải nhất 47 năm sau ngày đăng quang của Marie Myriam nhờ nhạc phẩm "L'oiseau et l'enfant" (Cánh chim và trẻ thơ) ?
Chỉ còn vài tiếng nữa là đến giờ khai mạc trận chung kết cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision. Nhà hát Malmö Arena với 20 ngàn chỗ ngồi đã bán sạch vé từ nhiều tháng trước. Cho đến giây phút chót, các cuộc dự đoán vẫn diễn ra khá sôi nổi trong giới hâm mộ trung thành, luôn theo dõi cuộc thi hát từ năm này qua năm nọ. Vậy thì ai là người được đánh giá cao nhất trong mắt các nhà bookmaker, chuyên tổ chức cá cược ?
Trên số 37 ca sĩ dự thi năm nay, có 26 thí sinh lọt vào vòng chung kết. Thụy Điển, nước đoạt giải năm ngoái, cùng với 5 nước thành viên sáng lập (Big Five) kiêm nhà tài trợ quan trọng nhất là Anh, Đức, Ý, Pháp và Tây Ban Nha đi thẳng vào chung kết mà không cần phải qua các vòng sơ tuyển. Mọi con mắt đều đang đổ dồn về phía các nhà bookmaker, thường đưa ra mỗi năm những dự đoán về xác suất thành công của các nước tham dự.
Hiện giờ, Thụy Sĩ được coi là quốc gia có nhiều triển vọng về đầu bảng, xác suất chiến thắng của thí sinh đại diện cho Thuy Sĩ là 25%. Xuất thân từ làng nhạc rap, nghệ sĩ Nemo 24 tuổi đi tranh giải với nhạc phẩm "The Code" (Mật mã) kết hợp nhịp điệu hip-hop với âm hưởng cổ điển, thậm chí nhạc kịch opera.
Ở vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng (16% xác suất thành công), ca sĩ Baby Lasagna đại diện cho Croatia, với một bản nhạc rock "Rim Tim Tagi Dim". Trong một thời gian dài, nghệ sĩ Croatia đã đứng đầu danh sách của các nhà tổ chức cá cược nhờ lối diễn đạt dũng mãnh và phong cách ăn mặc khác lạ. Nhưng cách đây một tháng, Baby Lasagna đã nhường lại hạng nhất cho ca sĩ Nemo.
Về phần mình, nữ ca sĩ kiêm tác giả Angelina Mago sau khi gây ấn tượng mạnh nhân kỳ liên hoan ca nhạc thành phố San Remo, thu hút sự chú ý của giới chuyên gia phê bình, nhân cuộc thi hát tại Malmö năm nay, cô xếp hạng ba với xác xuất thành công ở mức 13%.
Vậy thì năm nay, ứng cử viên đại diện cho nước Pháp đứng ở hạng thứ mấy ? Khi quyết định chọn đi dự thi với một bản ballad lãng mạn ''Mon amour'', Slimane đã chấp nhận khá nhiều rủi ro, đặt trọng tâm vào giọng ca và lối diễn đạt cô đọng, thay vì chọn cách biểu diễn thành một show hoành tráng trên sân khấu. Nhờ vào phần điệp khúc dễ nhớ, ca từ lặp đi lặp lại như muốn nhấn mạnh giai điệu, bài hát này đã thành công trên thị trường Pháp, được chứng nhận là đĩa vàng. Nhưng Slimane chỉ có 6% cơ hội về đầu cuộc thi.
Trong những tuần lễ gần đây, nam danh ca Slimane đã liên tục đi biểu diễn trên khắp châu Âu, tại nhiều sự kiện lớn ở Croatia, Hà Lan, Tây Ban Nha hay Vương quốc Anh ... Khi trình bày bài hát tiếng Pháp, Slimane xen kẽ thêm một số đoạn ngoại ngữ, để cảm ơn khách hâm mộ và biết đâu chừng, thuyết phục được thêm khán thính giả bỏ phiếu cho anh. Chiến lược của Slimane dường như đang phát huy tác dụng, vì ca sĩ này được xếp ở hạng sáu, sau Ukraina nhưng trước Hy Lạp và Thụy Điển. Cách đây hai tháng, Slimane hoàn toàn là một gương mặt xa lạ với khán giả châu Âu, anh chưa có đủ tầm ảnh hưởng để lọt vào các vị trí đầu bảng xếp hạng. Trong mắt các nhà bookmaker, hy vọng của Slimane vẫn khá là mong manh.
Sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris trong một gia đình người Pháp gốc Algérie, Slimane từng đoạt giải nhất chương trình thi hát The Voice, phiên bản tiếng Pháp vào năm 2016. Thời còn nhỏ, Slimane có năng khiếu âm nhạc, anh tập hát với các dàn đồng ca phúc âm, học hỏi được những kỹ thuật luyện giọng căn bản nhất để rồi ghi tên vào các trường đào tạo nghệ thuật sân khấu.
Tính đến nay, Slimane đã cho ra mắt 4 album phòng thu, thành công nhất là album thứ ba ''Versus'' ghi âm vào năm 2019 với nữ ca sĩ Vitaa, được bán hơn một triệu bản trên thị trường Pháp. Chất giọng khàn đục trung trầm, biểu cảm trong những nốt chậm, mong manh ở những vết gẫy khiến giọng ca Slimane rất hợp với các bản tình ca đậm chất hiện thực, lối đệm càng mộc, tiếng hát càng nồng.
Thế nhưng, liệu Slimane có triển vọng đoạt giải nhất hay không ? Giới hâm mộ giọng ca của anh đều hy vọng là có. Dù là kết quả gì đi chăng nữa, điều đó vẫn không ảnh hưởng gì nhiều tới sự nghiệp của Slimane tại Pháp. Cuộc thi hát truyền hình Eurovision 2024 chủ yếu là một cơ hội để cho giọng ca Slimane được phổ biến rộng rãi hơn nữa trên thị trường các nước châu Âu. Mặc dù trong ván bài lần này, rủi ro thì nhiều, nhưng lợi ích trước mắt lại chẳng được bao nhiêu.
Hơn 300 bài hát được tập hợp lại thành một bộ đĩa gồm 16 cuộn CD. Bộ toàn tập "L'intégrale" của Nicoletta vừa được phát hành trong tháng 04/2024. Theo lời nữ danh ca người Pháp, đây là một món quà "để đời" mà hãng đĩa Universal đã muốn tặng cho bà, nhân dịp sinh nhật lần thứ 80 của Nicoletta.
Dưới sự điều hành của nhà sản xuất Franck Diguet, một nhóm chuyên viên âm thanh đã đi tìm trong hơn một năm những bản ghi âm của Nicoletta trong vòng nửa thế kỷ sự nghiệp, tính từ năm 1966 cho tới nay. Trên bộ toàn tập này, có 9 bài hát chưa từng được phát hành trước đó trên băng đĩa.
Tên thật là Nicole Grisoni, Nicoletta sinh trưởng tại vùng Haute-Savoie (gần Thonon-les-Bains). Từ thời thơ ấu, cô được bà ngoại nuôi dưỡng, do mẹ cô là người khuyết tật, trí tuệ chậm phát triển, còn ông bố lại không nhìn nhận cô là con ruột. Từ thời con nhỏ, Nicoletta học hát trong dàn hợp xướng nhà thờ, cũng từ đó cô đã khám phá dòng nhạc blues và phúc âm của Mỹ. Ban đầu đi trình diễn trong các giáo xứ hay các thánh đường trong vùng, Nicoletta rời nguyên quán đến Paris lập nghiệp, vào đầu những năm 1960.
Tại thủ đô Pháp, Nicoletta bắt đầu làm DeeJay trong các câu lạc bộ và hộp đêm ở quận 6 Paris (phố Saint Germain des Prés). Nicoletta sau đó ghi âm bản nhạc "Où es tu passé mon Saint Germain des Prés" để hồi tưởng lại những năm tháng mới vào nghề. Một ngày nọ, Nicoletta lọt vào mắt của ông Léo Missir, giám đốc nghệ thuật của hãng đĩa Barclay. Nhờ vào sự dìu dắt của ông, cộng thêm sự giúp đỡ của hai nam danh ca Jacques Brel và Gilbert Bécaud, Nicoletta bắt đầu ghi âm và biểu diễn trên sân khấu hầu như cùng thời với Julien Clerc, và nhờ vậy cả hai giọng ca này đều thành công nhanh chóng.
Vào năm 1967, Nicoletta giành lấy ngôi vị quán quân thị trường Pháp, ngự trị o vị trí đầu bảng xếp hạng trong vòng nhiều tháng liên tục, với nhạc phẩm ''La Musique'' (phóng tác từ bài hát tiếng Anh "Angelica") và nhất là ''Il est mort le Soleil'' của hai tác giả Hubert Giraud và Pierre Delanoë. Bài hát này trở thành một bản nhạc kinh điển nhờ chất giọng đầy nội lực và lối diễn xuất đầy ngẫu hứng của Nicoletta, được giới phê bình tán thưởng khen ngợi. Thành công này đã vượt qua biên giới ngôn ngữ. Nghệ sĩ nhạc jazz người Mỹ Ray Charles đã chuyển thể bai này sang tiếng Anh với tựa đề ''The Sun died''. Còn trong tiếng Việt, giai điệu này từng được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời thành nhạc phẩm "Nắng Ðã Tắt".
Để không bị lệ thuộc quá nhiều vào các hãng đĩa lớn, Nicoletta đã thành lập một công ty ghi âm riêng Rapa Nui vào năm 1973, phát hành một loạt album trong vòng một thập niên liền (Nicoletta 1973, L’amour violet 1976, Palace 1978 …...) tham gia vào những dự án quan trọng nhưng không phải lúc nào cũng thành công như hai vở nhạc kịch Mahagony hay Quasimodo. Nicoletta cũng từng hợp tác với nhiều nghệ sĩ tên tuổi vào những năm 1980 như William Sheller, Richard Cocciante, Florent Pagny và nhất là Bernard Lavilliers, người đã viết cho Nicoletta một bản song ca để đời, nhạc phẩm ''Les idées noires'' (Những ý tưởng đen tối).
Giọng ca của Nicoletta thịnh hành trở lại thời gian gần đây nhờ thế hệ nghệ sĩ mới, chẳng hạn như ngoài bản ghi âm ''La Musique'', nhóm Bon Entendeur hoà âm lại nhạc phẩm ''Fio Maravilha''. Kể từ năm 2014, cũng như Michèle Torr và danh ca Dave, Nicoletta thường tham gia chuyến lưu diễn thường niên vòng quanh nước Pháp ''Rendez-vous avec les Stars'' (Đêm hẹn với các ngôi sao).....
Phong cách khác thường, không rập khuôn góp phần tạo nên thành công của Nicoletta, một phụ nữ độc lập đầy cá tính, hơi cứng đầu bất trị, không ngần ngại đi hát trong các nhà tù hay biểu diễn gây qũy giúp đỡ giới công nhân đình công. Dù năm nay đã 80 tuổi, nhưng Nicoletta vẫn thường xuyên tham gia nhiều buổi hòa nhạc trên khắp nước Pháp và nhờ vậy giữ được quan hệ gần gũi với khán giả của mình. Tên tuổi của Nicoletta gắn lien với ca khúc "Mamy Blue" (1971), từng được Céline Dion và nhiều nghệ sĩ khác ghi âm lại. Tác gia Anh Bằng từng phóng tác bài hát này thành nhạc phẩm "Người mẹ buồn" cho dù nhân vật chính trong bài này là bà ngoại chứ không phải là mẹ của Nicoletta. Một nhạc phẩm khác là "Je n'pourrai jamais t'oublier" cũng đưọc phóng tác sáng tiếng Việt thành ''Mưa trên biển vắng'' theo tài đặt lời của tác giả Nhật Ngân.
Nicoletta đã thành công rực rỡ trong việc giới thiệu dòng nhạc blues và phúc âm đến với khán thính giả Pháp. Bộ toàn tập này cũng cho thấy Nicoletta vẫn giữ được tình cảm ưu ái của công chúng, đặc biệt nhờ giọng hát trầm khàn truyền cảm, hoàn toàn có một chỗ đứng riêng trong làng nhạc Pháp. Từ nhạc phẩm ''Mưa trên biển vắng'' cho đến ''Ngày không còn nắng'', trong quyển hồi ký của mình, thần tượng Ray Charles ghi nhận rằng : giọng ca Nicoletta có một tâm hồn da den, dù là nghệ sĩ da trắng.
From the publisher's feed
Góc vườn âm nhạc của RFI

42 Listeners

29 Listeners

221 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

14 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

62 Listeners

0 Listeners

6 Listeners

0 Listeners