
Sign up to save your podcasts
Or


Nhắc tới Nicole Rieu, giới yêu nhạc nghĩ đến một trong những giọng ca trong sáng mượt mà nổi tiếng vào những năm 1970, hầu như cùng thời với Jeane Manson. Nhiều bài hát tiếng Pháp ăn khách của Nicole Rieu từng được đặt thêm lời Việt, chẳng hạn như những giai điệu « Ngất ngây bên anh » hay « Về đâu hỡi người » ...
Sinh trưởng (1949) tại thành phố Chaumont vùng Haute-Marne, miền đông nước Pháp, Nicole Rieu từ thời còn nhỏ đã có nhiều năng khiếu âm nhạc. Cô khởi nghiệp ca hát vào giữa những năm 1960, thời Nicole gia nhập nhóm nhạc Les Spits, cho dù về mặt phong cách biểu diễn, cô không thiên về phong trào nhạc trẻ yéyé tại Pháp những năm 1960.
Sau những bước đầu không mấy thành công với ban nhạc trẻ này, dịp may lại đến với Nicole Rieu vào năm 1969, khi giọng hát của cô tình cờ lọt vào tai của ông Lucien Morisse, lúc bấy giờ là giám đốc đài phát thanh Europe 1. Nhờ vào sự dìu dắt của người đã từng gây dựng sự nghiệp cho thần tượng Dalida, Nicole Rieu có cơ hội ký hợp đồng ghi âm đầu tiên trong đời và hợp tác với hãng đĩa Barclay.
Sự nghiệp của Nicole Rieu thực sự cất cánh vào đầu thập niên 1970. Vào năm 1974, Nicole Rieu hợp tác với nhà soạn nhạc Jean-Pierre Goussaud để phát hành album đầu tiên của mình với tựa đề mang khá nhiều ý nghĩa là « Naissance » (Chào đời), album này thành công lớn về mặt thương mại và trong cùng một năm, Nicole Rieu tiếp tục cho ra mắt nhiều bản nhạc ăn khách, trong đó có nhiều giai điệu từng được dịch sang tiếng Việt như « Je m'envole » (Ngất ngây bên anh) hay « Ma maison près de l'eau » (Căn nhà bên dòng nước) do ca sĩ Khánh Hà ghi âm.
Trên đà thành công này, Nicole Rieu được chọn làm gương mặt đại diện cho nước Pháp tại cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision năm 1975 với nhạc phẩm « Et bonjour à toi l'artiste » (Chào người nghệ sĩ) của tác giả Pierre Delanoë. Cho dù Nicole Rieu không giành giải nhất năm ấy nhưng cuộc thi này lại mở ra cho cô nhiều cánh cửa, chinh phục thêm nhiều khán giả nước ngoài. Sự nghiệp quốc tế của Nicole bắt đầu từ năm 1975 trở đi, ngoài việc ghi âm trong nhiều ngôn ngữ kể cả tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý, Tây Ban Nha và tiếng Nhật.
Giong ca của Nicole Rieu vượt qua Đại Tây Dương, thành công tại Canada và tại Nam Mỹ nhờ những bài hát ghi âm bằng tiếng Tây Ban Nha. Thành công này mở ra giai đoạn thứ nhì trong sự nghiệp của cô ca sĩ người Pháp. Nicole Rieu quyết định ở lại Québec một thời gian để ghi âm với nhà soạn nhạc Paul Baillagon. Nhờ vào những nỗ lực hợp tác, Nicole Rieu đã giành được giải thưởng sáng tác Grand Prix de la Chanson với nhạc phẩm « La goutte d'eau » (Giọt nước), soạn theo giai điệu dân ca Ai Len « The foggy dew ».
Sau gần 10 năm thành công với hãng đĩa Barclay, Nicole Rieu quyết định tạm ngừng đi hát. Sau khi sinh con đầu lòng, cô muốn giành thời gian cho gia đình, trong khi theo hợp đồng, cô phải đi biểu diễn thường xuyên ở nước ngoài. Dù xa ánh đèn sân khấu, Nicole Rieu vẫn tiếp tục sáng tác và ghi âm, giữ mối liên lạc với người hâm mộ và trở thành một giọng ca quen thuộc trong khối Pháp ngữ.
Kể từ năm 1994 đến 2023 Nicole Rieu đã cho ra mắt 12 album, tham gia vào nhiều dự án sáng tác nhạc kịch và ca khúc thiếu nhi. Sau một thời gian vắng bóng sân khấu, Nicole Rieu xuất hiện trở lại những năm gần đây nhân vòng lưu diễn « Âge tendre et tête de bois » (Tuổi xanh cứng đầu khó bảo).
Trong số những bài hát quen thuộc của Nicole Rieu, ngoài « Căn nhà bên dòng nước » (Ma maison au bord de l'eau) và « Ngất ngây bên anh » (Je m'envole), còn phải kể đến nhạc phẩm « En courant ». Đây là bản phóng tác tiếng Pháp của nhạc phẩm « Do you know where you're going to », một bài hát ban đầu được Thelma Houston ghi âm, nhưng sau đó trở nên phổ biến nhờ giọng ca của Diana Ross, bản nhạc này được chọn làm ca khúc chủ đề của bộ phim « Mahagony », trong đó Diana Ross đóng một trong những vai chính ...
Trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Nhật Ngân phóng tác thành nhạc phẩm « Về đâu hỡi người » do Ngọc Lan trình bày. Ca sĩ Kiều Nga cũng có ghi âm bài này nhưng lại được ghi chép với một tựa đề khác là « Người yêu ơi ». Lời Việt thứ nhì là của ca sĩ kiêm tác giả Nguyễn Thảo, phóng tác thành nhạc phẩm « Rồi em sẽ đi về đâu ». Còn trong phiên bản tiếng Pháp, nhờ vào chất giọng rõ ràng trong sáng, Nicole Rieu tạo được thêm nhiều nét quyến rũ mơ màng, đưa người nghe nhẹ nhàng vào thế giới mộng du, say đắm dịu dàng.
Cho dù tên tuổi của Patricia Carli có lẽ vẫn chưa quen thuộc lắm với công chúng, nhưng giới yêu nhạc Pháp chắc hẳn đã từng nghe qua những bản nhạc của tác giả này qua nhiều giọng ca nổi tiếng như Dalida hay Mireille Mathieu. Một số bài hát do Patricia Carli đồng sáng tác cũng đã được đặt thêm lời Việt chẳng hạn như những giai điệu « Tất cả cho anh » hay « Muôn đời thiết tha ».
Tên thật là Rosetta Ardito, Patricia Carli sinh (năm 1938) tại thành phố Taranto, thuộc vùng Puglia miền nam nước Ý. Khi lớn lên, cô theo gia đình sang Bỉ định cư, nơi cha cô được tuyển làm thợ mỏ. Đến tuổi trưởng thành, Patricia bắt đầu đi hát, tham gia các liên hoan địa phương nhưng không cho bố mẹ hay biết. Bất chấp lời khuyên can của gia đình, cô quyết định rời nước Bỉ đến Pháp lập nghiệp.
Thời gian đầu ở Paris tương đối khó khăn. Ban ngày, Patricia làm công việc rửa chén phụ bếp trong các quán ăn. Buổi tối, cô tham gia các buổi casting, ghi tên vào các cuộc thi hát với hy vọng ký được hợp đồng ghi âm điã nhạc. Dip may đến với Patricia Carli khi cô ngẫu nhiên gặp Nicole Barclay, vợ của nhà sản xuất nổi tiếng Eddie Barclay. Nhờ vào sự gửi gấm của hai vợ chồng Barclay, Patricia được giới thiệu với nhóm sáng tác của nhà sản xuất Léo Missir vào đầu những năm 1960. Sau vài lần ghi âm không thành công, ca sĩ Patricia Carli thành danh vào năm 1963 với nhạc phẩm « Demain tu te marries » (Ngày mai anh lên xe hoa) từng được ca sĩ Lê Thu Imbert Nguyễn phóng tác sang lời Việt.
Trên đà thành công, Patricia Carli ghi âm bản nhạc Je suis à toi (Em thuộc về Anh). Đây là phiên bản phóng tác tiếng Pháp của nhạc phẩm tiếng Ý Non ho l’eta per amarti, từng đoạt giải nhất vào đầu năm 1964 nhân kỳ liên hoan ca nhạc thành phố San Remo. Đĩa hát thứ ba cũng ăn khách không kém mang tựa đề « Ce que tu es pour moi ». Bài này thường được ghi chép sai thành « Tout ce que tu peux être pour moi ». Đây cũng là một phiên bản tiếng Pháp từ tình khúc tiếng Ý « Tu si na cosa grande » của Domenico Modugno. Có lẽ cũng vì Patricia là người gốc Ý cho nên trong giai đoạn đầu sự nghiệp, cô thường hay chọn phóng tác những lời ca gần gũi nhất với mình.
Bài này từng đặt thêm nhiều lời Việt. Lời đầu tiên của Julie Quang có tựa đề « Anh là tất cả » do Minh Xuân ghi âm. Lời thứ nhì là của tác giả Vũ Xuân Hùng, phóng tác thành nhạc phẩm « Muôn đời thiết tha » do ca sĩ Ngọc Lan trình bày. Đang trên đỉnh thành công, bất đồng lại nảy sinh giữa Patricia Carli với nhà sản xuất Léo Missir. Hai người đã sống chung với nhau trong nhiều năm, quan hệ tình cảm khi xấu đi ảnh hưởng đến sự hợp tác của họ. Vào đầu những năm 1970, Patricia Carli mới chuyển qua sáng tác cho các nghệ sĩ cùng thời, kể cả Dalida (Comme tu dois avoir froid), Mireille Mathieu (Donne ton coeur, donne ta vie), Christian Delagrange (Sans toi je suis seul) hay Daniel Guichard (La tendresse) …. Sau khi ly hôn, Patricia Carli ít còn gặp ông Léo Missir và chủ yếu hợp tác với các tác giả như Eddy Marnay hay Gérard Gustin. Cô thành công với những nhạc phẩm như « Pour la vie, l’éternité » hay « Vivre pour toi, mourir pour toi » (1974). Nhạc phẩm này từng được dịch sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Tất cả cho anh » do Kiều Nga trình bày.
Tuy thành công nhờ soạn nhạc và đặt lời cho nhiều bài hát ăn khách, nhưng vào giữa những năm 1970, Patricia Carli lâm bệnh năng và buộc phải ngừng hẳn mọi công việc trong vòng 4 năm. Đến năm 1978, căn bệnh có dấu hiệu thuyên giảm nên Patricia cho phát hành ca khúc « L'homme sur la plage » (Cô đơn trên bãi biển) và một cách bất ngờ đĩa hát này lại gặt hái được nhiều thành công lớn.
Nhưng niềm vui không được bao lâu. Chỉ vài năm sau, căn bệnh ung thư tái phát và kể từ đó, các sáng tác của nghệ sĩ này trở nên khan hiếm. Patricia Carli xa lánh hẳn ánh đèn sân khấu và ống kính truyền hình. Album cuối cùng của Patricia Carli được phát hành vào năm 2000, xen kẽ những bản nhạc nổi tiếng với một số bài hát mới. Nhân dịp này, cô đã nhận được giải thưởng dành cho những ngòi bút sáng tác xuất sắc của hiệp hội các tác giả Pháp Sacem. Patricia Carli nay đã về hưu và sống tại miền nam nước Pháp, ở vùng Roquebrune Cap Martin, gần Monte Carlo.
Trong số các bài hát rất nổi tiếng của Patricia Carli có nhạc phẩm « Je n’pourrai jamais t'oublier ». Patricia đồng sáng tác bài này với tác giả trẻ tuổi người Bulgary Emil Dimitrov cho nữ danh ca Nicoletta vào năm 1970. Giai điệu này sau đó được tác giả Nhật Ngân phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Mưa trên biển vắng », từng được nhiều nghệ sĩ ghi âm trong đó có Ngọc Lan, Như Quỳnh, Thùy Dung ..... Gương mặt của Patricia Carli có lẽ vẫn còn xa lạ với công chúng, nhưng các giai điệu lại rất quen thuộc với giới yêu nhạc Pháp. Cho dù người phải đi xa, nhưng tim vẫn còn tất cả, chỉ nghe một lần thoáng qua, muôn đời bỗng dưng thiết tha.
Năm 2025 đánh dấu đúng 20 năm ngày Pierre Bachelet qua đời. Vào trung tuần tháng Hai 2025, hãng đĩa Sony Music cho phát hành một tuyển tập chọn lọc gồm các bài hát hay nhất của nam danh ca người Pháp. Trên album này, cũng có một bài hát chưa từng được phổ biến trên băng đĩa.
Sinh thời, tên tuổi của Pierre Bachelet được gắn liền với nhiều bài hát khó quên. Những giai điệu như « Les corons », « Marionnettiste », « Embrasse la » hay « Écris moi » đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng bao thế hệ người hâm mộ. Các giai điệu này quen thuộc đến nỗi, chỉ cần những nốt nhạc đầu vang lên, người nghe có thể thuộc lòng được điệp khúc. Cách đây hai thập niên, vào ngày 15/02/2005, Pierre Bachelet đã qua đời ở tuổi 60, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư phổi. Để kỷ niệm hai mươi năm ngày giỗ của nam danh ca người Pháp, Sony Music cho xuất bản album mang tựa đề « Pierre Bachelet : Les grands classiques » (Những bài hát kinh điển của Pierre Bachelet).
Được công bố vào ngày 14/02, tuyển tập những bài hát chọn lọc của Pierre Bachelet, còn giới thiệu trong phần cuối album một bài hát chưa được phổ biến mang tựa đề « Frérot, retrouvailles » (Ngẫu nhiên gặp lại). Phiên bản của bài hát này từng được Pierre Bachelet ghi âm vào giữa những năm 1990. Nam ca sĩ đưa bài này cho kỹ sư hòa âm của mình, để dành bài hát cho một dự án ghi âm album phòng thu trong tương lai. Vì một lý do nào đó, bài hát lại bị bỏ quên trong ngăn tủ và mãi đến hơn 20 năm sau, bài hát này mới được hoàn chỉnh và gửi đến người hâm mộ.
Song song với việc phát hành tuyển tập trên CD và đĩa nhựa, còn có cuộn DVD bao gồm 14 video clip minh họa cho những bản nhạc nổi tiếng cũng như 9 đoạn video trích từ các đợt biểu diễn của Pierre Bachelet trên sân khấu, chủ yếu là tại nhà hát Olympia. Ngoài ra, nhiều tập nhạc phim sẽ được công ty Music On Vinyl tái bản trên đĩa nhựa, chủ yếu dành cho giới sưu tầm.
Trong giới yêu nhạc, có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ là Pierre Bachelet trước hết tốt nghiệp khoa điện ảnh, nhưng khi vào đời kiếm sống ông lại chọn nghề làm phim quảng cáo. Ông có thể sáng tác rất nhanh những giai điệu dễ lọt tai, dễ thuộc lòng. Pierre Bachelet thành danh ban đầu nhờ sáng tác và ghi âm nhạc phim.
Giai điệu ăn khách đầu tiên của ông vào năm 1974 là nhạc phẩm « Mélodie d'amour » (Giai điệu tình yêu) ca khúc chủ đề của bộ phim « Emmanuelle », bộ phim cấm trẻ em dưới 18 tuổi của đạo diễn Just Jaeckin. Bản nhạc này từng được tác giả Phạm Duy phóng tác thành « Giai điệu tình yêu », có nơi còn ghi chép là « Tình ca Emmanuelle », còn tác giả Trần Kim Bằng chuyển thể bài này thành nhạc phẩm « Tinh đến bên đời ».
Mãi đến hơn 5 năm sau khi thành công với nhạc phim, Pierre Bachelet mới thực sự lập kỷ lục số bán vào năm 1980 với album phòng thu thứ nhì « Elle est d'ailleurs ». Thành công của album này giúp cho Pierre Bachelet trở thành một trong những giọng ca ăn khách nhất với hàng loạt bản hit như « Les corons, Vingt ans, Partis avant tout dit, Écris moi » .... Đằng sau sự thành công vượt trội này, có sự hợp tác chặt chẽ dài lâu giữa Pierre Bachelet với tác giả Jean Pierre Lang. Cặp bài trùng này đã cho ra đời khoảng 180 ca khúc, trong đó có nhiều bản nhạc nổi tiếng viết riêng cho Pierre Bachelet.
Thế nhưng, giai điệu quen thuộc nhất của hai tác giả này vẫn là nhạc phẩm « Elle est d'ailleurs », ca khúc chủ đề album cùng tên. Bài hát này thuộc vào hàng các giai điệu được ghi âm lại nhiều nhất, kể cả phiên bản gần đây của Julien Doré trên album đề tựa « Imposteur » (Kẻ mạo danh) hay của Amir với tay đàn cello Camille Bertholet. Trong tiếng Việt, bài hát này từng được tác giả Trọng Nghĩa chuyển thành nhạc phẩm « Em xa nghìn trùng » và từng được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại như Ngọc Lan, Anh Tú, Việt Lãm, Lân Nhã …. Hai thập niên sau khi vĩnh viễn ra đi, nam danh ca Pháp Pierre Bachelet vẫn để lại trong lòng người hâm mộ hình ảnh của một nghệ sĩ dễ gần gũi hiền hòa, những giai điệu nồng đậm thiết tha, mà bao năm qua vẫn chưa bao giờ mờ nhạt phai nhòa.
Nhắc đến ca sĩ người Bỉ Claude Michel, giới yêu nhạc thường hay nhầm lẫn với tác giả người Pháp Claude-Michel Schönberg đồng tác giả của hai vở nhạc kịch nổi tiếng « Những người khốn khổ » (Les Misérables) và « Miss Saigon ». Sự nhầm lẫn ở đây lại càng dễ hiểu, vì cả hai nghệ sĩ này đều cùng ăn khách với giọng ca của họ hầu như vào cùng một thời điểm, giữa những năm 1970.
Xuất thân từ một gia đình người Ý định cư tại thị trấn Jupille (vương quốc Bỉ) cách thành phố Liège khoảng 70 cây số về phía nam, Claude Michel tên thật là Gianni Marzano. Từ thời còn nhỏ, ông đã có nhiều năng khiếu âm nhạc, cùng với một số thành viên trong gia đình, ông bắt đầu đi hát vào những ngày cuối tuần trong các quán nhạc ở thành phố Liège, ông khởi nghiệp hầu như cùng lúc với hai ca sĩ người Bỉ gốc Ý khác là Frédéric François và Claude Barzotti, cho dù tên tuổi của họ về mặt quốc tế chưa thể sánh bằng bậc đàn anh là Salvatore Adamo.
Trái với nhiều nghệ sĩ cùng tuổi, Claude Michel (Gianni Marzano) ngoài chất giọng và ngoại hình còn biết soạn nhạc. Chính với bản sáng tác đầu tay « Comme je t'aime », ông đã thu hút sự chú ý vào năm 1973 của các nhà sản xuất tại liên hoan ca khúc tiếng Pháp Rose d'Or tại thành phố Antibes. Claude Michel (Gianni Marzano) thành danh tại Pháp một năm sau đó hầu như vào lúc một ca sĩ khác là Claude-Michel Schönberg lập kỷ lục số bán với nhạc phẩm « Le premier pas » từng được dịch sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Biết yêu lần đầu ».
Từ năm 1974 trở đi và trong vòng một thập niên liền, Claude Michel (Gianni Marzano) ghi âm khá nhiều bài hát ăn khách tại Pháp, Thụy Sĩ và vương quốc Bỉ, chẳng hạn như bài « Mon amour, mon été », (Tình em nắng hạ), « Chaque jour, je pense à toi » (Mỗi ngày lại nhớ ai), « Aime moi comme je t'aime » (Hãy yêu anh như anh yêu em)… Ông đương nhiên trở thành một gương mặt tiêu biểu của phong trào những ca sĩ đến từ Bỉ chuyên hát nhạc tình những năm 1970 bên cạnh các nghệ sĩ như Christian Vidal, Frédéric François, Christian Adam hoặc nhóm Crazy Horse, cho dù ca sĩ chính của nhóm này, Alain Delorme là người Pháp. Vào cuối những năm 1970, có lẽ để tránh gây nhầm lẫn với Claude-Michel Schönberg, ông quyết định đổi nghệ danh và ghi âm với tên mình là Gianni Marzano. Bản nhạc « Mal d’amour » (Tương tư) đánh dấu cho sự chuyển hướng này và mở ra giai đoạn thứ nhì trong sự nghiệp của ông, ngoài châu Âu, ông còn thành công với các đợt lưu diễn tại Canada, nam Mỹ và Liban…
Sau hai thập niên thành công rực rỡ, sự nghiệp của Claude Michel (Gianni Marzano) bắt đầu bị lu mờ từ những năm 1990 trở đi, cho dù ông có ghi âm và phát hành một vài album nhưng không có tập nhạc nào ăn khách bằng những năm 1970. Có lẽ cũng vì thế, ông chuyển qua ngành kinh doanh nhà hàng từ năm 2001, ông mở quán ăn gia đình ở trung tâm thành phố Liège tên là Cucinella, rồi sau đó đổi tên thành Casa Marzano. Kể từ năm 2016, khi con trai ông lên làm chủ quán, thì lúc ấy ông mới nghĩ tới chuyện đi hát trở lại theo yêu cầu của giới hâm mộ.
Trong suốt sự nghiệp, Claude Michel đã ghi âm 7 album với những sáng tác của mình và hát lại hơn 200 bài hát của nhiều tác giả khác. Nhân vòng lưu diễn năm 2023, ông mới tìm lại lượng fan hâm mộ đông đảo ở các nước như Ý, Bỉ, Thụy Sĩ, Pháp, Luxembourg hay Canada vẫn thường nghe các album tái bản của ông, cho dù ông đã vắng bóng sân khấu trong một thời gian khá dài, sau hơn 25 năm sự nghiệp.
Trong số những giai điệu gắn liền với tên tuổi của Claude Michel, có nhạc phẩm « Sans Elle » từng được ghi âm vào năm 1973. Bài này sau đó đã được phóng tác nhiều lần sang tiếng Việt. Lời Việt đầu tiên là nhạc phẩm « Xa em rồi » của tác giả Phạm Duy từng được nhiều nghệ sĩ như Trung Hành hay Thế Sơn ghi âm. Lời Việt thứ nhì « Nếu vắng nàng » là của tác giả Kỳ Phát do nam danh ca Duy Quang trình bày.
Còn nhạc phẩm « Je suis un Romantique », cũng do Claude Michel (Gianni Marzano) phát hành vào năm 1974, từng được tác giả Khúc Lan chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm « Tôi người mơ mộng » và do nam ca sĩ Anh Tú ghi âm. Bài hát này gần đây được ca sĩ Thùy Dung trình bày lại trên sân khấu nhân đêm nhạc tưởng niệm 20 năm ngày giỗ của nam danh ca Anh Tú, được tổ chức vào cuối tháng 11/2023 tại Sài Gòn. Trong tim bao chặng đường xa, đồng hành khúc nhạc lời ca, về đây đem một chút quà, tình chưa phai tháng ngày qua...
Nhắc đến Gina Tielman (nghệ danh là Gina T.), giới yêu nhạc nghĩ tới ngay một trong những giọng ca thành danh trên thị trường châu Âu vào đầu những năm 1990. Trong hai thập niên sự nghiệp, Gina T. đã ghi âm khá nhiều bản nhạc ăn khách như « Tokyo by night » hay « I don't like rainy days ». Riêng nhạc phẩm, « Tonight's so cold » từng có nhiều phiên bản phóng tác thành công, ngoài tiếng Đức còn có giai điệu lời Việt « Đêm nay em thấy cô đơn ».
Sinh trưởng (năm 1960) tại Bussum, Hà Lan, Gina Tielman là con nhà nòi. Cô xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ người gốc Indonesia đến châu Âu lập nghiệp từ năm 1963. Thân phụ của Gina (ông Ponthon Tielman) cùng với nhiều thành viên trong gia đình đã sáng lập ban nhạc The Tielman Brothers. Đây là ban nhạc song tịch Nam Dương Hà Lan đầu tiên dấn thân thành công vào làng nhạc quốc tế vào giữa những năm 1960. Họ là những nghệ sĩ tiên phong của dòng nhạc rock ở Hà Lan, sau đó trở nên nổi tiếng ở các nước nói tiếng Anh và nhất là tiếng Đức đầu thập niên 1970. Nhóm The Tielman Brothers khai phóng một thể loại âm nhạc sau này được gọi là Indo-rock, kết hợp hài hòa các tiết tấu Nam Dương (bắt nguồn từ dòng nhạc kroncong của Indonesia) với nhịp điệu Tây phương.
Do lớn lên trong môi trường nghệ thuật của gia đình, cho nên từ thời còn nhỏ, Gina đã biết hát và học sáng tác. Cô bắt đầu tham gia biểu diễn trong các dàn đồng ca thiếu nhi cũng như đi hát tại các nhà thờ với ban hợp xướng phúc âm. Về mặt chuyên nghiệp cô tham gia vào nhóm sáng tác Adam Schairer và Peter B.Herrmann. Cô định cư lập nghiệp ở Đức sau khi thành hôn và lập gia đình với nhà sản xuất Adam Schairer vào năm 1998.
Khi mới vào nghề với ca kúc « In my fantasy », cô chọn nghệ danh là Gina T. có lẽ cũng vì Gina không muốn mang dấu ấn nhạc rock của dòng họ Tielman, mà lại chọn khai thác dòng nhạc nhảy của châu Âu EuroDance, một trào lưu tiếp nối cho dòng nhạc pop new wave của thập niên 1980. Cơ hội may mắn đầu tiên thực sự đến với Gina vào năm 1990 khi nhạc phẩm « Tokyo by night » của cô (do Adam Schairer sản xuất) được phát hành trên thị trường quốc tế. Thành công bước đầu này mở đường cho Gina ghi âm nhiều bản nhạc ăn khách khác, chủ yếu với nhịp điệu trẻ trung sôi động. Ở đây, có thể thấy rõ ràng các luồng ảnh hưởng của Gina, chuyên kết hợp dòng nhạc disco của Abba, Bee Gees, Baccara, Gloria Gaynor với nhạc pop rock của Police, Queen, Bryan Adams cũng như một số nghệ sĩ khác ….
Một trong những đặc điểm của nhóm sáng tác cho Gina T. vẫn là pha trộn hòa quyện nhạc dance với một chút âm thanh châu Á, như thể để nhắc nhở nét duyên dáng của cô ca sĩ người Hà Lan gốc Indonesia. Đó là trường hợp của các nhạc phẩm « Tokyo by night, Sayonara, Little Butterfly » cũng như nhạc phẩm « Lady Saigon », ca ngợi vẻ đẹp về đêm của thành phố Sài Gòn, phát hành vào năm 2011 trên album mang tựa đề « Love will survive ».
Trong số những bản hit quan trọng nhất của Gina T. không chỉ có những nhịp điệu hấp dẫn lôi cuốn mà còn có nhiều bản nhạc tình theo kiểu pop ballad, chẳng hạn như các nhạc phẩm « Sail over the seven seas, In my fantasy hay Tonight's so cold ». Tuy không phải là những bài hát dành cho sàn nhảy, nhưng lại rất ăn khách nhờ giai điệu nhẹ nhàng lối hòa âm tươi sáng. Được nhóm sáng tác Adam Schairer và Peter B.Herrmann phát hành vào năm 1991, nhạc phẩm « Tonight's so cold » Đêm sao buốt lạnh (còn có tiếu tựa Inside my room) sau khi thành công trong tiếng Anh còn cho ra đời nhiều bản phóng tác ăn khách trong nhiều thứ tiếng khác.
Chẳng hạn như bài « (Ce soir) Je t'aime mon amour » tuy có tựa đề tiếng Pháp nhưng chủ yếu là một ca khúc tiếng Đức, do nữ ca sĩ Claudia Jung ghi âm vào năm 1994. Phần nhạc đệm của bài này là do tay đàn dương cầm người Pháp Richard Clayderman thực hiện và có lẽ cũng vì thế bài hát tiếng Đức này sau đó được đặt thêm lời tiếng Pháp.
Còn trong tiếng Việt, tác giả Khúc Lan từng phóng tác nhạc phẩm « Tonight's so cold » thành giai điệu « Đêm nay em thấy cô đơn ». Đã có rất nhiều nghệ sĩ Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại như Lưu Bích, Khánh Hà, Thanh Hà, Bích Thuần, Kiwi Ngô Mai Trang, Hoàng Chi, Đình Bảo, Hồ Quang Hiếu đều từng ghi âm bản nhạc này : Đêm nay căn phòng buốt lạnh, không còn chiếc bóng trên tường, người đi cho bao sầu thương, tràn về mùa đông hiu quạnh, trong hồn bão tuyết chưa tạnh, trái tim băng giá ngập đường...
Mỗi lần nhắc tới nhạc sĩ Giorgio Moroder, giới yêu nhạc nghĩ đến ngay một trong những bậc thầy của dòng nhạc pop điện tử, người đã làm nên tên tuổi của nữ hoàng disco Donna Summer. Nhưng ít ai nhớ rằng, Giorgio Moroder từng soạn những bản nhạc phim nổi tiếng như giai điệu thôi miên của Midnight Express (1978) hay ca khúc chủ đề của bộ phim Top Gun (1986) với Kelly McGillis và Tom Cruise trong vai chính.
Mang tựa đề « Take my breath away », bài hát này do nhóm Berlin trình bày, khi được chọn làm nhạc chủ đề cho bộ phim Top Gun, đã nhanh chóng trở thành một trong những tác phẩm nhạc phim ăn khách nhất từ trước đến nay. Thành công vượt trội của phim Top Gun giúp cho ca khúc cất cánh bay cao, đi vòng quanh thế giới. Một thành tích ít có gì sánh bằng cho dù Lady Gaga được mời ghi âm « Hold my hand » ca khúc chủ đề của tập nhì : Top Gun Maverick.
Đằng sau sự thành công của bài hát, có sự hợp tác chặt chẽ giữa hai tài năng thuộc vào hàng cao thủ. Giorgio Moroder giỏi hòa âm soạn nhạc, còn Tom Whitlock chuyên đặt lời. Cặp bài trùng này (nhóm sáng tác) đã cho ra đời nhiều bản nhạc ăn khách, trong đó có « Danger Zone » viết cho Kenny Loggins (Top Gun) và « Meet me halfway » soạn cho bộ phim « Over the top » với Sylvester Stallone trong vai chính, nhưng không có bài nào của nhóm sáng tác này lập kỷ lục số bán vào năm 1986 như nhạc phẩm « Take my breath away », giúp cho Berlin trở thành một trong những nhóm tiêu biểu của dòng nhạc pop những năm 1980.
Trả lời phỏng vấn tạp chí The Sunday Express, ca sĩ chính của nhóm Terri Nunn cho biết là nhóm Berlin đã hình thành từ những năm 1970 và đi biểu diễn trong hơn một thập niên liền, và đi biểu diễn trong hơn một thập niên liền. Trong lúc cả nhóm đang thực hiện phần ghi âm album thứ ba, thì nhà soạn nhạc kiêm sản xuất Giorgio Moroder, người từng làm việc với David Bowie và Blondie, ngỏ lời mời nhóm này ghi âm cho album nhạc phim Top Gun.
Chỉ có điều là « Take my breath away » thuộc vào dạng power ballad, khúc nhạc tình với sức cuốn hút dũng mãnh, trong khi nhóm Berlin thời bấy giờ chủ yếu chơi nhạc rock indie. Nếu như ca sĩ chính Terri Nunn hưởng ứng một dự án như vậy, xem đây là cơ hội để tạo thêm danh tiếng cho ban nhạc, thì ngược lại nhạc sĩ John Crawford, tay đàn chính kiêm thành viên sáng lập ban nhạc lại không thích các bản nhạc mà anh cho là « thương mại », sang tác theo xu hướng thị trường. Theo John Crawford, đừng vì chuyện tiền bạc mà ghi âm theo đơn đặt hàng, vì đó không phải là hướng đi tốt nhất cho ban nhạc. Nhóm Berlin chủ trương thu thanh những sáng tác của họ, chứ không hát nhạc của người khác. Thế nhưng, ban nhạc lại nhượng bộ trước áp lực từ phía hãng đĩa và các nhà sản xuất : nhóm Berlin có thể hoàn tất album phòng thu thứ ba với điều kiện thu bài hát cho nhạc phim Top Gun.
Kết quả là «Take my breath away » lập kỷ lục số bán với hơn 3 triệu bản, giành lấy hạng đầu thị trường Hoa Kỳ cũng như các nước châu Âu, hạng nhì tại Úc, Nam Phi hay Canada ….. Có khá nhiều nghệ sĩ nổi tiếng đã ghi âm lại bài hát này, kể cả Diana Ross Will Young và nhất là Jessica Simpson vào năm 2004 nhân dịp tái bản album « In this skin » của cô. Jessica Simpson cho biết cô rất yêu thích bài này kể từ lần đầu tiên khi được nghe giai điệu trong bộ phim « Top Gun », đến nổi cũng như nhiều cặp uyên ương khác cô đã chọn bài này nhân lễ đính hôn.
Take my breath away của nhóm Berlin giành được giải Oscar năm 1986 trong hạng mục cho bản nhạc gốc hay nhất, đánh bại « Glory Of Love » của Peter Cetera ghi âm cho tập nhì của bộ phim The Karate Kid. Trên đà thành công bài hát này sau đó đã được phóng tác sang 12 thứ tiếng, kể cả tiếng Hoa và tiếng Nhật. Trong tiếng Việt bài này có khá nhiều phiên bản khác nhau : Lời đầu tiên là « Dìu Vào Tình Yêu » của ca sĩ Ngọc Huệ, lời thứ nhì « Tình yêu hững hờ » qua phần ghi âm của ca sĩ Nhã Phương. Lời thứ ba là của tác giả Khúc Lan, phóng tác thành nhạc phẩm « Nụ hôn xin hãy trao », từng được khá nhiều nghệ sĩ như Lâm Thúy Vân hay Kiều Nga ghi âm lại.
Hầu hết các bản nhạc phim ăn khách trong những năm 1980 đều là những giai điệu có tiết tấu sôi động dồn dập (Flashdance, Fame Footloose, Mad Max III, Highlander, Eye of the Tiger …..) có lẽ cũng vì đó là xu hướng sáng tác thịnh hành vào thời bấy giờ. Về điểm này, à « Against all odds » của Phil Collins, « The Time of my Life » trong phim Dirty Dancing hay « Take my breath away » có thể được xem như những trường hợp ngoại lệ.
Nhờ vào tài nghệ hoà âm, Giorgio Moroder đã tạo ra một nhịp điệu khác thường và âm thanh mới lạ cho bản ballad này, âm thanh lớp dày nhưng vẫn làm nổi bật được giọng hát của ca sĩ chính. Bản hòa tấu không lời khi được dùng làm nhạc nền phần đệm cũng giúp cho hình ảnh thêm mạnh mẽ lôi cuốn trong bộ phim Top Gun. Tựa như một con dao hai lưỡi, thành công củaTake my breath away lại gây ra nhiều mối bất đồng sâu đậm trong ban nhạc Berlin. Ca sĩ chính Terri Nunn vui mừng khi bản ballad đã mang lại cho nhóm sự thành công trên thị trường quốc tế tạo thêm cơ hội cho nhóm này đi lưu diễn trên toàn thế giới. Ngược lại, thành viên sáng lập John Crawford lại không mấy hài lòng, vì thành công vượt bực sáng ngời của Take my breath away làm lu mờ hẳn các sáng tác của nhóm. Rốt cuộc sau hơn một năm đi biểu diển để quảng bá cho Take my breath away, trong lúc người hâm mộ còn thổn thức đắm say, nào ngờ ban nhạc Berlin đành phải chia tay.
Mỗi lần nhắc tới ca sĩ kiêm tác giả Pierre Bachelet, giới yêu nhạc thường nghĩ đến ngay bài hát quen thuộc nhất của ông là « Elle est d'ailleurs » (Em xa nghìn trùng). Nhưng bên cạnh những bài hát nổi tiếng với giọng ca của mình, Pierre Bachelet còn từng soạn nhạc cho nhiều nghệ sĩ khác, đó là trường hợp của Véronique Jannot với giai diệu « Si t'as pas compris », từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Tiếc nhớ cuộc tình ».
Sinh trưởng tại thành phố Annecy, vùng Haute-Savoie, Véronique Jannot ban đầu là một diễn viên rồi sau đó chuyển sang nghề ca hát. Vào nghề đóng phim từ năm 15 tuổi, cô thực sự nổi tiếng 5 năm sau nhờ bộ phim truyền hình nhiều tập « Pause Café ». Thành công bước đầu này thu hút sự quan tâm của các nhà sản xuất điện ảnh. Nhờ vào sự dìu dắt của ngôi sao màn bạc Pháp Alain Delon, Véronique Jannot có cơ hội chinh phục màn ảnh lớn, đóng vai nữ chính bên cạnh thần tượng Pháp Alain Delon trong bộ phim « Le Toubib » (Bác sĩ quân y). Trong vòng gần một thập niên sau đó, từ năm 1978 đến năm 1987, Véronique Jannot xuất hiện trong nhiều bộ phim Pháp quan trọng …. trong đó có tác phẩm « La dernière image » (Hình ảnh cuối cùng) từng được chọn đi tranh giải Cành co vàng tại Liên hoan Cannes năm 1986.
Có thể nói là trước khi chuyển sang nghề ca hát, gương mặt của Véronique Jannot đã trở nên khá quen thuộc với công chúng Pháp nhờ vai diễn trong loạt phim truyền hình « Pause Café ». Trên đà thành công, giới sản xuất mới nghĩ tới chuyện mời Véronique thu thanh các bản nhạc chủ đề của bộ phim nhiều tập. Cô đồng ý hợp tác với điều kiện, cô được toàn quyền đặt lời cho bài hát. Thành công của bản nhạc này tạo cơ hội cho Véronique ký hợp đồng ghi âm đầu tay trong vòng 5 năm. Cô tiếp tục đặt lời bài hát và cho ra mắt nhiều giai điệu ăn khách. Chính trong giai đoạn này, cô có dịp hợp tác nhiều lần với nhóm sáng tác của Pierre Bachelet, điển hình với các nhạc phẩm « Ma repentance » và nhất là « J'ai fait l'amour avec la mer ».
Vào lúc bấy giờ, Pierre Bachelet đang thành công rực rỡ trong làng nhạc Pháp. Sau khi lập kỷ lục số bán cuối năm 1980 với nhạc phẩm « Elle est d'ailleurs » (phiên bản phóng tác tiếng Việt là Em xa nghìn trùng) Pierre Bachelet được mời soạn nhạc cho nhiều giọng ca nữ ăn khách thời ấy, trong số này có Dalida, Jane Birkin hay Nicole Croisille …. Vào năm 1985, ông sáng tác một giai điệu mà ban đầu được dành cho nhạc phim, nhưng khi được tặng cho Véronique Jannot lại trở thành nhạc phẩm « Si t'as pas compris » (Nếu anh vẫn chưa hiểu).
Sự nghiệp ca hát của Véronique Jannot kéo dài trong hơn một thập niên, sau tác giả Pierre Bachelet, cô lại tiếp tục thành công nhờ hợp tác với bạn đời của cô là nhạc sĩ trứ danh Laurent Voulzy với nhiều bản nhạc ăn khách như « Aviateur » hay « Désir, Désir ».
Đang trong giai đoạn thành công, Véronique Jannot lại gặp bất đồng với nhà sản xuất Claude Carrère. Một khi hết hợp đồng, sự nghiệp ca hát của cô bị lu mờ từ đầu thập niên 1990. Trong những năm sau đó, cô bớt di hát và nối lại với nghề đóng phim truyền hình, viết sách, đọc truyện thiếu nhi .... Mãi đến năm 1998, tức gần một thập niên sau, Pierre Bachelet mới thuyết phục được Véronique Jannot trở lại phòng thu để ghi âm một số nhạc phẩm mới, nhưng không có bài nào ăn khách bằng những bài hát đầu tiên, đánh dấu sự hợp tác giữa hai nghệ sĩ này.
Về nội dung, có thể nói là nhạc phẩm « Si t'as pas compris » (Nếu anh vẫn chưa hiểu) có nhiều nét gần giống với « Je t'oublie pas » (Không thể quên anh) của Corynne Charby, nhất là trong cách dùng ngôn từ phủ định nhưng theo văn nói thay vì văn viết, để tạo thêm sự gần gũi với người nghe. Khi được đặt thêm lời Việt, bản nhạc này được tác giả Phạm Duy phóng tác thành nhạc phẩm « Tiếc nhớ cuộc tình », thành công nhờ các bản ghi âm của danh ca Ngọc Lan và gần đây hơn nữa là của ca sĩ Thùy Dung :
Lẽ gì người vẫn chưa hiểu, tim ta chỉ một tình yêu. Cớ chi đắm say quá đỗi, nên quên mọi thứ trên đời. Làn môi hôn tóc rối bời, hương tình xõa nhẹ chăn gối.
Michael Learns To Rock, ban nhạc Đan Mạch chiếm lĩnh trái tim hàng triệu người hâm mộ châu Á nhưng gần như không có tiếng tăm tại châu Âu hay Mỹ. Nhóm nhạc có kỳ tích mà nhiều nghệ sỹ phải nể phục: 1 tỷ lượt xem trên Youtube, 350 triệu nghe trên Spotify, 11 triệu đĩa hát tiêu thụ trên toàn cầu.
Thời kỳ thành lậpBan nhạc Michael Learns to Rock (MLTR) thành lập vào năm 1988 tại thành phố Arhus, Đan Mạch. Lúc đó, ca sỹ chính Jasha Richer lên ý tưởng thành lập ban nhạc với các bạn học phổ thông và mời tay trống Kare Wanscher tham gia. Họ nhận thấy hạn chế của bộ đôi nên chiêu mộ thêm tay guitar, Mikkel Lentz và cây bass Soren Masden. Tại thời điểm đó, Jasha đã sở hữu một số bài hát anh tự sáng tác. Nhóm đã có buổi biểu diễn đầu tiên tại Rock Grand Prix và festival âm nhạc mùa hè Aarhus Outdoor Festival tại thành phố quê hương. Cho dù lượng khán giả rất khiêm tốn, may mắn mỉm cười với họ khi tờ báo địa phương đánh giá là nhân tố tài năng mới. Đồng thời, nhóm lọt vào mắt xanh của thành viên Ban giám khảo, Jens Peter Andersen. Ông đã trở thành quản lý của nhóm để giúp nhóm có album phòng thu đầu tay năm 1991. Album cùng tên, lọt vào bảng xếp hạng Đan Mạch và ít lâu sau chiếm lĩnh thiện cảm của khán giả châu Á nhờ ca khúc The Actor (Diễn viên). Riêng tại Indonesia, album này tiêu thụ tới 25.000 bản và trở thành hiện tượng tại quốc gia Hồi giáo.
Thành công rực rỡ thập niên 902 năm sau, album phòng thu tiếp theo, Colours(Sắc màu) năm 1993, chính thức làm bệ phóng cho danh tiếng ban nhạc lan rộng khắp Châu Á. Ba ca khúc Sleeping Child, 25 Minutes, Out of the bluestrở thành thỏi nam châm khổng lồ với khán giả Châu Á. Các bản hit nói trên đều theo đuổi phong cách soft-rock, ballad (tình ca) theo khuôn mẫu bản nhạc pop truyền thống (2 khổ, 1 điệp khúc). Nội dung đề cập về tình yêu, sự đời chờ và mất mát trong tình yêu. Đặc biệt, nhóm sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh rất đơn giản, câu ngắn ngọn và giản lược. 25 Minutes (Muộn 25 phút) là ví dụ sinh động của câu chuyện tình tay ba. Họ kể một câu chuyện tình yêu giản dị có phần ngây ngô : yêu đơn phương và đợi chờ. Phải chăng vì thế gu kể chuyện giản đơn này giúp họ lại gần văn hóa khán giả châu Á nhiều hơn ?
I find her standing in front of the church, The only place in town where I didn't search, She looks so happy in her wedding dress, But she's crying while she's saying this, Boy I missed your kisses all the time but this is Twenty five minutes too late.
Tôi thấy cô ấy đứng trước nhà thờ, Nơi duy nhất trong thị trấn tôi đã không tìm kiếm, Cô ấy trông hạnh phúc trong chiếc váy cưới, Nhưng cô ấy khóc khi nói điều này : Em đã lỡ nụ hôn của anh nhưng lần này anh đã muộn quá 25 phút.
Âm nhạc pop khuôn mẫu không theo xu thếKhác với các ban nhạc cùng thời, MLTR không chạy theo xu thế và cũng không đổi mới bản thân. Họ trung thành với khuôn mẫu soft-rock, pop ballad suốt hơn 30 năm tồn tại. Bộ tứ Đan Mạch chịu ảnh hưởng lớn từ Elton John, The Beatles, Rolling stones, ABBA, Bee Gees. Các nghệ sỹ tên tuổi đều chú trọng nội dung, chất lượng âm nhạc và ca từ. Vì vậy, phần ca từ của MLTR rất chau chuốt và có câu chuyện rõ ràng. Có ý kiến cho rằng nhóm chịu ảnh hưởng từ Michael Jackson nhưng họ luôn phủ nhận điều đó. Tuy nhiên, nội dung bài hát không có tính ẩn dụ, triết lý sâu sắc như các nghệ sỹ họ chịu ảnh hưởng.
Trưởng nhóm Jascha chủ yếu sáng tác trên piano sau đó tay guitar Mikkel sẽ phát triển thêm, chỉnh sửa để cho ra sản phẩm cuối cùng. Theo Mikkel, âm nhạc MLTR không theo thể loại nào ngoại trừ âm thanh pop rất kinh điển. Phần lời chính (verse) gồm 1 hoặc 2 khổ thơ, sau đó phần điệp khúc có cao trào mạnh mẽ về giai điệu cũng như nhịp điệu. Các bản hit như That’s why you go away, Paint my love, Someday đều chế biến theo công thức này. Hơn thế, nhóm còn chăm chút đoạn solo nhạc cụ chủ yếu guitar hay keyboards vào phần chuyển bài. Chủ đích này khiến cho bài hát mềm mại và êm dịu, nhưng không hợp gu khán giả Anh, Mỹ do bố cục kém gọn gàng, thiếu cao trào mãnh liệt.
Tình yêu của khán giả Châu ÁMột số tạp chí âm nhạc đã tìm hiểu nguyên nhân MLTR hâm mộ ở Châu Á đến vậy. Một trong số câu trả lời gây ngạc nhiên nhất: Karaoke. Văn hóa karaoke rất thịnh hành tại các nước Đông Nam Á như Philipinnes, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam. Các ca khúc MTLR làm mưa làm gió theo phong trào karaoke không có gì lạ lẫm. Giai điệu dễ nghe, ca từ đơn giản, nên người hâm mộ dễ dàng thấm nhuần câu chuyện tình yêu. Phần lớn nhạc beat các bài hát tương đối giống nhau nên thể hiện qua karaoke rất thuận lợi.
I’m not an actor, I’m not a star, And I don’t even have my own car, But I’m hoping so much you’ll stay, That you will love me anyway.
Anh không phải là diễn viên, Anh không phải là ngôi sao , Anh không có xe hơi riêng, Nhưng anh hy vọng rằng em sẽ ở bên anh, Và bất chấp thế, em sẽ yêu anh.
Ngoài ra, Indonesia, đất nước đông dân thứ 4 thế giới, có lẽ là nơi khởi nguồn cho cơn sốt MLTR lan rộng châu Á. Bản hit The Actor (Diễn viên) leo lên hạng 1 tại Indonesia nhờ người quản lý hãng Aquarius Musikindo, Agus Syarif Hidaya. Trong khi các công ty đối thủ phát hành album nhạc của siêu sao Bon Jovi, Madonna, hãng đĩa này quyết định tung ra sản phẩm mới lạ MLTR. Ban nhạc bắt đầu lưu diễn Châu Á từ năm 1994 trở thành ngôi sao sáng chói tại lục địa này, từ Cam Bốt cho tới nơi xa xôi như Papua New Guinea. Âm nhạc dễ nghe kết hợp ca từ ủy mị, hơi buồn tẻ, nhân vật trong câu chuyện của họ ngây ngô, chất phác. Sự cộng hưởng các yếu tố này có lẽ chiếm lĩnh thiện cảm với khán giả Châu Á nhờ sự gần gũi văn hóa.
Ban nhạc đã trải qua nhiều chông gai để tới miền đất hứa. Họ từng bị từ chối hợp đồng ghi âm tại Anh do ca từ quá đơn giản. Họ giành hợp đồng tại Mỹ nhưng hãng đĩa lại sớm phá sản. Album thứ hai không được đón nhận tại Đan Mạch do trào lưu pop/soft-rock thoái trào. Khán giả Châu Á trở thành “thiên thần hộ mệnh” cho nhóm nhạc với 10 album phòng thu. Hiện tại, nhóm chỉ còn 3 thành viên, do tay bass Søren Madsen rời nhóm theo đuổi sự nghiệp solo. Ban nhạc thổ lộ họ thực sự trúng độc đắc tại Châu Á. Tình yêu từ khán giả Châu Á mang đến cho họ cuộc sống sung túc tại Đan Mạch, một quốc gia vô cùng đắt đỏ. Quả thực, âm nhạc của MLTR còn đắt hơn thế nhờ tích lũy giá trị hơn ba thập kỷ !
(Theo New York Times, Wikipedia, All Music)
Trong số những bài hát nổi tiếng vào những năm 1980, « Endless Love » có lẽ là giai điệu lãng mạn tha thiết nhất. Nhạc phẩm này là bài hát chủ đề của bộ phim « Endless Love » phát hành năm 1981.Tuy được phóng tác từ một quyển tiểu thuyết ăn khách, nhưng bộ phim cùng tên lại không thành công. Ngược lại bài này đã nhận được đề cử Oscar, Quả cầu vàng và giành được giải thưởng American Music awards dành cho bài hát hay nhất năm 1982.
« Endless Love » là một trong những sáng tác đầu tiên trong giai đoạn khởi nghiệp của Lionel Richie, ban đầu là nhạc sĩ chơi kèn saxophone trước khi trở thành ca sĩ chính trong nhóm Commodores. Lionel Richie vẫn đi hát cùng với nhóm khi gặp mặt đạo diễn Franco Zeffirelli. Thành danh vào năm 1968 nhờ bộ phim Chuyện tình « Romeo & Juliet », ông đã yêu cầu Lionel Richie soạn nhạc nền cho bộ phim « Endless Love » (Tình yêu bất tận), với Brooke Shields trong vai chính và cũng đánh dấu lần xuất hiện đầu tiên trên màn ảnh lớn của Tom Cruise, trong một vai phụ. Lionel Richie nối bước các bậc đàn anh Nino Rota (A time for Us) và Francis Lai (Love Story) vài năm sau đó.
Khi vào phòng thu thanh, Lionel Richie đã sử dụng một đoạn nhạc mà anh đã từng viết cho nhóm Commodores nhưng chưa bao giờ ghi âm. Vào phút chót, đạo diễn Franco Zeffirelli đã thay đổi ý kiến và đề nghị biến nhạc phim thành một bản song ca, với một trong những giọng ca nữ ăn khách nhất thời bấy giờ là Diana Ross. Nhờ có nhiều kinh nghiệm viết những bản tình ca lãng mạn, Lionel Richie đã chấp bút sáng tác lời bài hát, sử dụng những hình tượng cường điệu để thể hiện niềm đam mê tuyệt đối, tình yêu đầu đời như hơi thở cần cho nhịp đập con tim, phù hợp với tựa đề và nội dung của bộ phim.
Để cùng nhau ghi âm bài hát này, Diana Ross buộc phải thức khuya, còn Lionel Richie đã phải chịu khó dậy sớm. Trả lời phỏng vấn tờ báo The Sun, Lionel Richie cho biết hai người đã hẹn gặp nhau để làm việc tại phòng thu thanh ở Reno, Nevada (sáng sớm ngày 08/05/1981). Ngay sau một buổi hòa nhạc ở gần Lake Tahoe, Diana Ross đến thẳng phòng thu, còn Lionel Richie đến từ thành phố Los Angeles. Buổi ghi âm bắt đầu vào khoảng 3 giờ rưỡi sáng. Chưa đầy hai giờ sau, hai nghệ sĩ đã hoàn tất phần ghi âm vào băng gốc giọng hát của mình. Bài hát này được thu thanh gấp rút vì Diana Ross khá bận rộn với đợt lưu diễn và nhất là Lionel Richie phải hoàn tất bản song ca sao cho kịp thời điểm phát hành bộ phim.
Khi được phát hành trên đĩa nhựa, « Endless Love » đã vươn lên hạng đầu thị trường Mỹ vào mùa hè năm 1981 trong 9 tuần liên tục, trở thành bài hát ăn khách nhất của hãng đĩa Motown, cho tới khi nhóm Boyz II Men phá kỷ lục này một thập niên sau đó với nhạc phẩm « End of the Road » (13 tuần ở vị trí quán quân vào năm 1992). Diana Ross và Lionel Richie sau đó đều thành công trên những quỹ đạo khác nhau. Thành danh trong thập niên 1960 với nhóm The Supremes, Diana Ross trở thành mot ngôi sao nhạc pop trong nhiều thập niên liền. Còn Lionel Richie mới bắt đầu sự nghiệp solo, nhờ giai điệu « Endless Love » mà đạt được đỉnh cao trong thập niên 1980, với bốn bài hát giành lấy hạng đầu thị trường Hoa Kỳ. (Truly, All night Long, Hello, Say you Say me).
Nếu bộ phim không thành công lắm, ca khúc chủ đề lại trở thành một trong những đĩa đơn ăn khách nhất năm 1981, về lượng đĩa tiêu thụ, chỉ kém hơn một chút so với nhạc phẩm « Bette Davis Eyes » của Kim Carnes. Năm 1994, đến phiên Mariah Carey và Luther Vandross ghi âm lại bản song ca này, thành công rực rỡ (hạng nhì) trên thị trường Mỹ. Ngoài phiên bản solo của ca sĩ nhạc đồng quê Kenny Rogers, Lionel Rcichie còn thực hiện một phiên bản song ca thứ nhì, lần này ghi âm với Shania Twain.
« Endless Love » dược ghi âm trong 8 thứ tiếng, kể cả tiếng Hoa, tiếng Tiệp, tiếng Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, Phần Lan hay Thụy Điển. Còn trong tiếng Việt, giai điệu này có hai lời khác nhau. Phiên bản đầu tiên do Trung Hành phóng tác dưới tựa đề « Yêu đến nghìn sau » và cùng ghi âm với nữ ca sĩ Thái Thảo. Phiên bản thứ nhì « Mãi mãi bên nhau » của tác giả Nguyễn Hoàng Đô, do hai ca sĩ Thùy Dung và Anh Tuấn trình bày.
Không phải ngẫu nhiên mà tạp chí Billboard xếp nhạc phẩm « Endless Love » vào hàng đầu của những bài song ca hay nhất mọi thời đại. Tựa như hơi thở bâng khuâng, bóng hình lưu luyến bước chân, người là tình yêu bất tận, cho tim vướng bận hồng trần.
Nhạc phẩm Last Christmas của George Michael, cùng với giai điệu All I want for Chistmas is You của Mariah Carey có lẽ là những bản nhạc pop nói về Giáng Sinh ăn khách nhất mọi thời đại. Được ghi âm vào năm 1984, thời George Michael còn là ca sĩ chính của ban nhạc Wham, bài hát ban đầu được sáng tác nhằm gây quỹ từ thiện. Ngay từ khi ra đời, Last Christmas đã nhanh chóng chinh phục thị trường quốc tế, vào mỗi năm lại ăn khách khi mùa Giáng Sinh lại về.
Năm 2024 đánh đấu đúng bốn thập niên ngày phát hành bản nhạc Last Christmas. Trái với những bản nhạc Noël thường có giai điệu tươi vui, nhẹ nhàng, Last Christmas lại là một giai điệu u buồn, day dứt khôn nguôi, câu chuyện của một mối tình tan vỡ trong mùa Giáng Sinh năm nào. Chất giọng biểu cảm hát với trọn tâm hồn của George Michael khiến cho giai điệu Last Christmas càng thêm tha thiết trữ tình. Người khác thì vui hết mình, còn nhân vật trong bài hát lại lẻ bóng tuyệt vọng giữa mùa Giáng Sinh.
Về hoàn cảnh sáng tác bài hát, Andrew Ridgely thành viên của nhóm Wham đã kể lại đầu đuôi câu chuyện với tờ báo The Mail On Sunday năm 2017. Bài hát này ra đời vào một ngày mùa hè năm 1984 khi George Michael rủ Andrew đến thăm bố mẹ của anh. Sau buổi ăn trưa, Andrew Ridgeley ngồi trò chuyện vui vẻ với gia đình của George Michael trong phòng khách, âm thanh tivi bật nhỏ để mọi người hàn huyên tâm sự với nhau. Hầu như không ai để ý, George Michael đã lên phòng ngủ của anh ở tầng trên trong khoảng một giờ.
Đến khi George từ trên lầu xuống lại phòng khách, nam ca sĩ này vui mừng phấn khích như thể anh vừa tìm thấy một kho tàng. Hiểu theo nghĩa bóng, George Michael thực sự đã đào đúng mỏ vàng. Andrew cùng với George lên căn phòng trên lầu, nơi mà từ thời còn nhỏ họ luôn đàn hát với nhau, nhại lại trên đàn phím những bản nhạc nổi tiếng, dùng máy thu thanh nhỏ để ghi âm lại những cảm hứng bất chợt.
Đó là lần đầu tiên Andrew được nghe sáng tác của George, đoạn nhạc mở đầu và phần điệp khúc có giai điệu u buồn mà hết sức quyến rũ. Trước khi bài này đươc đặt tên là Last Christmas, Andrew đã cảm nhận được ngay nét tuyệt vời trong giai điệu. Tuy vừa tròn 20 tuổi, nhưng George Michael lại có bàn tay phù thủy, nhờ thuật giả kim mà biến tất cả những gì anh đụng đến thành vàng. Việc kể lại câu chuyện phản bội trong tình yêu, theo Andrew, vẫn là một tuyệt chiêu. Một cách tài tình, George Michael đã lén chạm vào cảm xúc vủa người nghe để rồi đánh cắp trái tim của họ từ lúc nào không hay.
Về nội dung, có thể thấy ngay là Last Christmas chọn Giáng Sinh làm bối cảnh nhiều hơn là chủ đề bài hát. Do ca khúc nói lên tâm trạng u sầu của một kẻ thất tình, cho nên nhiều người cho rằng bản nhạc không hợp với tinh thần của ngày lễ Giáng Sinh, khi hạnh phúc niềm vui về với mọi gia đình. Dù vậy, Last Christmas vẫn nhanh chóng nổi tiếng, với thời gian trở thành một tác phẩm kinh điển. Về điểm này, Last Christmas lại gần giống với trường hợp của nhạc phẩm Happy New Year của ban nhạc ABBA, cũng là một tình khúc nói về sự đổ vỡ nuối tiếc, buồn nhiều hơn vui, dù trong bối cảnh đón mừng năm mới.
Không phải ngẫu nhiên mà cả hai nhạc phẩm Last Christmas cũng như Happy New Year đều trở nên cực kỳ phổ biến, từ năm này qua năm nọ, giai điệu bài hát vẫn làm thổn thức hàng triệu con tim, nhiều thế hệ người hâm mộ vẫn rung động say đắm. Sức sống bền bỉ của Last Christmas một phần là do có rất nhiều nghệ sĩ trứ danh đã hát lại bài này, trong giới ca sĩ Anh-Mỹ có Ariana Grande, Ashley Tisdale, Coldplay, Kim Wilde, Kylie Minogue, Carly Rae Jepsen hay Taylor Swift…
Sau khi thành công trong tiếng Anh, Last Christmas lập kỷ lục là bài hát Giáng Sinh có nhiều bản cover nhất, cũng như được ghi âm trong nhiều thể loại âm nhạc. Bài hát từng được phóng tác sang hơn 10 ngôn ngữ, kể cả tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Tiệp, Hà Lan, Hy Lạp, Thụy Điển Phần Lan, Iceland, Tây Ban Nha, tiếng Hoa, tiếng Hàn hay tiếng Nhật. Cứ mỗi năm, Last Christmas lại cho ra đời thêm hàng chục bản phối mới. Trong tiếng Pháp, bài này từng được Dalida ghi âm lại thành nhạc phẩm Reviens moi với phiên bản hòa âm mới vào năm 2024. Còn trong tiếng Việt, bài này cũng có khá nhiều lời khác nhau, nổi tiếng nhất là phiên bản của các ca sĩ Lam Trường và Thanh Hà.
Lời thứ nhất mở đầu với những câu như sau : « Nhớ Giáng Sinh ngày xưa ta đã quen, bầu trời khuya muôn ánh sao , tình yêu rất mơ mộng. Mắt em và hơi nến lung linh đã mang đến cho anh những cơn mộng. Với phút giây tình yêu sao vỡ thay, cuộc tình tan theo khói mây, về đâu những ưu hoài. Có anh từ nay sẽ không quên, chiếc hôn đã trao nhau rất êm đềm »...
Lời thứ nhì dù khác đi một chút cũng nói về một mối tình dang dở : « Last Christmas, ngày nào ta có nhau và tình yêu ta đã trao giữa đêm thánh nhiệm màu. Giáng Sinh, ngàn sao sáng lung linh, như mừng đôi ta dệt mối duyên tình. Những ước mơ cùng với nhau, nay anh mang đi rồi và mãi mãi xa rời nhau. Những lời yêu dấu cũng khúc hát lấp vào đêm thâu, ôi tình yêu gì đâu chưa thắm đã phai màu »...
Mùa Noël về đem lại những khoảnh khắc ấm áp êm đềm, nhưng trên thế giới này cũng có những thoáng lưu luyến hoài niệm trong tâm hồn, khoảnh khắc lặng thinh sâu lắng nhạc buồn. Sự kiện tác giả bài hát George Michael đột ngột qua đời vào đêm Noël càng tạo thêm cho bài Last Christmas vầng hào quang sáng chói lung linh huyền thoại. Trong đêm Giáng Sinh, ly sâm banh thơm nồng, khiến ai chạnh lòng biết còn thương nhớ gì không. Tình yêu giữa mùa đông, như mây trôi bềnh bồng, cho hoài niệm mênh mông, khi xa vắng cõi lòng.
From the publisher's feed
Góc vườn âm nhạc của RFI

42 Listeners

29 Listeners

221 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

14 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

62 Listeners

0 Listeners

6 Listeners

0 Listeners