
Sign up to save your podcasts
Or


Năm 2024 đánh dấu đúng 50 năm ngày phát hành nhạc phẩm « Tu t'en vas ». Đây là bản song ca nổi tiếng của Alain Barrière và Noëlle Cordier được phát hành trên đĩa nhựa 45 vòng vào tháng 11/1974 và được chon làm tựa đề cho album phòng thu thứ 12 của danh ca người Pháp vào đầu năm 1975. Bài này từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Người lìa xa ».
Do Alain Barrière sáng tác và ghi âm cùng với Noëlle Cordier, bài song ca đã thành công rực rỡ trên thị trường quốc tế, giành hàng đầu các bảng xếp hạng tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Áo, Bỉ, Thụy Sĩ và các nước nói tiếng Pháp. Bài hát cũng lọt vào bảng xếp hạng các bài hát ăn khách tại Đức, Ý, Tây Ban Nha, Brazil hay Canada. Với hơn 2 triệu bản được bán trên thi trường Pháp, bản song ca trở thành đĩa hát thành công nhất trong sự nghiệp của Alain Barrière (cũng như của Noëlle Cordier). Tuy có ghi âm sau đó một so bài hát khác khá ăn khách, nhưng không có bài nào lặp lại được một thành tích như vậy.
Thành danh trong làng nhạc Pháp vào năm 1964 với nhạc phẩm « Ma vie » (Đời tôi), Alain Barrière trở thành một ca sĩ kiêm tác giả sáng giá những năm 1960, cho dù ông chọn đứng hẳn bên lề phong trào nhạc trẻ tại Pháp. Cũng như nam danh ca Adamo, Alain Barrière chủ yếu đeo đuổi việc sáng tác những bản ballad trữ tình lãng mạn, với chất giọng biểu cam, hát với trọn tâm hồn khi ghi âm trong phòng thu cũng như khi biểu diễn trên sân khấu.
Vào đầu những nam 1970, đang có trào lưu của những cặp nghệ sĩ song ca. Hâu hết những bài hát lập kỷ lục số bán thời bấy giờ đều được ghi âm với hai giọng hát. Đó là trường hợp của Stone và Charden (L'avventura), Sheila và Ringo (Les gondoles à Venise), Sylvie và Johnny (J'ai un problème). Khai thác công thức này, Alain Barrière mới tưởng tượng ra một bài hát mà ông có thê ghi âm với một giọng ca nữ. Chỉ có điều là ong dự tính thực hiện điều này qua casting, trong khi các cặp nghệ sĩ kia ngoài đời đều là vợ chồng.
Khi chấp bút sáng tác, Alain Barrière nghĩ tới một đôi tình nhân lần đầu tiên phải xa mặt cách lòng. Tuy thời gian chia tay chẳng có bao lâu, nhưng đôi uyên ương lai quyến luyến u sầu, không nỡ rời xa nhau. Sau nhiều tuần tìm kiếm nhung không thành công, Alain Barrière tình cờ khám phá giọng ca của Noëlle Cordier khi đi xem vở nhạc kịch « La Révolution française » nói về thời kỳ Cách mạng Pháp của Claude-Michel Schönberg và Raymond Jeannot, ra mắt khán giả Pháp từ năm 1973.
Mặc dù nhạc sĩ (Jean-Claude Petit) chuyên hoà âm đang vắng mặt, nhưng Alain Barrière vẫn gấp rút vào phòng thu vào mùa hè năm 1974 để thực hiện bản song ca với Noëlle Cordier (phần phối khí được giao cho một nhạc sĩ mới là Gérard Salesses). Ngay vào lúc được phát hành, nhạc phẩm « Tu ten vas » đã thành công về mặt số bán, khởi đầu cho sự hợp tác dài lâu với nhóm sáng tác Sylvain Floirat và Olivier de Toussaint.
Sau khi thành công trong tiếng Pháp, ban song ca này được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Đức, Hà Lan, Hungary, Thụy Điển, Phần Lan, Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha. Trong tiếng Anh, bài hát trở thành nhạc phẩm « If You Go » (do John Colston đặt lời) và ăn khách trong cả hai thứ tiếng. Còn trong tiếng Việt, bài này được tác giả Phạm Duy phóng tác thành nhạc phẩm « Người lìa xa » do Ngọc Lan và Elvis Phương cùng ghi âm. Trong lối hoà âm, có cách sử dụng tài tình tiếng đàn mộc cầm, dùng những nốt nhạc « dính liền » để thể hiện bao nỗi niềm quyến luyến : Chỉ vắng nhau vài ngày, mà cứ ngỡ tháng năm. Trôi chậm từng phút giây, ban mai phai nhạt nắng. Có xa nhau mới thấy, ngậm ngùi lúc chia tay. Mong yêu thương tràn đầy, tình hãy sớm về đây.
La voix et l'âme (Giọng ca và tâm hồn) là tựa đề album phòng thu thứ 9 của Chimène Badi và đồng thời là phần kế tiếp của Gospel & Soul, album được Chimène ghi âm cách đây hơn một thập niên, dành riêng cho hai dòng nhạc sở trường của nữ ca sĩ người Pháp là phúc âm và soul.
Xen kẽ một vài sáng tác mới (nhạc phẩm Je serai là của Ycare) với nhiều bản cover nổi tiếng, album La voix et l'âme (Giọng ca và tâm hồn) có thể được xem như tập nhì của Gospel & Soul. Lần này, Chimène Badi cũng khoác áo mới cho những bài hát từng vang bóng một thời, thế nhưng ban đầu những bản nhạc này lại được sáng tác cho một thể loại khác. Đó là trường hợp của bài I wish của Stevie Wonder hay Man in the mirror của Michael Jackson được viết theo phong cách pop soul. Ngược lại, bản nhạc Le ballet của Céline Dion hay Noir c'est noir, từng ăn khách qua giọng ca của Johnny Hallyday không hề thuộc vào dòng nhạc soul hay phúc âm. Album này cho thấy Chimène Badi đang nối lại với đam mê đầy đời, sau khi thành công trong năm qua với tuyển tập kỷ niệm 60 năm ngày giỗ của Édith Piaf.
Noir c'est noir, trong nguyên tác là giai điệu Black is black, từng lập kỷ lục số bán vào giữa những năm 1960, với thời gian đã trở nên một bản nhạc rock kinh điển. Khi nhắc đến dòng nhạc rock của thập niên 1960, tên tuổi của nhóm Los Bravos vẫn còn xa lạ đối với giới yêu nhạc. So với các nhóm cùng thời như The Byrds, Moody Blues hay Fletwood Mac, ban nhạc Los Bravos tuy không phải là nhóm tiên phong, nhưng lại đóng góp một số bài hát quan trọng vào phong trào sáng tác nhạc rock thập niên 60, những giai điệu tưởng chừng rơi vào quên lãng, nhưng lại trường tồn với thời gian.
Đối với Los Bravos, cuộc phiêu lưu bắt đầu vào năm 1965 tại thủ dô Madrid khi các nhạc sĩ của hai nhóm nhạc pop là Los Sonor và The Runaways quyết định hợp sức sáng tác và cùng đi biểu diễn với nhau. Vào thời bấy giờ, xã hội Tây Ban Nha vẫn còn đang sống dưới chế độ toàn trị của tướng Franco, và cho dù chế độ này bắt đầu nới lỏng kiểm soát thì một nhóm nhạc rock Tây Ban Nha vẫn ít có cơ hội bứt phá vươn lên để chinh phục thị trường quốc tế. Nhóm Los Bravos có một điểm đặc biệt : ngoài việc ghi âm toàn bằng tiếng Anh, nhóm này còn có một thành viên người Anh và ca sĩ chính của nhóm là Mike Kogel, người Đức. Điều này tạo cơ hội cho nhóm đi biểu diễn khắp châu Âu, khi Los Bravos phát hành album phòng thu đầu tiên của họ, mang tựa đề Black Is Black vào mùa hè năm 1966.
Bản nhạc mở đầu album Black is black và cũng là trích đoạn đầu tiên được phát hành trên đĩa nhựa, đưa họ lên tầm cao trên thi trường quốc tế. Bản nhạc rock này, chẳng những phản ánh thời đại của mình, mà còn trở thành một tác phẩm kinh điển theo đúng nghĩa của từ. Nhạc phẩm Black Is Black giành lấy hạng nhất ở Canada, hạng nhì Vương quốc Anh, hạng ba tại Úc và hạng tư tại Mỹ. Riêng trên hai thị trường Đức và Tây Ban Nha, bài hát lập kỷ lục số bán với hơn hai triệu bản chỉ trong vài tháng. Thành công này vượt qua sức tưởng tượng của mọi người, ngay cảcác thành viên trong nhóm cũng không thể ngờ rằng, album đầu tay của họ lại ăn khách đến như vậy. Phải công nhận rằng giai điệu bài hát khá giản dị, điệp khúc dễ nhớ, khiến người nghe dễ bị lôi cuốn ngay.
Nhạc phẩm Black is black sau đó đã có hàng trăm phiên bản ghi âm trong 12 thứ tiếng. Trong tiếng Pháp, tác giả George Aber dịch bản này khá gần sát với nguyên tác thành bài hát Noir c'est Noir (Chỉ toàn màu đen) do Johnny Hallyday ghi âm vào mùa thu năm 1966. Vào thời bấy giờ, Johnny bị xuống tinh thân, chán nản mệt mỏi do áp lực quá lớn trong công việc, còn về mặt đời tư, anh luôn bị giới phong viên nhiếp ảnh săn lùng sau khi anh thành hôn với Sylvie Vartan. Sau 6 tháng vắng mặt sân khấu, bản nhạc Noir c'est Noir (Chỉ toàn màu đen) giúp Johnny trở lại trên tôt đỉnh, chinh phục thị trường các nước nói tiếng Pháp. Phiên bản của Chimène Badi cũng dũng mãnh không kém gì bài hát của Johnny.
Trong tiếng Việt nhạc phẩm Black is black (Noir c’est noir) từng được tác giả Chí Tài phóng tác thành giai điệu Khi màn đêm xuống do các nghệ sĩ Châu Ngọc, Phi Phi hay Nguyễn Hưng trình bày, cho dù ca từ tiếng Việt trong cách dung ẩn dụ và uyển ngữ không quá đỗi u buồn tuyệt vọng như trong lời bài hát tiếng Pháp Noir c'est noir : Phải chăng đã muộn rồi, khi tình đầu gian dối. Xưa chưa hết niềm vui, nay lại sầu chia phôi. Đành bội hứa trọn đời, đen một màu tăm tối.
« Imposteur » (Kẻ mạo danh) là tựa đề album phòng thu thứ sáu của Julien Doré. Lần này, nam ca sĩ trở lại với những bài hát cover hầu như 100% của Pháp, được xem như là sở trường của anh, kể từ khi Julien Doré thành danh trên sân khấu nhạc Pháp, cách đây gần hai thập niên.
Vào năm 2007, nam ca sĩ Julien Doré đã đoạt được giải nhất cuộc thi hát truyền hình Nouvelle Star (phiên bản tiếng Pháp của American Idol), anh trở nên nổi tiếng nhờ nhạc phẩm « Moi, Lolita » (nguyên tác của Alizée). Khi hát bài này, nam ca sĩ đã đeo một chiếc kẹp tóc (như thể anh đang đóng vai một cô gái ngỗ nghịch lém lỉnh), kỷ niệm này đã in sâu vào tâm trí của khán giả Pháp, biểu tượng của chiếc kẹp tóc màu vàng vì thế được chọn làm hình bìa của tập nhạc cover của Julien Doré.
Album « Imposteur » (Kẻ mạo danh) gồm 17 ca khúc chọn lọc. Phiên bản cao cấp deluxe có thêm hai bản nhạc bổ sung. Đó là giai điệu « Fais moi une place » để tưởng nhớ Françoise Hardy, đã qua đời trong năm 2024, cùng với « Elle est d'ailleurs » (Em xa nghin trùng) của Pierre Bachelet, mà làng nhạc Pháp chuẩn bị kỷ niệm 20 năm ngày giỗ trong năm tới.
Khi ghi âm lại các bài hát ăn khách của nhiều nghệ sĩ khác, Julien Doré thường thay đổi lối tiếp cận, đem lại sự hóm hỉnh của mình, tạo thêm nhiều điệu bộ phong cách, cho dù bài hát sau đó có trở thành một tiết mục biểu diễn trên sân khấu hay không. Trên đĩa hát này, có sự góp mặt của nhóm L5 trong video clip « Toutes les femmes de ta vie » và ba bản song ca với Sharon Stone, Francis Cabrel và Hélène Ségara, vốn đã từng ghi âm trước đây nhạc phẩm « Sara perché Ti Amo », trên album « Amaretti » của cô, phát hành vào năm 2016.
Trên tuyển tập album gồm các bản ghi âm lại, Julien Doré dành một vị trí quan trọng cho dòng nhạc Pháp nói chung, nhạc pop những năm 1980 nói riêng, tiêu biểu qua những giai điệu nổi tiếng như « Les démons de minuit » của nhóm Images, « Les Sunlights des Tropiques » của Gilbert Montaigné và nhất là « Mourir sur scène » (Chết trên sân khấu) của Dalida.
Cách đây gần hai thập niên, giới yêu nhạc cũng đã khám phá giọng ca của Julien Doré qua bản cover « Chết trên sân khấu », nhân vòng chung kết cuộc thi hát truyền hình Nouvelle Star. Ở đây một lần nữa, người hâm mộ tìm lại kỷ niệm khó quên của buổi biểu diễn vào năm 2007, trên album mới của mình Julien Doré ghi âm lại bài hát « Mourir sur scène » với một bản phối mới.
Một bản nhạc ăn khách khác của Dalida cũng thu hút được nhiều sự quan tâm trong album thứ 6 của Julien. Khi ghi âm lại nhạc phẩm « Paroles Paroles » từng được tác giả Pham Duy phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Những lời mê hoặc », nam ca sĩ đã đảo ngược phần đối đáp. Lời ca trước đây của Dalida sẽ do anh trình bày. Còn phần thoại của thần tượng điện ảnh Alain Delon lại được dành cho ngôi sao màn bạc Mỹ Sharon Stone. Ý tưởng của bản song ca này đã được giữ kín trong nhiều tháng qua.
Theo lời kể của Julien Doré, anh đã gặp ngôi sao màn bạc Sharon Stone tại liên hoan điện ảnh Cannes cách đây vài năm. Sharon Stone đến Cannes để tổ chức các đêm dạ hội gây quỹ từ thiện. Còn Julien Doré thì được mời biểu diễn trong buổi tiệc bế mạc. Hai nghệ sĩ trò chuyện làm quen với nhau, nhưng không nghĩ là họ có dịp gặp lại. Cho đến một ngày kia, Julien liên lạc với Sharon qua mạng xã hội và ngỏ ý mời Sharon hợp tác để ghi âm bản nhạc « Paroles Paroles « (Những lời mê hoặc), điều mà Sharon Stone đã nhận lời ngay.
Trung thành với phong cách hóm hỉnh khôi hài (Julien cố tình hát lệch nhip, hát sai một số nốt nhạc) nhưng anh vẫn tạo được những khoảnh khắc nhẹ nhàng duyên dáng trong tác phẩm. Julien Doré thử kết nối dư âm của ký ức với những khoảnh khắc hiện tại, chính cũng vì con tim luôn nhớ nhung khắc khoải, cho nên trong tâm hồn u hoài, kỷ niệm buồn vẫn chưa nhạt phai.
Trong số các bản tình ca của Elvis Presley, nhạc phẩm « Are you lonesome tonight » có lẽ là giai điệu buồn và đẹp nhất. Vào đầu những năm 1960, sau hai năm thi hành nghĩa vụ quân sự, nam danh ca Elvis đã ghi âm lại bài hát này theo gợi ý của nhà quản lý Colonel Parker, đơn giản là vì vợ ông (bà Marie Mott) rất thích nghe bản nhạc này (phiên bản của Al Jolson), từng ăn khách nhiều năm trước đó
Mặc dù đã được hoàn tất vào mùa xuân năm 1960, nhưng bản ghi âm « Are You Lonesome Tonight » của Elvis Presley lại bị hãng đĩa RCA « cầm chân », trì hoãn thời điểm phát hành đến hơn 6 tháng. Chủ yếu cũng vì ban giám đốc điều hành thời bấy giờ nghĩ rằng bản ballad này không phù hợp với hình ảnh và phong cách của Elvis, họ muốn anh hát nhạc rock để thu hút giới trẻ thay vì hát nhạc tình theo kiểu crooner, hợp hơn với lứa tuổi trung niên.
Bất ngờ thay, khi được phát hành vào tháng 11 năm 1960, bài hát này thành công ngay lập tức trên thị trường Mỹ, đứng đầu bảng xếp hạng nhạc pop của Billboard, về hạng ba trong hạng mục R&B. Một tháng sau khi chinh phục Hoa Kỳ giai điệu này lại giành luôn ngôi vị quán quân tại vương quốc Anh và hạng đầu thị trường châu Âu.
Có thể nói là « Are You Lonesome Tonight » là một bản nhạc xưa. Được nhóm sáng tác Tin Pan Alley (gồm các nhạc sĩ Roy Turk và Lou Handman) viết vào năm 1926, bản nhạc này đã thành công vang dội lần đầu tiên vào năm 1927 với bản ghi âm của Charles Hart. Hai thập niên sau, bài hát « Are You Lonesome Tonight » ăn khách một lần nữa với Harry Freidman, ca sĩ chính của dàn nhạc Blue Barron và nhất là phiên bản của nam danh ca Al Jolson, với giọng đọc khá truyền cảm thay vì giọng hát ở trong đoạn giữa.
Khi cover lại bài hát này, Elvis có lẽ đã muốn chiều ý nhà quản lý của anh là Colonel Parker. Lúc đầu, ông chỉ yêu cầu anh hát thử, nếu không thích thì không cần phải thu thanh, nào ngờ lối hát thần sầu của Elvis lại nâng bản nhạc này lên một tầm cao mới, có phần vượt trội so với các phiên bản trước. Đoạn khó nhất đối với Elvis là phần độc thoại khi anh mô tả mối tình như một vở kịch ba màn, yêu nhau trong màn đầu, bẽ bàng khổ đau trong màn hai, để rồi chia tay nhau trong màn cuối. Khi vở kịch buông màn, cũng là lúc tình yêu đã đi vào hồi kết, sân khấu cô đơn trống rỗng để lại trong màn đêm một dấu chấm hết. Tuy không phải là sở trường so với giọng hát, nhưng giọng nói của Elvis trong phần thoại lại đầy sức thuyết phục.
Ông hoàng Elvis đã ghi âm bản nhạc này tại Studio B ở Nashville vào đầu tháng 04/1960. Tuy nổi tiếng là một ca sĩ nhạc rock, nhưng vào thời bất giờ anh đang chuyển sang ghi âm những bài hát xưa, điển hình là bài hát rất ăn khách của anh trước đó « It's Now Or Never » được phóng tác từ giai điệu « O Sole Mio », và sau đó đến bài « Surender » (Torna a Surriento/Trở về mái nhà xưa trong tiếng Việt) cũng như bài « No more », chuyển thể từ « La Paloma », khúc đàn Tây Ban Nha nổi tiếng trong làng nhạc cổ điển.
Bản thân danh ca Elvis thích sự chuyển hướng này trong sự nghiệp của mình, xem đó là cơ hội để mở rộng tầm nhìn, thử hát nhiều thể loại âm nhạc khác nhau. Điều mà ban giám đốc điều hành hãng đĩa RCA lo ngại, rốt cuộc đã không xảy ra. Dù bị dời lại hơn nửa năm, nhưng đến khi được phát hành, « Are You Lonesome Tonight » lại giúp cho Elvis chinh phục được thêm nhiều thành phần người hâm mộ mới (thế hệ trên 35 tuổi), mà vẫn giữ lại hầu hết những người yêu mến chất giọng của Elvis (chủ yếu là giới trẻ) luôn trung thành với giọng ca này từ lúc anh mới vào nghề.
Cũng như bài hát « Will you still love me tomorrow » (Mai có còn yêu em) của Carole King đã cho ra đời nhiều bản nhạc hồi âm như « Tomorrow & Always » (Yêu đến ngàn sau), phiên bản của Elvis « Are You Lonesome Tonight » sau khi thành công, đã có ít nhất 5 ca khúc đối đáp của những giọng ca nữ khác nhau được tung ra thị trường. Đó là trường hợp của Dodie Stevens, Linda Lee, Ricky Page, Thelma Carpenter và Jeanne Black.
Các giọng ca nữ này đã hồi âm Elvis khi cho phát hành nhạc phẩm mang tựa đề « Yes, I'm lonesome tonight » (Vâng em cô đơn đêm nay) giữ nguyên giai điệu nhưng thay đổi lời hát. Ngoài ra, cũng có một bài hát thứ nhì với góc nhìn khác mang tên là « Oh, how I miss you tonight » (Đêm nay sao quá nhớ anh).
Tuy được đề cử đi tranh giải Grammy trong hạng mục bản ghi âm xuất sắc nhất, nhưng bài hát của Elvis rốt cuộc lại nhường hạng đầu cho nhạc phẩm « Georgia On My Mind » của Ray Charles. Dù vậy bài hát này lại rất thành công trên thị trường và sau Elvis, đến phiên nhiều nghệ sĩ quốc tế ghi âm lại bài này như Frank Sinatra, Connie Francis, Doris Day, Bobby Solo …
Gần một thế kỷ sau ngày ra đời, giai điệu « Are You Lonesome Tonight » tính đến nay đã có gần cả ngàn phiên bản trong 16 thứ tiếng. Trong tiếng Việt, bài này có nhiều lời khác nhau. Lời đầu tiên « Tình bơ vơ » của tác giả Trầm Tử Thiêng do Elvis Phương ghi âm. Lời thứ nhì « Đêm Buồn » của tác giả Nguyễn Hoàng Đô qua phần trình bày của các nghệ sĩ Thanh Duyên hay Quỳnh Dao, lời thứ ba « Em còn cô đơn tối nay » được nhiều nguồn ghi chép là do Trung Hành tự đặt lời và ghi âm.
« Are You Lonesome Tonight » là một trong những bài hát buồn và đẹp nhất từng được viết. Theo bảng xếp hạng (năm 2008) của tạp chí Billboard, bản nhạc này đứng hạng thứ 81 trên danh sách 100 bài hát hay nhất mọi thời đại. Tưởng chừng nhân vật trong bài hát thầm hỏi người yêu, nhưng thực ra lại tự hỏi lòng : có ai nào ngờ đâu, tấn trò đời sân khấu. Yêu ngay từ lúc đầu, trao ánh mắt cho nhau. Nhưng không hiểu vì sao, tình lạc lối đêm thâu. Cho cô đơn buông màn, tim ngập tràn nỗi đau.
« Plus Haut » (Cao hơn) là tựa đề tuyển tập các ca khúc chọn lọc của France Gall được phát hành mùa thu năm nay. Sáu năm sau ngày qua đời, France Gall đã để lại một khoảng trống đáng kể, vì sau cô ít có nghệ sĩ nào có thể diễn đạt thật có hồn các sáng tác của Michel Berger. Tuyển tập này được phát hành vào dịp kỷ niệm ngày hai nghệ sĩ này gặp nhau năm 1974, tức cách đây vừa đúng 50 năm.
Được trình làng vào trung tuần tháng 11/2024, tuyển tập chọn lọc gồm hai ấn phẩm. Phiên bản phổ thông gồm 18 bản nhạc ghi âm trong giai đoạn từ năm 1974 đến 1996. Phiên bản cao cấp (deluxe) là một bộ đĩa gồm tổng cộng 57 bài hát, ngoài những bản nhạc kinh điển, còn có vài bài song ca trên sân khấu với các nghệ sĩ như Johnny Hallyday, Michel Berger hay Daniel Balavoine, thời nam ca sĩ ghi âm nhạc phẩm « S.o.s d'un terien en détresse » (Lời kêu cứu của kẻ tuyệt vọng khốn cùng) cho vở nhạc kịch Starmania.
Giới hâm mộ có thể vui mừng, vì trên tuyển tập (best of) lần này, có một bài hát chưa từng được phát hành trên băng đĩa. Đó là nhạc phẩm « La Prisonnière » (Tù nhân) được ghi âm lần đầu tiên vào năm 1974, trong khuôn khổ dự án thực hiện một vở nhạc kịch mang tựa đề Angelina Dumas do Michel Berger sáng tác. Dự án này rốt cuộc sẽ không bao giờ được hoàn thành. Một số tác phẩm ghi âm vào thời ấy, mãi đến bây giờ mới được tiết lộ cho công chúng, chẳng hạn như các nhạc phẩm « Mais aime-la, À votre avis hay La Prisonnière » …..
Năm 1974 là cột mốc quan trọng cho hai nghệ sĩ France Gall và Michel Berger. Hai người thành hôn một năm sau ngày gặp nhau, mở ra một quan hệ hợp tác bền vững, dài lâu trong gần hai thập niên liền. Không phải ngẫu nhiên mà bài hát đầu tiên Michel Berger viết cho vợ mang tựa đề là « La Déclaration » (Lời tỏ tình). Còn album đầu tiên đánh dấu sự hợp tác giữa cặp vợ chồng nghệ sĩ này bao gồm nhiều bài hát ăn khách, trong đó có các nhạc phẩm như « Calypso » hay « Samba Mambo ». Nhưng tuyển tập vừa được phát hành lại không có những bài hát do France Gall ghi âm trong giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp của mình.
Có thể nói năm 1974 mở ra giai đoạn sự nghiệp thứ nhì của nữ danh ca với hàng loạt thành công vang dội và nhiều kỷ lục mới. Thật vậy, sự nghiệp của France Gall bắt đầu rất sớm, vào năm 1964, tức từ một thập niên trước đó. Khá nhiều tác giả trong đó có Serge Gainsbourg đã soạn nhạc cho cô, giai đoạn huy hoàng là vào năm 1965, khi France Gall đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision với nhạc phẩm « Poupée de cire, poupée de son » (tựa đề bản phóng tác tiếng Việt là Búp bê không tình yêu).
Đầu thập niên 1960 dánh đấu sự trỗi dậy của làn sóng mới bossa nova, nhưng do France Gall đang theo phong trào nhạc trẻ (yéyé), cho nên những bản ghi âm của cô không hề có một chút ảnh hưởng nào của dòng nhạc La Tinh hoặc âm nhạc Brazil. Bản nhạc « Samba Mambo » phần nào gợi hứng từ nhạc phẩm « Le Jazz et là Java » của Claude Nougaro, ít ra trong lối dùng ca từ. Trong bài hát của Claude Nougaro, điệu java nhường chỗ lại cho nhạc jazz. Còn nơi Michel Berger, nhịp mambo lại thay thế cho điệu samba.
Tuy không được chọn làm ca khúc chủ đạo để quảng bá cho album, bài hát Samba Mambo chỉ được phát hành trên mặt B của đĩa nhựa 45 vòng, nhưng rốt cuộc nhạc phẩm này lại được khai thác nhiều trên các làn sóng phát thanh và được công chúng Pháp hưởng ứng nhiệt tình, nhiều hơn cả mặt A là bản nhạc « Comment lui dire ».
Sau khi thành công, vũ khúc tình nồng Samba Mamno sẽ có thêm lời tiếng Anh, tiếng Hung và Phần Lan. Còn trong tiếng Việt, bài này có khá nhiều lời khác nhau, ca từ hay tựa đề đôi khi có khác biệt đôi chút Vũ khúc Samba hay Tình nồng Mambo, nhưng vẫn giữ nguyên hai từ khóa quan trọng như trong bản nguyên tác. Có rất nhiều nghệ sĩ ghi âm lại bài này như Thanh Lan, Ngọc Lan, Julie Quang, Don Hồ và gần đây hơn nữa là lời Việt của Ngọc Phú.
Album đầu tiên hợp tác với Michel Berger trước khi hai nghệ sĩ này thành hôn với nhau lại là album phòng thu thứ 8 của France Gall. Tác giả Michel Berger đã giúp France Gall thay đổi hoàn toàn hình ảnh và phong cách, trở thành một nghệ sĩ thực thụ, với một thế giới âm nhạc riêng không thể nhầm lẫn với ai khác. Giống như cách dùng phản ngữ : câu chữ thể hiện những điều khác hẳn với suy nghĩ, bản ghi âm của France Gall không phải là mambo mà cũng chẳng là samba, cho dù không nói thẳng ra nhưng rốt cuộc lại có nét quyến rũ kỳ lạ nhờ nhịp điệu cha cha.
Trong số những tình khúc nổi tiếng, có từ thập niên 1980, nhạc phẩm « Boulevard » có lẽ thuộc vào hàng giai điệu khó quên nhất. Ngược lại, đa số người hâm mộ thường hay hát lại bài này nhưng ít khi nào biết tác giả là ai. Bản nhạc « Boulevard » từng được phóng tác nhiều lần sang tiếng Việt, phiên bản quen thuộc nhất là của nữ danh ca Ngọc Lan với tựa đề « Con đường tình ».
Làng nhạc chuyên nghiệp dùng thuật ngữ « one-hit wonder » (chỉ một lần nổi tiếng) để chỉ những nghệ sĩ có tên tuổi gắn liền với một bài hát ăn khách duy nhất. Đôi khi, người nghệ sĩ lập được thành tích chỉ có một lần tại một nước cụ thể, nhưng lại khá thành công ở nhiều quốc gia khác. Ca sĩ kiêm tác giả Dan Byrd thuộc vào diện này, tên tuổi của anh luôn đi đôi với nhạc phẩm « Boulevard », rất thịnh hành ở châu Á, nhưng tên tuổi của anh vẫn còn xa lạ đối với công chúng Âu – Mỹ.
Thật khó mà tìm thấy các thông tin trên mạng về Dan Byrd, cho dù ca sĩ kiêm tác giả này đã ra đi quá sớm vì bạo bệnh. Anh qua đời vào năm 2005, chỉ mới 52 tuổi. Sinh ngày 25/05/1953 tại Anvers, miền bắc nước Bỉ, Dan Byrd tên thật là Daniel Fogel. Thời sinh viên anh là ca sĩ chính của nhóm nhạc nghiệp dư « Hassidic Blues Orchestra ».
Theo lời kể của ông William Lip, một trong những thành viên của nhóm, thì ban nhạc chuyên đi biểu diễn trong các quán bar hay các liên hoan địa phương tại Bỉ vào những ngày cuối tuần. Hầu hết các thành viên ban nhạc thời bấy giờ đều là sinh viên. Sau khi tốt nghiệp họ hành nghề kỹ sư, nha sĩ hay doanh nhân. Bản thân ông William Lip trở thành bác sĩ nhi khoa tại Bỉ (Anvers và Bruxelles) và tiếp tục soạn nhạc ghi âm, đăng trên Youtube những bài hát chủ yếu để giải trí. Riêng nam ca sĩ Dan Byrd mới chọn con đường sáng tác biểu diễn chuyên nghiệp, để rồi trở nên nổi tiếng vùng Viễn Đông, nhất là tại các nước châu Á.
Trong hệ ngôn ngữ Đức, Fogel có nghĩa là cánh chim và có nhiều cách viết khác nhau đôi chút là Vogel hay De Vogel tùy theo các vùng miền sử dụng tiếng Đức hay tiếng Hà Lan. Chuyển sang tiếng Pháp, chữ Fogel/Vogel có tên họ tương đương là Loiseau, còn trong tiếng Anh, danh hiệu này trở thành Bird hoặc Byrd, đó là lý do vì sao khi vào nghề Daniel Fogel đã chọn nghệ danh là Dan Byrd.
Một cách chính thức, sự nghiệp ca hát của Dan Byrd kéo dài trong 5 năm, từ năm 1982 đến 1987, thời anh có ký hợp đồng ghi âm với các hãng đĩa chuyên nghiệp. Album phòng thu đầu tiên của anh (phát hành vào năm 1982) với tựa đề « Stay » được hãng đĩa Polydor phân phối ngoài châu Âu tại Singapore, Malaysia, Hồng Kông và sau đó là tại Nhật Bản.
Sau đó, anh cho ra mắt thêm hai album nữa là « From heart to heart » năm 1985 và « Jennifer » vào năm 1987 với hãng đĩa Ace Records. Trong 5 năm sự nghiệp, Dan Byrd đã khá thành công tại châu Á với các sáng tác của mình như « Summer Nights, Stay, BeBop, Sayonara », nhưng nhạc phẩm « Boulevard » mới thực sự là bài hát được nghe nhiều nhất và được hầu như mọi người hâm mộ luôn nhắc tên. Sau khi Daniel Fogel/ Dan Byrd qua đời vào năm 2005, những bài hát này và đặc biệt là « Boulevard » lại càng thành công ở châu Á, hàng loạt phiên bản cover trên YouTube giúp cho giai điệu gây thêm nhiều tiếng vang trên thế giới.
« Boulevard » nổi lên như một bản ballad nhẹ nhàng sâu lắng, chiếm trọn trái tim người nghe với giai điệu u sầu. Nội dung bài hát nói về sự mất mát trong tình yêu và những đau thương trong cuộc đời. Sức hấp dẫn của giai điệu tạo thêm chiều sâu trong cảm xúc, chủ đề phổ quát khiến người nghe dù ở thời nào cũng dễ bắt gặp mình. Bài hát có lối phối khí đơn giản nhưng lôi cuốn, cùng phần diễn đạt mộc mạc chân thành của Dan Byrd giúp cho bản « Boulevard » chinh phục thêm nhiều thính giả.
Được khá nhiều nghệ sĩ cover lại trong nhiều năm qua, bài hát đã trở thành một tác phẩm kinh điển theo đúng nghĩa của từ. Nổi tiếng là bản nhạc duy nhất này làm nên tên tuổi của Dan Byrd, « Boulevard » tiếp tục gây thêm tiếng vang thời nay, khi thế hệ trẻ bây giờ mới khám phá nhạc phẩm. Cho dù không có nhiều thông tin về sự nghiệp của Dan Byrd từ năm 1987 cho tới ngày anh qua đời, « Boulevard » trở thành một trong những giai điệu đáng ghi nhớ nhất của thập niên 1980.
Khi được phóng tác sang tiếng Việt, giai điệu « Boulevard » có nhiều lời khác nhau. Lời đầu tiên với tựa đề là « Con đường tình » do nữ danh ca Ngọc Lan tự đặt lời và ghi âm. Lời thứ nhì là nhạc phẩm « Con tim buồn » của tác giả Nhật Ngân, do Tuấn Ngọc trình bày. Lời thứ ba dựa theo hình tượng của Boulevard là « Đại lộ tình yêu », do Khúc Lan chuyển ngữ và Don Hồ ghi âm. Bản phóng tác thứ tư « Con đường ta chia tay » là của tác giả Nguyễn Hoàng Đô.
Tuy không có duyên với ánh đèn sân khấu quê nhà lúc sinh thời, nhưng nam ca sĩ kiêm tác giả Dan Byrd vẫn để lại cho đời một khúc nhạc u sầu tuyệt diệu, một thoáng tâm hồn lắng sâu trong giai điệu !
Thành danh tại Pháp trong gần bốn thập niên qua trong cả ba lãnh vực ca nhac, thời trang và điện ảnh, Vanessa Paradis là một gương mặt quen thuộc với công chúng, do cô vào nghề từ khi còn nhỏ. Mọi chuyện thực sự bắt đầu vào mùa hè năm 1987, Vanessa lúc ấy mới 14 tuổi, lập kỷ lục đầu tiên nhờ nhạc phẩm « Joe le taxi » với hơn ba triệu bản được bán trên toàn cầu.
Sau khi giành lấy hạng đầu thị trường châu Âu và Canada, hạng ba tại vương quốc Anh, nhạc phẩm « Joe le taxi » còn giành lấy ngôi vị quán quân bảng xếp hạng thị trường Pháp trong vòng 11 tuần lễ liên tục. Giai điệu « Joe le taxi » sau đó được ghi âm trong 8 thứ tiếng kể cả tiếng Hoa. Còn trong tiếng Việt, bài này có hai lời khác nhau. Lời đầu tiên do tác giả Nhật Ngân phóng tác thành nhạc phẩm « Hãy đến với nhau » và được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại, trong đó có Ngọc Lan, Ngọc Huệ, Vy Oanh hay Thùy Dung. Lời Việt thứ nhì do nữ danh ca Thanh Lan tự đặt lời và ghi âm.
Thành công khá bất ngờ này vượt ngoài mong đợi của nhóm sản xuất. Cho dù gấp rút triệu mời vào phòng ghi âm hai nghệ sĩ nổi tiếng của Pháp lúc bấy giờ là nhà soạn nhạc Franck Langolff (chuyên sáng tác nhạc cho nam danh ca Renaud) và tác giả Étiennne Roda-Gil (nổi tiếng nhờ viết lời cho Claude François và Julien Clerc), nhưng quá trình thực hiện album đầu tay cho Vanessa Paradis bị chậm trễ, buộc phải lùi lại vài tháng.
Mãi đến gần một năm sau ngày thành công của bài « Joe le taxi », album đầu tiên của Vanessa Paradis mang tựa đề « M&J » mới được tung ra thị trường Pháp và sau đó là trên khắp châu Âu vào mùa hè năm 1988. Thời điểm phát hành không có gì là ngẫu nhiên, vì khi được trình làng trong kỳ nghỉ hè, Vanessa lúc bấy giờ (mới 15 tuổi) còn đi học, có thể tham gia các show truyền hình, đảm bảo các đợt biểu diễn ở khắp nơi để quảng bá tốt hơn cho album này.
Tựa đề « M&J » là chữ viết tắt của Marilyn Monroe và John F. Kennedy, nói lên mối tình lãng mạn đầy sóng gió giữa ngôi sao điện ảnh quốc tế và cố tổng thống Hoa Kỳ. Đây cũng là tựa đề bài hát ăn khách thứ nhì của Vanessa, nhóm sản xuất đã lấy tên ca khúc chủ đạo này để đặt tựa cho album. Chuyện tình « Marilyn & John » trở thành giai điệu ăn khách thứ nhì của Vanessa Paradis, thành công tại Pháp, Canada, Israel cũng như Nhật Bản, giúp cho album đầu tay của cô đạt mức đĩa bạch kim trên toàn châu Âu.
Trả lời phỏng vấn báo chí, Vanesssa cho biết cô đã từng được nghe giai điệu (do Franck Langolff soạn nhạc) nhiều tháng trước khi bài hát này được đặt lời. Vì biết rằng, từ thời còn bé, Vanessa cực kỳ ngưỡng mộ ngôi sao màn bạc Marilyn Monroe, cho nên tác giả Étienne Roda-Gil đã chọn mối tình của « Marilyn và John » làm chủ đề bài hát.
Trong mắt Vanessa, đó thực sự là một món quà tình cảm, và có lẽ cũng vì cảm thấy gần gũi với mình, cho nên Vanessa thích bài hát này hơn nhiều so với nhạc phẩm « Joe le taxi ». Trên tuyển tập chọn lọc phát hành vào năm 2009, Vanessa đã ghi âm lại một phiên bản acoustic của nhạc phẩm « Marilyn & John » với lối hòa âm rất mộc (theo phong cách của nghệ sĩ Albin de la Simone). Phiên bản này được phát hành dưới dạng đĩa đơn vào mùa xuân năm 2010, và ăn khách một lần nữa sau lần phát hành đầu tiên vào năm 1988, giúp cho bài hát này đạt đến mức hơn một triệu bản trên thị trường châu Âu.
Sau khi thành công tại Pháp, « Marilyn & John » có thêm nhiều phiên bản trong nhiều ngôn ngữ khác. Ngoài tiếng Anh, Ba Lan hay tiếng Nga, còn có phiên bản cover tiếng Bồ Đào Nha với tựa đề « Passageiro do Meu Amor » của ca sĩ người Brazil, Angelica. Ca sĩ người Đài Loan, Diana Yang, cũng đã ghi âm lại bài này trong tiếng Hoa trên album « Love with Roses » (Tình muôn hoa hồng) của mình, phát hành vào năm 1993. Còn trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Lữ Liên phóng tác thành Chuyện tình « Marilyn & John » do ca sĩ Khánh Hà ghi âm.
Trong giới yêu nhạc Pháp, những người tinh ý nhất nhận thấy rằng thời kỳ vàng son của nền điện ảnh Hollywood chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt album đầu tiên của Vanessa Paradis. Ngoài tình sử Marilyn và John, còn có bản nhạc « Maxou » nói về thần tượng người Mỹ James Dean trong bộ phim « East of Eden ». Còn nhạc phẩm « Joe le Taxi » có nhắc tới Yma Sumac, ca sĩ kiêm diễn viên người Peru và Xavier Cugat, nhạc sĩ nguời Tây Ban Nha. Điểm chung là cả hai nghệ sĩ này đều đã ghi âm nhiều bản nhạc phim, giúp phổ biến dòng văn hoá La Tinh ở kinh đô điện ảnh Hollywood
Thành công ngoạn mục của album đầu tay gồm nhạc phẩm « Joe le Taxi » và sau đó nữa là Chuyện tình « Marilyn &John » ... mở đường cho Vanessa hợp tác với Serge Gainsbourg trong làng nhạc, thành công trên màn ảnh lớn nhờ đóng phim « Noce Blanche », hợp tác với nhà tạo mốt Karl Lagerfeld để trở thành biểu tượng thời trang Chanel, dường như trong những thập niên sau đó không gì có thể cản chân Vanessa Paradis bước lên bục vinh quang, danh vọng toả sáng thành « cánh chim địa đàng ».
Vào đầu những năm 1980, sự nghiệp của Julio Iglesias bước vào thời kỳ huy hoàng, trên vòm trời ca nhạc quốc tế, ngôi sao Tây Ban Nha luôn toả sáng. Sau khi giành lấy hạng đầu thị trường Pháp vào năm1979 với album chủ đề "Vous les femmes", (còn có tên là "Pauvres Diables" phóng tác từ nhạc phẩm Pobre Diablo), Julio Iglesias nuôi tham vọng chinh phục thị trường Hoa Kỳ.
Để đạt mục tiêu này, nhà sản xuất người Mỹ Richard Perry đã hội tụ một đội ngũ hùng hậu xung quanh nhóm sáng tác Albert Hammond. Thành danh vào những năm 1970 nhờ ghi âm các sáng tác của mình, Albert Hammond sau đó chuyển sang viết nhạc cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác, trong đó có Tina Turner, Diana Ross, Bonnie Tyler hay Céline Dion ..... Mot trong những đỉnh thành công của tác gia người Anh này là vào năm 1988, khi nhạc phẩm "One moment in Time" (do ông đồng sáng tác với John Bettis) lập kỷ lục số bán nhờ bản ghi âm để đời của Whitney Houston.
Khi làm việc trên album tiếng Anh đầu tiên của Julio Iglesias, Albert Hammond đã tìm cách hoà quyện giọng ca crooner của Julio với nhiều tiếng hát khác, trong đó có Diana Ross, nhóm Beach Boys và đáng ngạc nhiên hơn nữa là Willie Nelson. Julio Iglesias cùng ghi âm với Willie Nelson bản song ca "To all the girls I've loved before" vào năm1984. Việc kết hợp một danh ca La Tinh trữ tình với một ca sĩ chuyên hát nhạc đồng quê (country) là do ngẫu nhiên tình cờ.
Có lẽ cũng vì hai giọng hát này khác hẳn nhau, cho nên thoạt nghe, ý tưởng này có vẻ không ổn cho lắm, nếu không muốn nói là hơi kỳ quặc. Trên thực tế, bản song ca đã ra đời, theo đề nghi của Willie Nelson. Trả lời phỏng vấn nhà báo Tom Roland, tác giả quyển sách "The Billboard book of Number one Country hits" nói về các bản nhạc đồng quê số 1 bảng xếp hạng, Willie Nelson cho biết ông đã được nghe giọng ca của Julio Iglesias trên đài phát thanh nhân một chuyến viếng thăm bạn bè ở Luân Dôn. Vợ ông (bà Connie) thích chất giọng của Julio nên ngay lập tức đề nghị ông nên thu thanh với nghệ sĩ này.
Thông qua nhà quản lý của hãng đĩa, Willie Nelson đã liên lạc được với Julio Iglesias. Lúc bấy giờ, Willie không nghĩ đến chuyện tiền bạc vì Julio vẫn chưa nổi tiếng ở Bắc Mỹ. Sau này, Willie mới biết rằng, vào cuối những năm 1970, Julio là một trong nghệ sĩ quốc tế rất ăn khách, bán được nhiều đĩa nhạc hơn bất kỳ ai trên thế giới vào thời bấy giờ, trước khi có hai hiện tuong nhạc pop là Madonna và Michael Jackson.
Khi thực hiện album tiếng Anh "1100 Bel Air Place" cho Julio Iglesias, nhạc sĩ Albert Hammond đã chọn một số bài hát ông từng sáng tác trước đó. Mặc dù "To all the girls I've loved before" (Cho những người tôi yêu) thành công nhờ bản song ca của Julio Iglesias và Willie Nelson, nhưng giai điệu này (của hai tác giả Albert Hammond và Hal David) ban đầu lại được viết cho giọng ca vàng Frank Sinatra vào giữa những năm 1970. Thế nhưng, Frank Sinatra chê bài hát không hợp với mình, nên từ chối vào phòng thu. Rốt cuộc, Albert Hammond lại trở thành người đầu tiên ghi âm giai điệu này cho album thứ tư của mình mang tựa đề "99 miles from L.A", phát hành vào năm 1975.
Theo lời kể của chính tác giả, bài này đã được ghi âm vài lần nhưng chưa bao giờ thành công, kể cả phiên bản của Bobby Vinton. Khi đến phiên Julio Iglesias và Willie Nelson, hai nghệ sĩ này đã làm việc với nhau tại phòng thu ở Austin Texas, và Julio Iglesias đã mang cuộn băng demo về lại Los Angeles, nơi ông tiếp tục trao dồi cách phát âm tiếng Anh, để hoàn chỉnh các bản thu thanh cuối cùng.
Được phát hành vào mùa hè năm 1984, "To all the girls I loved before" (Cho những người tôi yêu) là ca khúc chính trích từ album tiếng Anh đầu tiên của Julio Iglesias. Nhờ album này, Julio thục hiện được giấc mơ chinh phục thị trường các nước Anh ngữ, sau khi giành lấy hạng đầu khối các nước nói tiếng Pháp, Bồ Đào Nha cũng như Tây Ban Nha.
Sau khi giành lấy hạng 5 thị trường Hoa Kỳ, về hạng nhất trên bảng xếp hạng country, bản song ca được Hiệp hội Âm nhạc Đồng quê bình chọn làm đĩa nhạc hay nhất năm 1984. Bài này cũng được nhiều nghệ sĩ khác ghi âm lại như Shirley Bassey, Tom Jones hay Engelbert Humperdinck. Năm 2010, Alanis Morissette thu âm một phiên bản có tựa đề "To all the boys I've loved before" với sự góp mặt của Willie Nelson trong phần đệm đàn ghi ta.
Trong tiếng Pháp, bài hát được biến tấu thành nhạc phẩm ''À toutes les filles'', do Didier Barbelivien và Félix Gray trình bày. Bài hát lập kỷ lục số bán với gần 1 triệu rưỡi bản, hạng nhất thi trường Pháp trong nhiều tuần liên tục, trở thành tình khúc mùa hè năm 1990. Còn trong tiếng Việt, bản song ca của Julio và Willie được phóng tác thành nhạc phẩm "Cho những người tôi yêu" do hai nam danh ca Tuấn Ngọc và Duy Quang cùng ghi âm.
Giai điệu "To all the boys I've loved before" là chiếc chìa khoá mở ra giai đoạn thành công thứ nhì cho Julio Iglesias, sau khi chinh phục được hầu hết những thị trường quan trọng. Với hơn 200 triệu đĩa hát, 70 album ghi âm trong 14 thứ tiếng, Julio đương nhiên trở thành nghệ sĩ Tây Ban Nha ăn khách nhất mọi thời đại : Bài ca tặng những người tình, mùi hương lưu luyến bóng hình, ngày đăng quang lên tột đỉnh của ông hoàng dòng nhac La Tinh.
Trong làng nhạc pop quốc tế đầu những năm 1970, chỉ có vài giọng ca nam hát hay nhờ giọng gió mà không sợ bị đuối hơi. Ngoài Brian Wilson của nhóm Beach Boys, Smokey Robinson của nhóm The Miracles, còn phải kể đến Barry Gibb của nhóm Bee Gees. Nhưng gần một thập niên trước đó, từng có trường hợp của ca sĩ Frankie Valli. Nhạc phẩm"Can't take my eyes off You" là giai điệu ăn khách nhất trong giai đoạn hát solo của thành viên sáng lập nhóm The Four Seasons.
Khác với giọng ngực, giọng gió thường có làn hơi mỏng hơn, giúp người hát có thể lên cao hơn nhưng âm thanh vẫn bay bổng, mượt mà trong từng câu chữ. Nhưng do thanh đới bị thu hẹp lại, giọng ca có thể bị mất tự nhiên trong những nốt cao vút, ngân dài. Điều này lại không xẩy ra với Frankie Valli. Trong bộ phim ca nhạc ''Jersey Boys'' của đạo điễn Mỹ Clint Eastwood, kể lại cuộc đời và sự nghiệp của nhóm The Four Seasons, từ thời còn nhỏ, Frankie Valli ngoài chất giọng thiên phú, còn có một làn hơi tuyệt vời. Nhờ vậy, khi hát những nốt cao nhất, giọng ca của Frankie Valli chẳng những không mỏng mà còn trở nên dũng mãnh.
Giai điệu "Can't take my eyes off You" (tạm dịch Ánh mắt chưa lìa) được phát hành vào năm 1967, do hai nhạc sĩ Bob Crewe và Bob Gaudio đồng sáng tác, đương nhiên trở thành một trong những bản ghi âm thành công nhất của Frankie Valli, trong cả hai giai đoạn, thời anh đi hát một mình (My Eyes Adored You, 1975) hay đi hát chung với nhóm The Fours Seasons (Oh what a night, 1976), nhạc phẩm quen thuộc này từng được Claude François phóng tác sang tiếng Pháp thành nhạc phẩm ''Cette année là'' (Ngày này năm ấy) mà sau đó nhiều nghệ sĩ Pháp kể cả M.Pokora đều có ghi âm lại.
Sự kiện một ca sĩ chính kiêm thành viên sáng lập ban nhạc có thể đi hát solo, song song với sự nghiệp biểu diễn của cả nhóm (mà vẫn không tạo ra nhiều mâu thuẫn nội bộ) là chuyện hiếm thấy trong làng nhạc quốc tế thời bấy giờ. Thay vì đối đầu, sự thành công riêng của Frankie Valli lại hỗ trợ cho ban nhạc, giúp cho nhóm này gặt hái thêm nhiều đĩa vàng, mở ra một thời kỳ huy hoàng.
Trả lời phỏng vấn báo chí, nhạc sĩ Bob Gaudio và cũng là thành viên của nhóm The Four Seasons, cho biết đây là một trong những giai điệu khó nhất mà ông từng viết. Nhạc phẩm được sáng tác theo kiểu đo ni đóng giày, tận dụng quãng giọng đặc biệt và làn hơi khỏe khoắn của Frankie Valli, đi từ những nốt trầm lên những nốt cao nhất ở đoạn cuối cao trào. Về hình thức Bob Gaudio tìm cách dung hòa nhiều thể loại trong cùng một bài, do vậy sau này, giai điệu có thể được phóng tác dễ dàng sang bất cứ thể loại nào (pop, rock, disco, soul, blues, jazz ….) và khi nghe, ta vẫn có cảm tưởng bài hát đã được viết riêng cho thể loại nấy.
Trong giới sáng tác nhạc, giai điệu "Can't Take My Eyes Off You" là một trường hợp điển hình về lối xây dựng cường độ, tạo thêm sức lôi cuốn hấp dẫn. Việc chuyển từ những câu hát mở đầu dịu dàng tha thiết sang điệp khúc nóng bỏng cuồng nhiệt. Nhà soạn nhạc đã dùng tiếng kèn đồng trong đoạn chuyển tiếp, giúp thu hẹp khoảng cách âm thanh cao độ, mà không bị chệch hướng, làm chậm đi nhịp điệu.
Sau khi chinh phục thị trường quốc tế, "Can't take my eyes off you" trở thành một trong những bài hát được cover nhiều nhất mọi thời đại, trong 14 thứ tiếng khác nhau. Trong số các phiên bản phóng tác nổi tiếng có các nghệ sĩ hàng đầu như Diana Ross, The Temptations, Engelbert Humperdinck, Julio Iglesias hay Lauryn Hill (từng được đề cử giải Grammy nhờ phiên bản xuất sắc ghi âm vào năm 1998). Về phần mình, nam danh ca Andy Williams đã ghi âm bài này hai lần, hạng 5 thị trường Mỹ vào năm 1968, hạng 23 vào năm 2002. Trong số các bản phóng tác ăn khách khác, có phiên bản disco của nhóm Boystown Gang (hạng 4 năm 1982) và phiên bản pop điện tử của nhóm The Pet Shop Boys trong liên khúc với " Where the streets have no name " (hạng 4 năm 1991).
Còn trong tiếng Việt, "Can't take my eyes off you" có hai lời khác nhau. Khác với phần ghi âm của nam ca sĩ Hồ Trung Dũng, phiên bản phóng tác đầu tiên giữ nguyên tựa đề và điệp khúc tiếng Anh, chỉ có lời mở đầu là bằng tiếng Việt, bài này do Nguyễn Thắng và Lương Tùng Quang trình bày. Lời thứ nhì là của tác giả Nguyễn Hoàng Đô, phóng tác thành nhạc phẩm ''Không thể rời xa nhau'' do các nghệ sĩ Quỳnh Dao, Hà Thanh cũng như Mạnh Tuấn đều có ghi âm.
Hàng trăm phiên bản phóng tác vẫn chưa làm phai mờ lối diễn đạt của Frankie Valli. Nhờ giọng gió, giai điệu bài hát trở nên tươi sáng hơn. Nhiều nghệ sĩ trẻ những thế hệ sau này nối bước Frankie Valli trong cách dùng giọng gió mà vẫn không lệch nhịp, không bị đuối hơi ở những nốt cao vút. Giọng gió hay nhờ cách nhả chữ nhẹ nhàng du dương rõ ràng mà vấn vương. Lối hát pha trộn một chút soul giúp cho Frankie Valli truyền đạt được nhiều cung bậc cảm xúc trong cùng một bài hát : Giây phút đầu gặp nhau , cứ ngỡ là chiêm bao. Mộng hóa thân người tình, như mơ đẹp quá đỗi. Nên cứ mỗi lần nhìn, mắt không rời được nổi.
Thành danh vào đầu những năm 1970, Don McLean là một trong những tác giả hàng đầu trong làng nhạc quốc tế. Với hơn 300 bản nhạc và khoảng 20 album ghi âm trong vòng nửa thế kỷ, tài nghệ sáng tác của ông từng được tôn vinh vào năm 2004 nhân lễ trao giải tại Đại sảnh danh vọng Songwriters Hall of Fame.
Trong số hàng trăm sáng tác của Don McLean, có 4 bản nhạc thuộc vào hàng kinh điển, do đã được phát hàng chục triệu lần trên làn sóng các đài phát thanh Mỹ. Theo thứ tự, đó là các nhạc phẩm ''American Pie'' (từng được Madonna ghi âm lại), ''Vincent'' (nói về danh họa Van Gogh), ''Castles in the air'' (hiểu theo nghĩa xa vời khát vọng qua hình tượng lâu đài trên không) và ''And I love you so'' từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm ''Bài hát tình yêu''.
Trong mắt giới phê bình, ''American Pie'' được đánh giá cao do phản ánh những biến chuyển trong xã hội Mỹ theo góc nhìn của Don McLean. Bản ghi âm dài gần 9 phút lại đạt vị trí quán quân trên thị trường Mỹ, Anh, Úc và Canada. Nhờ lập kỷ lục số bán cộng thêm rất nhiều lời khen ngợi của giới báo chí truyền thông và cũng từ đó ''American Pie'' được xem là một trong những tác phẩm quan trọng nhất trong lịch sử nhạc folk Hoa Kỳ.
So với nhạc phẩm ''American Pie'', giai điệu ''And I love you so'' không thành công nhiều về mặt số bán, thế nhưng tác giả Don McLean lại rất tự hào về bài hát này. Trả lời tạp chí Americana Highways, tác giả Don McLean cho biết ông ghi âm bài này cho album đầu tay của mình là ''Tapestry'' (tựa đề này có lẽ đã ảnh hưởng sau đó tới album cùng tên của Carole King). Chỉ có điều là dự án thực hiện album đầu tiên của Don McLean đã bị các hãng đĩa thời bấy giờ từ chối đến 73 lần. Mãi đến mùa thu năm 1970, album này mới được phát hành nhưng lại gặp thất bại.
Một cách thật bất ngờ, nhạc phẩm ''And I love you so'' lại thành công trên thị trường đĩa nhạc 3 năm sau đó qua phiên bản cover của Perry Como. Rồi vào mùa xuân năm 1975, đến phiên ông hoàng nhạc rock Elvis Presley ghi âm bài hát này. Phiên bản của Elvis chẳng những phá kỷ lục số bán mà còn được đưa vào trong tour biểu diễn của ông hoàng nhạc rock. Nhờ vậy mà giai điệu ''And I love you so'' mới được khám phá lại.
Theo lời tác giả Don MacLean, số người hát lại nhạc của Elvis rất nhiều, nhưng số tác giả được Elvis chọn để hát, lại chẳng có bao nhiêu. Tuy được mệnh danh là ông hoàng nhạc rock, nhưng Elvis lại có thêm sở trường hát các bản ballad. Tài nghệ diễn xuất của Elvis thường nâng các giai điệu, kể cả "And I Love You So", lên một tầm cao mới. Sự kiện Elvis một trong những thần tượng âm nhạc của tác giả, ghi âm rồi biểu diễn thường xuyên bản nhạc này trên sân khấu, được Don McLean xem là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp của mình. Tuy bài hát thành công muộn màng, nhưng có lẽ cũng vì thế mà vầng hào quang lại càng tỏa sáng.
Một khi ăn khách trên thị trường quốc tế, nhạc phẩm ''And I love you so'' được ghi âm trong 9 ngôn ngữ khác nhau, trong đó có phiên bản tiếng Tây Ban Nha "Te quiero así" của Julio Iglesias Trong tiếng Pháp. Bản nhạc này có đến hai lời : ''C'est parce que je t'aime'' của nữ ca sĩ Claude Valade đến từ vùng Québec (Canada) và nổi tiếng nhất là ''Et je t'aime tellement'' do nam danh ca người Pháp Claude François tự đặt lời và ghi âm. Còn trong tiếng Việt, giai điệu ''And I love you so'' có hai lời khác nhau. Lời đầu tiên ''Như ta đã yêu nhau'', không ghi rõ tên tác giả, do Bảo Hân ghi âm với Henry Chúc. Lời thứ nhì được tác giả Đức Huy chuyển thành ''Bài hát tình yêu'', từng ăn khách qua phần trình bày của nữ ca sĩ Ngọc Lan.
Với thời gian, ''And I love you so'' trở thành một trong những nhạc phẩm kinh điển có sức sống lâu bền nhất của thập niên 1970. Bài hát nhẹ nhàng tiết tấu dễ thương, càng nghe nhịp chậm càng dễ vấn vương. Lối đặt ca từ ngắn gọn trong sáng, lời lẽ hết sức đơn giản nhưng vẫn có đầy nét duyên dáng, lãng mạn. Nội dung bản nhạc có thể được tóm tắt trong vài câu :
Trót yêu ai quá đỗi, đành yêu không kể xiết. Mai này nếu có hỏi : cớ chi lại yêu người ? Chỉ xin câu trả lời, đơn giản một lần thôi. Thực tình ta chẳng biết, làm sao mà hiểu nổi.
From the publisher's feed
Góc vườn âm nhạc của RFI

42 Listeners

29 Listeners

221 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

14 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

62 Listeners

0 Listeners

6 Listeners

0 Listeners