
Sign up to save your podcasts
Or


Tối thứ bảy 17/05/2025, mọi cặp mắt của giới hâm mộ đều hướng nhìn về Cung thể thao văn hóa Saint JakobsHalle, nhà hát lớn của thành phố Basel, Thụy Sĩ, nơi tổ chức vòng chung kết Cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision lần thứ 69. Ca sĩ Pháp Louane dự thi với nhạc phẩm « Maman », tưởng niệm người mẹ quá cố. Lần này Louane hợp tác với nhà biên đạo múa Thụy Điển Fredrik Rydman, người đã giúp cho nhiều ca sĩ khác đoạt giải nhất trong những năm trước.
Cho đến giờ phút cuối, trước khi vòng chung kết mở màn trên sân khấu nhà hát lớn, các cuộc dự đoán vẫn diễn ra khá sôi nổi. Theo đánh giá của các nhà bookmaker, chuyên tổ chức cá cược, trên số 26 thí sinh lọt vào vòng chung kết năm nay, Thụy Điển vẫn là nước có nhiều triển vọng đoạt giải nhất. Ban tam ca KAJ được đánh giá cao nhò giai điệu tươi tắn trẻ trung « Bara Bada Bastu » phối hợp với màn vũ đạo hài hước vui nhộn.
Ở hạng nhì, ca sĩ người Áo J.J đi tranh giải với nhạc phẩm « Wasted Love », phối hợp pop điện tử với hoạt cảnh video ba chiều. Về phần mình, nữ ca sĩ Louane đại diện cho nước Pháp, sẽ trình bày nhạc phẩm « Maman » (Nhắn nhủ mẹ hiền) tuy không có nhiều xác xuất thành công bằng hai nước Áo và Thụy Điển, nhưng vẫn được các chuyên gia bookmaker xếp vào trong Top Năm của cuộc thi năm nay. Về phía các thí sinh khác : Phần Lan, Bồ Đào Nha, Bỉ, Malta, Estonia hay Cộng hòa Séc đều lọt vào Top Mười.
Để tạo thêm cơ hội thành công, Louane đã nhờ đến nhà biên đạo múa Thụy Điển Fredrik Rydman để dàn dựng màn biểu diễn của cô. Xuất thân từ làng kịch nghệ, anh từng sáng lập đoàn múa Bounce, dung hòa ballet hiện đại với nghệ thuật đường phố vào đầu những năm 1990. Thành danh nhờ cập nhật lại các vở múa kinh điển như « Hồ thiên nga, Macbeth, West Side Story hay Chuyện tình Romeo & Juliet », anh thường được mời hợp tác với các nghệ sĩ nhạc pop điện tử (Robyn, Avicii) từ khoảng một thập niên gần đây.
Nhờ vào tài nghệ dàn dựng của Fredrik Rydman, nhiều nghệ sĩ tham gia Eurovision đều gặt hái nhiều thành tích ngoạn mục : đó là trường hợp của nam ca sĩ người Thụy Điển Måns Zelmerlöw đoạt giải nhất năm 2015 với ca khúc « Heroes » (Anh hùng thời đại) và gần đây hơn nữa nhà biên đạo múa đã tạo cơ hội cho thi sinh người Thụy Sĩ Nemo giành lấy hạng đầu cuộc thi Euovision năm ngoái (2024) nhờ bản nhạc « The Code » (Mật mã).
Nói như vậy,liệu nhà biên đạo múa Fredrik Rydman có thể giúp ca sĩ Pháp Louane bước lên bục vinh quang, giành được hạng nhất cuộc thi Eurovision năm 2025 tại Basel hay không ? Hiện vẫn còn hơi sớm để khẳng định điều này, nhưng rõ ràng là Louane muốn trông cậy vào lối dàn dựng hoạt cảnh của Fredrik Rydman để làm nổi bật thông điệp của bài hát dự thi. Tuy nổi tiếng ở Pháp nhưng Louane vẫn còn khá xa lạ với khán giả châu Âu. Do chưa có đủ tầm ảnh hưởng để ngự trị bảng xếp hạng, cho nên triển vọng về đầu của Louane, trong mắt các chuyên gia, vẫn còn khá mong manh.
Năm nay 28 tuổi, Louane Emera sinh trưởng tại vùng Pas de Calais (miền bắc nước Pháp). Cô thành danh vào năm 17 tuổi nhờ tham gia chương trình thi hát truyền hình The Voice, phiên bản tiếng Pháp. Tuy không về đầu cuộc thi, nhưng giọng ca của Louane lọt vào tai của đạo diễn Éric Lartigau, nhờ vậy cô được giao vai chính trong bộ phim « La Famille Bélier » (2024) nói về giấc mộng làm ca sĩ của một cô bé, cho dù cô lớn lên trong một gia đình, mà bố mẹ đều là người câm điếc. Bộ phim này sau đó đã đoạt giải Oscar của Mỹ dành cho tác phẩm hay nhất « Coda » (2022) nhờ phiên bản phóng tác tiếng Anh của đạo diễn Si/an Heder.
Có thể nói thành công trong cả hai lãnh vực âm nhạc và điện ảnh đến với Louane năm cô chỉ mới 18 tuổi : Louane đoạt giải điện ảnh Pháp César nhờ tài năng diễn xuất cũng như giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique cho tác phẩm đầu tay. Thế nhưng, đó cũng là giai đoạn Louane mồ côi song thân, chứng kiến cảnh bố mẹ mình đều lần lượt qua đời vì bạo bệnh. Thay vì là một trở ngại, vết thương tâm hồn này lại tạo thêm ý chí vươn lên nơi cô ca sĩ người Pháp. Trong một thập niên qua, Louana đã ghi âm 5 album phòng thu, đóng vai chính trong 6 bộ phim và đoạt một loạt giải thưởng trong cả hai lãnh vực ca nhạc và điện ảnh.
Khi quyết định chọn đi dự thi với một tình khúc tha thiết lãng mạn, với nhịp điệu mid tempo, Louane muốn đặt trọng tâm lối diễn đạt sâu lắng cô đọng, làm nổi bật ý nghĩa trong phần điệp khúc của nhạc phẩm « Maman » . Ở tuổi 28, Louane biết được thế nào là niềm vui làm mẹ, sau khi sinh đứa con đầu lòng. Bài hát này là một thông điệp kép gửi cho đứa con gái mới chào đời cũng như gửi cho mẹ của Louane, nay đã khuất bóng. Giọng ca của Louane vang vọng trong đêm như một lời thì thầm dịu êm, nhắn nhủ với vong linh người mẹ hiền, rằng nơi cõi tạm con vừa tìm đến, có một nơi chốn hạnh phúc bình yên.
Năm 2025 đánh dấu đúng nửa thế kỷ ngày phát hành nhạc phẩm « Téléphone-moi ». Đây là một trong những tình khúc gắn liền với tên tuổi của Nicole Croisille, giọng ca Pháp hàng đầu những năm 1970 và 1980. Trong tiếng Việt, giai điệu « Téléphone-moi » từng được phóng tác thành nhạc phẩm « Chờ phone của anh ».
Do hai nhạc sĩ Christian Gaubert và Pierre André Dousset đồng sáng tác, nhạc phẩm « Téléphone-moi » được Nicole Croisille ghi âm vào năm 1975, thời kỳ xã hội Pháp đang có nhiều thay đổi sâu rộng : luật Veil cho phép phụ nữ quyền phá thai, vai trò của phụ nữ được coi trọng hơn trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Trong bối cảnh ấy, giọng hát của Nicole Croisille nhẹ nhàng vang lên như một lời nhắn nhủ về khát vọng của người phụ nữ, họ có quyền tự chủ, sống theo ý mình, đoạn tuyệt ra đi nếu không còn cảm thấy hạnh phúc dưới « mái ấm » gia đình.
Về mặt diễn đạt, Nicole Croisille đã hóa thân một cách tài tình vào nhân vật trong bài hát. Dựa vào chất giọng sâu sắc cao vút, mạnh mẽ nhưng vẫn mong manh, giọng ca này đã truyền tải trọn vẹn những cung bậc cảm xúc của người đàn bà trong một tình huống phức tạp. Giai điệu « Téléphone-moi » nói về một mối tình tay ba đầy trắc trở, người phụ nữ quyết định rời bỏ chồng mình để tìm lại nhân tình. Đằng sau dáng vẻ yếu đuối ấy lại tiềm ẩn một sự quyết đoán, như thể nhân vật trong bài hát khó cưỡng lại tiếng gọi thôi thúc của trái tim. Liệu ta có thể xây dựng hạnh phúc bản thân trên nỗi bất hạnh của một người khác, bất kể người ấy là bạn đời hay tình nhân. Cú điện thoại của người tình chẳng qua là một cái cớ để cho nhân vật chính có đủ can đảm để nói lên sự thật với gia đình mình.
Ngay từ khi được phát hành, « Téléphone-moi » đã nhanh chóng chinh phục người nghe, dẫn đầu bảng xếp hạng thị trường Pháp. Nhưng thành công của giai điệu không chỉ dừng lại ở doanh thu số bán, mà còn tạo ra được dấu ấn sâu đậm. Cho đến tận ngày nay, bài hát này vẫn được công chúng yêu mến, nhờ thu hút được nhiều thế hệ mà trở nên kinh điển.
Nicole Croisille là một nghệ sĩ đa tài, bà từng là một vũ công, diễn viên điện ảnh, nghệ sĩ nhạc kịch. Trong mắt công chúng, bà nổi tiếng như một trong những ca sĩ Pháp hàng đầu những năm 1970. Trong nhiều thập niên sự nghiệp, Nicoel Croisille đã ghi âm khoảng 20 album và bán được hàng triệu đĩa nhạc.
Trước khi trở thành một ngôi sao sáng, Nicole Croisille chủ yếu đi hát tại những quán nhạc jazz. Thành công lớn đầu tiên của Nicole Croisille là vào năm 1966 với nhạc phẩm « Un homme et une femme », nhạc chủ đề của bộ phim cùng tên của đạo diễn Pháp Claude Lelouch. Trong những năm sau đó, bà tiếp tục gặt hái được nhiều thành công với nhiêu nhạc phẩm nổi tiếng như « Parlez-moi de lui », « Une femme avec toi » và dĩ nhiên không thể nào không nhắc đến nhạc phẩm « Téléphone-moi ».
Trong tiếng Việt, giai điệu « Téléphone-Moi » từng được tác giả Tùng Giang chuyển thành nhạc phẩm « Chờ phone của anh », từng được nhiều giọng ca trứ danh như Ngọc Lan, Kiều Nga, Thanh Hà, Y Phương, Dương Hoàng Yến, Ngọc Huyền ghi âm. Lời phóng tác tiếng Việt chưa lột tả được hết tình huống éo le của bản nguyên tác tiếng Pháp. Có lẽ, chính nội dung phức tạp đã tạo thêm sức cuốn hút bền bỉ cho bản nhạc này.
Phải công nhận rằng, giọng hát đầy mê hoặc của Nicole Croisille có thêm chiều sâu nhờ bản phối khí hòa âm tài tình, hòa quyện cả hai nét dịu dàng và mạnh mẽ, phản ánh sự giằng co, đắn đo. Chính điều đó đã tạo nên một bức phác họa đầy màu sắc âm thanh, chạm đến những ngóc ngách sâu thẳm trong trái tim người yêu nhạc Pháp : Đêm nay đành phải từ biệt, cho dù người chẳng hề biết, hạnh phúc còn chăng nụ cười, nhà ai có niềm vui mới. Vực thẳm tâm hồn trống rỗng, nhân tình tiếng gọi bên trong, kẻ ở tan tác giấc mộng, người đi dẫm nát cõi lòng …..
Cuối tháng 4 năm 2025 đánh dấu đúng nửa thế kỷ ngày Mike Brant qua đời. Nhân dịp này, Paris đã khánh thành một quảng trường mang tên Mike Brant, trong khi gia đình của nam danh ca người Israel cho ra mắt bộ sưu tập đĩa nhựa « Mais dans la lumière » (Trong đêm vẫn sáng) kỷ niệm 50 năm ngày anh mất.
Việc đặt tên Mike Brant cho một quảng trường ở Paris đã được Hội đồng thành phố chính thức thông qua vào năm 2018, nhưng mãi đến bây giờ mới được khánh thành, với sự hiện diện của ông Jérémy Redler, thị trưởng quận 16 và Yona Brant, cháu gái của nam danh ca quá cố. Không phải ngẫu nhiên, Paris đã chọn quảng trường này, nằm giữa đại lộ Victor Hugo và đường Spontini, nằm đối diện với căn hộ lưu trú đầu tiên của Mike Brant khi anh vừa mới đến Paris thử thời vận.
Trong sự nghiệp ngắn ngủi, chỉ kéo dài trong 5 năm tại Pháp, Mike Brant luôn thuê những căn hộ trong cùng quận 16, cho dù anh đã nhiều lần thay đổi địa chỉ để tránh sự săn lùng của giới phóng viên nhiếp ảnh và của người hâm mộ, thường xuyên tụ họp trước nhà anh cả ngày lẫn đêm, với hy vọng được gặp thần tượng của họ. Đây là cái giá phải trả vì Mike Brant lúc bấy giờ là một nghệ sĩ cực kỳ nổi tiếng.
Mike Brant và Sylvie Vartan : Không hẹn mà gặpBản thân Mike Brant cũng không thể ngờ rằng anh sẽ thành công tại Pháp nhanh đến như vậy. Năm 1969, anh đã dành toàn bộ tiền tiết kiệm của mình để mua một vé máy bay sang Pháp (khứ hồi Tel Aviv-Paris). Vài tháng trước đó, anh tình cờ gặp thần tượng nhạc trẻ Sylvie Vartan tại một quán nhạc, nơi anh thường xuyên biểu diễn vào buổi tối. Trên sân khấu phòng trà, Mike Brant không chỉ hát dân ca Do Thái mà còn trình bày những bản nhạc tiếng Anh (của Elvis Presley, Frank Sinatra) hay tiếng Pháp quen thuộc (của Aznavour và Bécaud).
Trong số các khán giả hôm ấy có Sylvie Vartan và thư ký riêng của cô, sau này là nam danh ca hài hước Carlos. Sau khi được nghe chất giọng thiên phú của Mike Brant, Sylvie Vartan mới nói với anh rằng : làng nhạc Pháp cần có những giọng hát xuất sắc như vậy, nên cô khuyên Mike Brant đến Paris lập nghiệp, và nếu cần, thì cô (và Carlos) sẽ giúp anh một tay.
Sylvie Vartan đã để lại số điện thoại của mình (và của Carlos) cho Mike Brant. Thế nhưng vài tháng sau, không ai lại bắt máy trả lời khi Mike Brant đến Pháp vào mùa xuân năm 1969. Nam ca sĩ đã hoài công chờ đợi hơn một tuần tại khách sạn. Tưởng chừng như không có giải pháp nào khác, Mike Brant, do hết sạch tiền, cho nên anh đành phải trở về Israel. Tại sân bay Orly, anh đã thử gọi điện thoại một lần cuối cùng.
May mắn thay, thư ký riêng của Sylvie Vartan bỗng bắt máy trả lời, và xin lỗi anh đã không thể trả lời sớm hơn, vì anh phải tháp tùng Sylvie Vartan bận đi lưu diễn ở Nhật Bản. Theo lời khuyên của anh thư ký riêng, Mike Brant quyết định ở lại Paris, trong thời gian đầu anh tạm ở nhà của Carlos, ngay tại khu phố Saint-Germain des Prés. Vài ngày sau đó, anh được giới thiệu với tác giả Jean Renard, người chuyên soạn nhạc cho Sylvie Vartan : La Maritza / Dòng sông tuổi nhỏ, lời Việt của Vũ Xuân Hùng, Non je ne suis plus la même / Sầu tình, lời Việt của Khúc Lan).
Tác giả Jean Renard đã chấp bút sáng tác bản nhạc đầu tay cho Mike Brant. Nhạc phẩm Laisse moi t’aimer (Yêu trọn đêm nay) lập kỷ lục số bán vào đầu năm 1970. Thành công bước đầu này mở đường cho Mike Brant chinh phục thị trường Pháp và ngự trị trong vòng nhiều năm liền.
Người đi xa nên biết chọn đườngTuy Mike Brant trở nên nổi tiếng nhờ các giai điệu trữ tình của Jean Renard, trong đó có Rien qu'une larme (Chỉ cần một giọt lệ) hay Parce que je t'aime plus que moi (Yêu người hơn yêu ta), một số bản nhạc đồng sáng tác với Michel Jourdan và Michel Mallory, nhưng hai năm sau, mỗi người lại đi một hướng, không còn hợp tác với nhau. Mike Brant chọn làm việc với những nhà sản xuất khác, nhưng lại không ngờ rằng, anh sẽ bị phản bội : người nhẹ dạ cả tin, mà lại không biết chọn mặt gửi vàng.
Mặc dù thành công trên thị trường châu Âu nhờ bán được hàng triệu đĩa nhạc, các vòng lưu diễn tại châu Âu (Pháp, Đức, Hà Lan, Canada) hay Nhật Bản đều bán sạch vé, nhưng Mike Brant vẫn nghèo nếu không nói là hai bàn tay trắng, do anh ký hợp đồng ghi âm mà lại không đọc kỹ các điều kiện về tiền thù lao. Vừa sống xa nhà mà còn gặp phải lừa đảo, chính cũng vì thế, anh bị suy sụp tinh thần, tự tử hụt một lần vì chứng trầm cảm. Vào đầu năm 1975, anh gặp lại tác giả Jean Renard và hai người quyết định cùng nhau hợp tác lần thứ nhì. Nhưng cơ hội ấy sẽ chẳng bao giờ diễn ra, vài hôm trước khi ký hợp đồng ghi âm chính thức, Mike Brant lại tự kết liễu cuộc đời : sự ra đi quá đột ngột của anh khiến cho biết bao người hâm mộ bàng hoàng thương tiếc.
Hoàn cảnh khá mơ hồ về cái chết của Mike Brant đã làm nảy sinh nhiều lời đồn đoán, nhưng theo cô cháu gái Yona Brant, giả thuyết đáng tin cậy nhất vẫn là tự sát. Gia đình của nam danh ca muốn duy trì di sản âm nhạc của Mike Brant. Bộ đĩa nhựa vừa được phát hành là một tuyển tập bao gồm những giai điệu đẹp nhất. Gia đình Mike Brant cũng chuẩn bị cho ra mắt vào mùa thu một bộ toàn tập với đầy đủ các album phòng thu, các bản ghi âm live, cũng như nhiều tài liệu lưu trữ chưa từng được xuất bản.
Theo gia đình Mike Brant, do sinh thời nam danh ca đã đi lưu diễn khắp nơi cho nên vẫn còn những tài liệu quý báu, còn bị thất lạc bỏ quên, nhưng một điều chắc chắn là giọng ca truyền cảm của Mike Brant vẫn làm say đắm nhiều thành phần thính giả mới. Có lẽ cũng vì thế mà bộ đĩa nhựa vừa được phát hành mang tựa đề Mais dans la lumière, ý muốn nói rằng 50 năm sau ngày Mike Brant rời cõi tạm, vầng hào quang của anh vẫn luôn ngời sáng.
Claire d'Asta, một nghệ danh vang vọng như một tiếng thì thầm dịu dàng nhưng đầy mãnh lực quyến rũ trong vườn nhạc. Ca sĩ kiêm tác giả người Pháp có phong cách kín đáo, nhưng vẫn để lại dấu ấn khá quan trọng trong dòng nhạc Pháp đầu những năm 1980. Tên tuổi của Claire d'Asta được gắn liền với giai điệu « Avec l'amour en plus », bài hát này từng được dịch sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Tình anh tha thiết ».
Sinh trưởng tại miền nam nước Pháp (1953), Claire d'Asta ban đầu vào nghề như một tác giả trước khi nổi danh nhờ giọng ca. Từ thuở thiếu thời, Claire d'Asta học đàn tại nhạc viện thành phố Marseille, khi lớn lên cô được đào tạo thanh nhạc với một danh ca làng kịch opéra, Christiane Castelli. Sau khi tốt nghiệp vào năm 21 tuổi, cô được nam ca sĩ Christian Delagrange mời đi hát chung trên các sân khấu lớn ở Pháp trong bốn năm liền. Đây là giai đoạn Claire d'Asta sáng tác nhiều ca khúc đầu tay, trong đó có nhạc phẩm « Fais moi rêver » (Người dệt mộng cho ta).
Đầu những năm 1980, vào lúc phong trào nhạc pop và disco đang ngự trị trên làn sóng radio, một giọng hát êm dịu sâu lắng nhẹ nhàng cất lên, khơi dậy ngọn lửa đam mê nhờ một giai điệu êm đềm tưởng chừng đã quên. Nhạc phẩm « La Chanson de Prévert », do nhạc sĩ Serge Gainsbourg sáng tác cho Yves Montand hai thập niên trước đó (1961), bỗng dưng thịnh hành trở lại. Nhờ tài nghệ diễn đạt tinh tế nhạy cảm, Claire d'Asta đã giúp công chúng Pháp khám phá lại bài hát nổi tiếng của tác giả Gainsbourg, nay đã trở nên kinh điển.
Một bài hát của một giọng ca hầu như không theo thời, tưởng chừng ít có cơ hội, nào ngờ lại thành công vang dội. Sau khi ăn khách trên thị trường Pháp, bài hát này còn đoạt giải thưởng của ban giám khảo nhân kỳ Liên hoan Âm nhạc Tokyo năm 1982. Thành công này mở đường cho Claire d'Asta hợp tác với nhiều tên tuổi lớn. Chính nhạc sĩ Michel Mallory, tác giả chuyên soạn nhạc cho nam danh ca Johnny Hallyday, đã thuyết phục Claire d'Asta ghi âm với giọng hát của mình, thay vì chỉ đơn thuần viết nhạc. Hai nghệ sĩ này hợp tác với nhau trong 8 năm liền, Claire d'Asta thể hiện tài tình những giai điệu của Michel Mallory, trong đó có nhiều bài hát ăn khách như « Une nuit de ta vie » (Chỉ còn một đêm trong đời), « Dans la maison de mon père » (Trong ngôi nhà của cha tôi) hay « J'ai pleuré sur ma guitare » (Nước mắt trên cung đàn) song ca với Johnny Hallyday …..
Vào giữa những năm 1990, Claire d'Asta lập gia đình và thành hôn với nhạc sĩ Jean Musy. Sau một thời gian dài ghi âm và đi biểu diễn, cả hai chuyển hướng sang ngành sáng tác nhạc phim. Cặp nghệ sĩ này đã đồng hành cùng nhau trong gần ba thập niên liền cho đến khi ông Jean Musy qua đời vì bạo bệnh vào năm 2024.
Quan hệ hợp tác chặt chẽ thân thiết này đã cho ra đời nhiều tác phẩm xuất sắc, trong đó có giai điệu « Cuore addolorato » (Trái tim đau buồn), nhạc phẩm chủ đề của bộ phim « L'Ange noir » của đạo diễn Jean Claude Brisseau, với thần tượng nhạc Pháp Sylvie Vartan và nam diễn viên Michel Piccoli trong vai chính.
Hiện giờ, Claire d'Asta đã giải nghệ sân khấu nhưng cô vẫn tiếp tục đi hát nhân các kỳ liên hoan, mở lớp dạy nhạc, truyền lửa cho thế hệ sau tại (thị trấn Louveciennes) vùng ngoại ô Paris. Trong số các bản nhạc nổi tiếng ru hồn giới yêu nhạc của Claire d'Asta, có giai điệu « Avec l'amour en plus » (Yêu không hối tiêc). Trong tiếng Việt, bài hát này từng được phóng tác với nhiều lời khác nhau. Lời đầu tiên của tác giả Vũ Xuân Hùng, chuyển thành nhạc phẩm « Tình anh tha thiết » do các nghệ sĩ như Kiều Nga hay Thiên Kim ghi âm. Lời thứ nhì là của tác giả Thái Thịnh mang tựa đề « Tình yêu còn lại » do hai ca sĩ Don Hồ và Lam Anh trình bày.
Trong tim còn lại bao kỷ niệm, thời gian tưởng chừng khó lay chuyển. Ngày thơ ấu tình yêu chưa đến, tuổi xuân hai định mệnh gắn liền.
Đành rằng mọi thứ cũng sẽ tan, tháng năm tươi tắn cũng chẳng còn.
Tại Pháp, giới trẻ lớn lên trong hai thập niên 1980-1990 đều biết đến chương trình giải trí Club Dorothée (Câu lạc bộ Dorothée) và loạt phim truyền hình nhiều tập « Premiers baisers » (Những nụ hôn đầu) do công ty AB Productions sản xuất. Từ các chương trình này, có hai gương mặt sau đó trở nên nổi tiếng nhờ ghi âm nhiều ca khúc : Hélène Rollès và Christophe Rippert.
Sinh trưởng tại thị trấn Saint-Priest, vùng ngoại ô thành phố Lyon, Christophe Rippert ban đầu nuôi mộng trở thành một tay quần vợt chuyên nghiệp. Nhờ có vóc dáng cao ráo, khuôn mặt bảnh trai cho nên anh đã có dịp làm người mẫu chụp ảnh quảng cáo. Năm 22 tuổi (1991), Christophe Rippert bắt đầu làm diễn viên trong bộ phim truyền hình « Premiers Baisers » (Những nụ hôn đầu).
Trong bộ phim nhiều tập này, mặc dù Christophe Rippert chỉ đóng một vai phụ (vai Luc) nhưng nhân vật này lại được khán giả đặc biệt yêu thích, đến mức nhà sản xuất Jean-Luc Azoulay đã đề nghị anh ghi âm một số bài hát, song song với việc đóng phim truyền hình. Ngay từ bước đầu, anh đã thành công ngay lập tức khi nhạc phẩm « Un amour de vacances », ca khúc chính của album đầu tay, lập kỷ lục số bán với hơn nửa triệu bản, đạt hai lần mức đĩa bạch kim.
Album đầu tiên của Christophe Rippert được phát hành vào mùa hè năm 1993. Giống như những ca sĩ khác có ký hợp đồng với công ty AB, các bài hát của anh đều do hai nhạc sĩ Gérard Salesses và Jean-François Porry (bút danh của Jean-Luc Azoulay) sáng tác. Cặp bài trùng này chuyên soạn nhạc cho Hélène Rollès (Je m'appelle Hélène), Emmanuelle Mottaz (Premiers Baisers) hay Christophe Rippert (La vie sans toi / Nếu không còn em)
Vào năm 25 tuổi, khi vai diễn của anh trong loạt phim « Những nụ hôn đầu » ngày càng trở nên quan trọng, Christophe Rippert cho ra mắt album phòng thu thứ hai mang tựa đề « À corps perdu » (Yêu hết mình). Mặc dù doanh thu lần này không cao bằng album đầu tiên, nhưng album thứ hai giúp cho các vòng lưu diễn của anh tại các sân khấu lớn thu hút đông đảo khán giả trẻ tuổi, nhà hát chật kín chỗ ngồi.
Năm 1995 đánh dấu một số thay đổi quan trọng trong sự nghiệp của Christophe Rippert, sau 4 năm thành công liên tục trên kênh truyền hình TF1, bộ phim « Premiers baisers » (319 tập) kết thúc để nhường chỗ lại cho những bộ phim nhiều tập khác « Les Années fac / 1995» (Những năm tháng đại học) cũng như « Les Années bleues / 1998 » (Những năm tháng khởi nghiệp). Sở dĩ có sự thay đổi này là vì hầu hết các diễn viên « nhí » đều đã lớn lên, và khung cảnh trường đại học, cũng như sở làm hợp hơn với lứa tuổi trưởng thành của họ. Phần sau này tiếp tục thành công và các nhà sản xuất dành một vai diễn quan trọng hơn nữa cho Christophe Rippert.
Đang trên đà thành công, anh phát hành album phòng thu thứ ba vào năm 1996. Nhưng vầng hào quang của Christophe Rippert bắt đầu bị lu mờ, những năm tháng thành công tột bực dường như đã qua. Album thứ ba gặp thất bại, trong khi trên màn ảnh nhỏ, loạt phim truyền hình thứ ba cũng không còn thu hút được nhiều khán giả, do vậy phim bị hủy bỏ dù chỉ mới quay được 22 tập, thay vì 200 tập như những mùa phim đầu.
Christophe Rippert rời nghề ca hát sau khi hết hợp đồng với công ty AB Productions. Những năm sau đó anh cố gắng theo đuổi sự nghiệp diễn xuất, tham gia một số bộ phim truyền hình « Sous le soleil » (Dưới ánh nắng) đồng thời chuyển hướng sang nghề phân phối sản xuất, mở công ty quảng cáo xa xỉ phẩm.
Sau hơn một thập niên vắng bóng, Christophe Rippert trở lại phòng thu để ghi âm album thứ tư mang tựa đề « Free » (Tự do), phát hành vào cuối năm 2012. Album này bao gồm 13 bản nhạc hoàn toàn bằng tiếng Anh, trong đó có nhạc phẩm « Summertime » chính là bản phóng tác của giai điệu tiếng Pháp « Un amour de vacances » (Chuyện tình nhân kỳ nghỉ hè)
Có khá nhiều bài hát của Christophe Rippert từng được dịch sang tiếng Việt. Quen thuộc nhất vẫn là nhạc phẩm « Un amour de vacances » có nhiều lời phóng tác khác nhau. Lời thứ nhất mang tựa đề là « Giấc mơ sa mạc » của tác giả Lê Hựu Hà, nhưng cũng có nguồn ghi là của tác giả Khúc Lan. Bài này thường được trình bày dưới dạng song ca qua các tiếng hát của Quang Dũng, Thanh Thảo hay của Don Hồ Ngọc Huệ. Lời Việt thứ nhì do Lâm Nhật Tiến ghi âm và do Khúc Lan đặt lời, mang tựa đề « Yêu dấu xa vời ». Lời Việt thứ ba « Tình yêu ngày hè » là của tác giả Thủy Tiên ….
Mùa hè thơm ngát hương say, con tim rung động ngất ngây, tình như cuốn vào vực thẳm, ngừng trôi vòng xoáy tháng ngày. Chuyện tình kỳ nghỉ mùa hạ, biết rằng chẳng có ngày mai, mỗi lần con tim nghĩ lại, u hoài nhung nhớ chưa phai …
« Un temps pour elle » hiểu theo nghĩa Thời khắc cho nàng, là tựa đề album phòng thu thứ 11 của Michel Polnareff. Tập nhạc mới được giới hâm mộ háo hức mong đợi, vừa được phát hành trên thị trường Pháp trong tháng 04/2025. Để quảng bá cho album mới, trích đoạn đầu tiên là tình khúc mang tựa đề « Tu ne m'entends pas » (Người đâu còn nghe ta).
Bao gồm 8 sáng tác mới, « Un temps pour elle » (Thời khắc cho nàng) đã được thực hiện trong vòng ba năm qua, nhân dịp Michel Polnareff lưu diễn tại Pháp và một số nước châu Âu. Ngồi một mình bên chiếc piano, ông vừa hát vừa tự đệm đàn, tạo được những khoảnh khắc gần gũi, cảm thông với những tâm hồn yêu nhạc. Yếu tố này khá quan trọng trong lối soạn album mới, hầu hết các sáng tác đều có những đoạn độc tấu dương cầm, ngón nghề sở trường của Michel Polnareff.
Cách đây 7 năm, Michel Polnareff đã trở lại với album phòng thu thứ 10 đề tựa « Enfin », sau nhiều thập niên vắng bóng. Thế nhưng, trái với dự kiến, album này rốt cuộc lại không gặt hái thành công, có lẽ cũng vì tác giả có quá nhiều tham vọng, hội tụ trên cùng một album nhiều bản « giao hưởng », khiến người nghe dễ bị lạc mất giai điệu chủ đạo. Lần này, Michel Polnareff vẫn trung thành với hình ảnh người nghệ sĩ đeo gọng kính trắng, trở lại với một dự án ghi âm liền mạch mà vẫn đa dạng, dùng lối hòa âm tươi sáng để tạo nên « vòng thuần sắc » nhất quán.
Đối với Michel Polnareff, đây là một album hoàn chỉnh và có nhiều ý nghĩa quan trọng sau một thời gian dài thử nghiệm tìm tòi trong sáng tác. Tập nhạc với lối sắp đặt như một « album concept » xen kẻ những đoạn hát với nhiều khúc nhạc không lời, thực sự phong phú trên hai phương diện, cả giai điệu lẫn hòa âm. Chẳng hạn như giai điệu chủ đạo « Người đâu còn nghe ta », một trong những bản nhạc yêu thích của tác giả, được trích từ một vở kịch opera mà Polnareff cho rằng ông không có đủ thời gian để hoàn thành tác phẩm.
Để quảng bá cho album này, Michel Polnareff sẽ đi lưu diễn tại các nước Anh, Pháp, Luxembourg và Thụy Sĩ. Sau nhà hát Appollo Theatre tại Luân Đôn, danh ca người Pháp sẽ ghé Bruxelles và Lausanne và tìm lại người hâm mộ trên sân khấu Paris trong vòng nhiều đêm diễn vào mùa hè năm nay. Có nhiều khả nă ng đợt trình diễn sẽ kéo dài sang năm tới. Cũng xin nhắc lại vòng lưu diễn trước đó của Michel Polnareff đã diễn ra trong hơn một năm và đã thu hút hơn 150.000 lượt khán giả.
Dù năm nay đã ngoài 80 tuổi, nhưng dường như Michel Polnareff vẫn chưa muốn giải nghệ thu âm hay giã từ ánh đèn sân khấu. Ngoài cái tài soạn giai điệu lọt tai (melody maker), ông còn có một chất giọng khá đặc biệt, tuy không còn thánh thót, cao vút như trước, nhưng vẫn đầy nét quyến rũ mềm mại.
Có người nhận xét rằng Polnareff thường thích chơi chữ, còn bản thân ông gọi đó là thủ pháp « song thị » : một chữ hiểu theo hai nghĩa, một vật nhìn theo hai cách. Tựa đề « Un temps pour elle » gần giống trong lối phát âm chữ « Intemporel » (vượt thời gian)
Thời khắc cho nàng, mà ở đây là « nàng thơ », để Michel Polnareff có thêm cảm hứng sâu lắng vô vàn, rồi viết lên những giai điệu say đắm dịu dàng. Rốt cuộc người nghệ sĩ cảm thấy mình không còn nhiều năm tháng, lại muốn chắp cánh cho sáng tác vượt thời gian.
Năm 2025 đánh dấu đúng 40 năm ngày phát hành tình khúc « Nothing's gonna change my love for you », một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của thập niên 1980, nhờ lời lẽ giản dị, ca từ chân thành và giai điệu cực kỳ lắng đọng. Hầu hết người yêu nhạc đều biết dến bài này qua giọng ca của Glen Medeiros, từng được đặt thêm lời Việt thành nhạc phẩm «Tình mãi không rời ».
« Nothing's gonna change my love for you » (hiểu theo nghĩa Không gì lay chuyển tình anh) là một bài hát do hai nhạc sĩ Michael Masser và Gerry Goffin đồng sáng tác. Bài này ban đầu do nam danh ca người Mỹ George Benson ghi âm cho hãng đĩa Warner Bros, trên album phòng thu mang tựa đề 20/20, đánh dấu 20 năm sự nghiệp của ông. Bản nhạc gốc được phát hành dưới dạng đĩa đơn trên thị trường Châu Âu vào mùa xuân năm 1985, nhưng không mấy thành công. Mãi đến hai năm sau, vào mùa hè năm 1987, khi ca sĩ trẻ tuổi người Mỹ Glenn Medeiros phát hành một phiên bản cover, thì bài hát này tuy là bản sao, nhưng lại gặt hái thành công trên toàn thế giới.
Sinh trưởng tại bang Hawaii, Glenn Medeiros bắt đầu ca hát từ năm lên 10 tuổi. Đến năm 16 tuổi, anh đoạt giải nhất nhân một cuộc thi hát trên đài phát thanh địa phương. Nhờ vậy, anh được quyền ghi âm lại bản nhạc yêu thích nhất của mình là « Nothing's gonna change my love for you ». Lúc bấy giờ, Glenn còn là một học sinh trung học (trên đảo Kauai) cho nên anh không nghĩ rằng mính sẽ có cơ hội thành công trên thị trường Hoa Kỳ cũng như quốc tế. Một cách ngẫu nhiên, bài hát này lọt vào tai một giám đốc điều hành đài phát thanh ở Phoenix, bang Arizona. Nhờ vậy, Glenn Medeiros mới có cơ hội ký hợp đồng thu thanh với hãng đĩa MCA Records, bản cover của anh được phát hành trên toàn quốc. Vào đầu mùa hè năm 1987, bài hát này lọt vào Top Ten thị trường Mỹ, chỉ vài tuần trước khi Glen ăn mừng sinh nhật 17 tuổi.
Vài tháng sau khi ăn khách trên thị trường Bắc Mỹ, bản nhạc này được phát hành rộng rãi trên khắp châu Âu, lập kỷ lục số bán so với bản gốc của George Benson, giành lấy vị trí quán quân tại vương quốc Anh, Ai Len, Pháp, Na Uy hay Hà Lan. Trên đà thành công này, Glenn Medeiros vào năm 1988 ghi âm đĩa đơn thứ nhì « Un roman d'amitié », với ca sĩ trẻ tuổi người Pháp Elsa Lunghini. Phiên bản tiếng Pháp nói về tình bạn của lứa tuổi mới lớn trong khi bản gốc tiếng Anh « Love always finds a reason » (do Diane Warren sáng tác) lại đơn thuần nói về chủ đề tình yêu. Trong tiếng Việt, bài này từng được đặt thêm lời thành nhạc phẩm « Đôi bạn » do đôi nghệ sĩ Ngọc Lan và Công Thành, cũng như do Khánh Hà và Anh Tú song ca.
Glenn Medeiros có đủ ngoại hình và chất giọng để trở thành một thần tượng nhạc trẻ. Những bước đầu thành công đã đưa anh đi biểu diễn khắp thế giới, nhưng dường như Glenn không nuôi mộng trở thành một ngôi sao nhạc pop bằng mọi giá, hay ít ra hào quang danh vọng không làm cho anh bị mù quáng. Sau vài bản nhạc ăn khách đầu những năm 1990, Glenn chuyển qua sáng tác cho các nghệ sĩ khác. Sau khi tốt nghiệp đại học, anh chọn nghề giáo viên và kể từ năm 2017, anh trở thành hiệu trưởng trường Saint Louis gần thành phố Honolulu.
Về phần nam danh ca George Benson, ông từng ghi âm hai bản nhạc gốc mà sau đó lại thành công vượt trội qua các giọng ca khác. Chẳng hạn như bài « The Greatest love of all » (cũng do Michael Masser đồng sáng tác) từng lập kỷ lục số bán vào năm 1986 với giọng ca thần tượng Whitney Houston. Trong tiếng Việt, bài này được tác giả Phú Quang đặt lời thành nhạc phẩm « Với tất cả tình yêu » do nữ danh ca Thanh Lam trình bày.
Không hiểu vì sao bản nhạc gốc « Nothing's gonna change my love for you » lại không thành công dù bài này được George Benson hát rất hay, trong khi giọng ca bè trong phần điệp khúc không ai nào khác ngoài Richard Marx, thành danh tột bực vài năm sau đó với nhạc phẩm « Right here waiting » (Nơi đây anh vẫn chờ, lời Việt của tác giả Lữ Liên).
Trong tiếng Việt, « Nothing's gonna change my love for you » có khá nhiều lời phong tác. Lời đầu tiên là « Tình em muôn đời » không ghi rõ tác giả, do Ngọc Hương trình bày. Lời thứ nhì là « Cuộc tình giữ mãi cho nhau » của tác giả Nhật Ngân qua tiếng hát của Kenny Thái.
Lời thứ ba « Không gì thay đổi tình ta » của tác giả Sỹ Đan. Lời thứ tư là « Tình mãi không rời » do ca sĩ Chung Tử Lưu tự sáng tác rồi ghi âm.
Khi tình không còn bên cạnh
Trọn đời im lặng vắng tanh
Ngày buồn hao gầy trống trải
Đường khuya hoang vắng ngõ dài
Cho dù muôn kiếp hiu quạnh
Không gì lay chuyển tình anh
Trong làng nhạc chuyên nghiệp, hầu hết các nghệ sĩ biết sáng tác, trước khi trở nên nổi tiếng, đều phải trải qua nhiều năm trau dồi tay nghề. Trường hợp của Jean-Jacques Goldman cũng không phải là ngoại lệ. Trước khi thực sự thành danh vào năm 1982, anh đã có một thời gian sáng tác cho nhiều ca sĩ khác. Giai điệu « Tout, tout doucement », lời Việt là « Người yêu thứ nhất » nằm trong giai đoạn đầu đời của tác giả Goldman.
Các nguồn tin trên mạng cung cấp không nhiều thông tin về những năm tác giả Jean-Jacques Goldman mới vào nghề. Sau hơn 4 năm tham gia ban nhạc rock Tài Phong, do hai nghệ sĩ gốc Việt Khánh Mai và Tài Sinh sáng lập, Jean-Jacques Goldman khởi nghiệp solo lúc anh gần 30 tuổi, nhưng chủ yếu sáng tác nhạc cho người khác, chứ anh không có ý định làm ca sĩ. Những bản ghi âm của anh trước năm 1979 chủ yếu là những bản nhạc rock bị nhóm Tài Phong từ chối, chẳng hạn như Les nuits de solitude (Những đêm cô đơn).
Đây cũng là giai đoạn Jean-Jacques Goldman chuyển dần lối sáng tác từ tiếng Anh sang tiếng Pháp, sau các nhạc phẩm như « Highfly » hay « Tell me why » dưới bút danh First Prayer, anh sáng tác các giai điệu như « Gros câlin blues » và « Fais moi des sourires » cho nữ ca sĩ Anne-Marie Batailler, nhạc phẩm « Nous, on y va », được Elli Medeiros ghi âm với nghệ danh Jocko.
Trong giai đoạn những năm 1978-1981, Goldman đã viết khoảng 20 bài hát bằng tiếng Pháp dưới nhiều bút danh khác nhau, ngoài First Prayer (Lời nguyện cầu đầu tiên), còn có Sweet Memories (Những kỷ niệm ngọt ngào). Jean-Jacques Goldman sáng tác một số bài hát cho nữ ca sĩ trẻ tuổi Jane Surrey. Sinh trưởng tại Anh, Jane có một khuôn mặt thùy mị dễ thương, chất giọng tuy không mạnh nhưng nụ cười có duyên và lối diễn đạt nhí nhảnh. Jane đến với nghề ca hát một cách khá tình cờ.
Sau một thời gian đi du học ở Pháp, Jane Surrey chọn ở lại Paris và bắt đầu làm thư ký trong một hãng đĩa độc lập, nơi cô gặp khá nhiều nghệ sĩ Anh-Mỹ (như Stray Cats, Alan Parson, Joe Jackson) nhưng Jane không nghĩ rằng cô cơ hội thành danh. Cho đến một ngày kia, một trong những nhà sản xuất Pháp quyết định thực hiện đĩa nhạc đầu tiên (45 vòng) của Jane. Nhờ vậy, cô được giới thiệu với tác giả Jean-Jacques Goldman và ghi âm một số sáng tác đầu tay của anh, trong đó có giai điệu ngọt ngào, lãng mạn « Tout, tout doucement ». Cho dù Jane Surrey sau đó không thành công với nghề sân khấu, nhưng Paris lại trở thành quê hương thứ hai của cô ca sĩ người Anh.
Trong tiếng Việt, nhạc phẩm « Tout, tout doucement » có nhiều lời phóng tác khác nhau. Lời đầu tiên là của tác giả Phạm Duy, mang tựa đề « Người yêu thứ nhất » do các danh ca Ngọc Lan, Ngọc Huệ, Kiều Nga trình bày. Lời thứ nhì là giai điệu « Chuyện tình của em » của tác giả Khúc Lan, do nữ ca sĩ Kỳ Phương Uyên ghi âm.
Những giai điệu mà Jean-Jacques Goldman từng viết cho Anne Marie, Émilie Bonnet hay Jane Surrey đều không thành công như dự kiến. Thế nhưng, đó sẽ là lần cuối cùng Jean-Jacques Goldman gặp thất bại. Tuy không ăn khách, nhưng những bài hát đầu tay của anh lọt vào tai nhà sản xuất trẻ tuổi Marc Lumbroso, lúc bấy giờ đang tìm kiếm những tài năng mới. Nhà sản xuất người Pháp tin tưởng vào tiềm năng của Jean-Jacques Goldman, thuyết phục anh sáng tác và tự trình bày nhiều bài hát của mình, rồi sau đó giới thiệu các bản ghi âm thử cho các hãng đĩa thời bấy giờ. Sau những bước đầu không mấy thành công vớiWarner, Jean-Jacques Goldman nhờ vào sự khuyến khích của Marc Lumbroso giành lấy được hợp đồng ghi âm 5 album, cho hãng đĩa Epic, một chi nhánh của tập đoàn CBS.
Giai đoạn khởi nghiệp không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Album đầu tay của Jean-Jacques Goldman bao gồm 11 sáng tác mới, lúc đầu anh muốn đặt tựa là « Démodé » (Lỗi thời). Nhưng ban tiếp thị của CBS không đồng ý với tựa đề này, cho nên khi album được phát hành vào mùa thu năm 1981, lại không hề có ghi tựa đề nào. Dù vậy, Jean-Jacques Goldman gặt hái thành công đầu tiên với hơn nửa triệu bản của nhạc phẩm « Il suffira d'un signe ».
Có lẽ những bản nhạc đầu tay chưa đủ sâu sắc, tài năng của anh chưa chín muồi để thành công, nhưng cũng từ đó mà tác giả Jean-Jacques Goldman rút kinh nghiệm sáng tác trong thể loại pop rock, để chọn đúng hướng đi sau đó cho bản thân. Sự nghiệp của anh cất cánh từ năm 1982 trở đi, trong vòng hai thập niên liền, Jean-Jacques Goldman ngự trị trong làng nhạc Pháp, thành công nhờ chất giọng cũng như ngòi bút sáng tác.
Từ đầu những năm 1990 trở đi, hầu hết các nghệ sĩ trứ danh nhất đều nhờ đến cái tài soạn nhạc của anh : Céline Dion, Patricia Kaas, Florent Pagny hay Patrick Fiori. Và cho dù anh đã giải nghệ từ hơn một thập niên qua, nhưng Jean-Jacques Goldman vẫn luôn đứng đầu danh sách những nhân vật nổi tiếng yêu thích nhất của người Pháp, có lẽ cũng vì rất nhiều bài hát của anh vẫn làm cho hàng triệu con tim say đắm ngất ngây, những giai điệu này đã thực sự đi vào lòng người, từ lúc nào không hay.
Sinh thời, giọng ca mượt trầm của Roberta Flack rất hợp với những bản tình ca đầy cảm xúc, giai điệu hòa quyện nhiều thể loại, từ nhạc soul folk cho đến jazz và pop. Bà cũng là nghệ sĩ Mỹ đầu tiên đoạt giải Grammy dành cho Bản ghi âm xuất sắc nhất trong 2 năm liền. Giọng ca ấy giờ đây không còn nữa, Roberta Flack đã qua đời tại nhà riêng hôm 24/02/2025, hưởng thọ 88 tuổi.
Sinh trưởng tại Bắc Carolina, Roberta Flack (1937-2025) xuất thân từ một gia đình có truyền thống âm nhạc. Mẹ của bà là nghệ sĩ chơi đàn organ cho dàn đồng ca ở nhà thờ, cho nên từ khi còn nhỏ Roberta đã sớm học nhạc cổ điển. Nhờ có năng khiếu chơi đàn piano, cho nên vào năm 15 tuổi, bà trở thành sinh viên trẻ tuổi nhất, nhận được học bổng toàn phần chuyên khoa âm nhạc tại trường Đại học Howard.
Sau khi tốt nghiệp đại học năm 19 tuổi, Roberta Flack bắt đầu đi dạy nhạc một thời gian. Roberta lúc đầu nuôi mộng trở thành nghệ sĩ trong làng nhạc opera nhưng sau đó lại nhận ra con đường này không hợp với mình. Để kiếm sống, ngoài công việc giảng dạy, Roberta Flack còn đi hát trong các phòng trà, hộp đêm vào những ngày cuối tuần. Đến năm 1968, tài nghệ chơi nhạc của bà lọt vào tai của một nhà sản xuất, nên được mời thu âm thử giọng cho hãng đĩa Alantic.
Album phòng thu đầu tay của Roberta Flack được cho ra mắt vào năm 1969. Thế nhưng, các bản ghi âm này lại không bán chạy, cho đến khi đạo diễn kiêm diễn viên Clint Eastwood chọn nhạc phẩm « The First time ever I saw your face » do Roberta Flack trình bày (sáng tác của Ewan MacColl) làm ca khúc chủ đề cho bộ phim đầu tay của ông năm 1971 với tựa đề « Play Misty for me ».
Mặc dù lúc bấy giờ đạo diễn Clint Eastwood chỉ trả 2.000 đô la để được quyền sử dụng bài hát, nhưng thành công của bộ phim lại giúp công chúng khám phá giọng ca Roberta Flack. Bản nhạc phim trở thành ca khúc thành công nhất trong năm 1972, giữ vị trí quán quân trong 6 tuần liên tục và nhận giải Grammy dành cho Bài hát xuất sắc nhất.
Gần 3 năm sau ngày phát hành, album đầu tay của Roberta Flack cuối cùng cũng giành lấy hạng đầu thị trường Hoa Kỳ và đã bán được gần 2 triệu bản tại Bắc Mỹ. Từ đó, Clint Eastwood và Roberta Flack trở thành bạn thân, để cảm ơn Clint Eastwood đã tạo cho mình cơ hội thành công, Roberta Flack đã nhận lời thu âm bản nhạc chủ đề cho bộ phim « Sudden Impact » (trong loạt phim Dirty Harry) theo đề nghị của Clint Eastwood.
Roberta Flack là một trong những giọng ca định hình nền âm nhạc phổ thông (pop music) trong thập niên 1970. Xen kẽ nguyên tác và các bản cover, bà đã nhiều lần thành công trên thị trường quốc tế với các nhạc phẩm như « Will you love me tomorrow », « Where is the Love » song ca với Donny Hathaway, « Tonight, I celebrate my love » (Dâng trọn tình yêu) với Peabo Bryson. Bài này từng được tác giả Trung Hành đặt thêm lời Việt và ghi âm cùng với nữ ca sĩ Ngọc Bích.
Vào năm 1973, Roberta Flack tiếp tục thành công trên tột đỉnh khi phát hành bài hát « Killing me softly with his song », ca khúc chủ đề của album cùng tên. Bài này đã đoạt cùng lúc hai danh hiệu quan trọng là Bản thu âm hay nhất và Màn biểu diễn nhạc pop xuất sắc nhất nhân kỳ trao giải Grammy năm 1974.
« Killing Me Softly » do tác giả Charles Ira Fox soạn nhạc và do Norman Gimbel đặt lời. Cả hai gương mặt này đều là những tên tuổi lớn trong ngành công nghiệp giải trí. Vào giữa những năm 1960, Norman Gimbel đến Hollywood để lập nghiệp. Có một lần ngồi trong một quán nhạc uống rượu giải sầu, ông được nghe một nghệ sĩ nhạc blues biếu diễn. Chỉ trong một khoảnh khắc, tiếng đàn piano lại nói lên được tâm trạng chán đời của ông. Một cách vô tình, tác giả thật sự có cảm tưởng một người khác đang nói thay cho mình. Trong quyển sổ tay, Norman Gimbel ghi chép dòng chữ, ma lực vô hình nào từ phím đàn nỉ non ai oán, khiến hồn ta như thể bị giết dần, chết mòn. Bản nhạc « Killing Me Softly » từ đó mà nẩy sinh.
Hầu như mọi người đều biết đến nhạc phẩm này qua giọng ca của Roberta Flack. Tuy vậy, người đầu tiên thu thanh bản nhạc này lại là nữ ca sĩ Lori Lieberman chứ không phải là Roberta, thế nhưng khi được phát hành vào mùa hè năm 1972, bài hát lại không thành công. Đến khi Roberta phát hành bản cover của mình vào đầu năm 1973, bài hát này lại phá kỷ lục số bán.
Trong tiếng Việt, « Killing Me Softly » đã có nhiều phiên bản khác nhau. Trước năm 1975, bài từng được nhạc sĩ Lê Hựu Hà Việt hoá thành nhạc phẩm « Nỗi đau dịu dàng ». Lời Việt thứ nhì là của tác giả Vũ Xuân Hùng qua phần thể hiện của Vy Vân, giọng hát chính của ban tam ca Apple Three (Ba Trái Táo). Gần đây hơn, có lời phóng tác thứ ba của ca sĩ kiêm tác giả Nguyễn Thảo với nhạc phẩm « Dịu dàng giết chết tôi ». Lời Việt thứ tư là của tác giả Nguyễn Hoàng Đô với tựa đề « Nỗi chết dịu êm ».
Trong suốt sự nghiệp, Roberta Flack đã ghi âm 17 album, nhận 5 giải Grammy trong số 14 đề cử, kể cả danh hiệu Thành tựu sự nghiệp vào năm 2020. Roberta Flack ra đi, để lại ảnh hưởng sâu rộng cho nhiều nghệ sĩ thế hệ sau, trong đó có George Michael, Lauryn Hill, Ariana Grande hay Lady Gaga … bà thành công trong cả hai vai trò : nhạc sĩ sáng tác cũng như người thể hiện lại ca khúc của nhiều nghệ sĩ khác như Carole King, Leonard Cohen, Gilbert Bécaud hay The Beatles.
Với phong cách sang trọng kín đáo, lối diễn đạt mềm mại tinh tế, Roberta Flack trở thành một gương mặt tiên phong của trường phái « quiet storm » (giông bão tĩnh lặng), một nhánh của dòng nhạc R&B. Được đặt theo bài hát cùng tên, phát hành vào năm 1975 của Smokey Robinson, trường phái này thường đề cao các giai điệu du dương dịu dàng, gieo vào hồn người nghe những cảm xúc thoải mái nhe nhàng, như khi ta nằm nghe các chương trình kể chuyện đêm khuya. Giọng ca mượt mà của Roberta truyền tải trọn vẹn những cung bậc thăng trầm trong con tim khi đam mê nóng bỏng chết lịm dần trong dư âm. Đó là nghịch dụ của tiếng thầm trong đêm khuya quạnh vắng, cuồng phong soi bóng mặt hồ tĩnh lặng.
Trọn cuộc đời, Herbert Léonard luôn hát tình ca tiếng Pháp, cho dù khi mới vào nghề, ông lại đam mê dòng nhạc Mỹ rhythm & blues. Nhờ vào chất giọng đầy nội lực, Herbert Léonard đã trở thành một tên tuổi sáng giá của làng nhạc Pháp những năm 1980. Giọng ca trầm ấm ấy vừa vĩnh viễn ra đi trong tuần này, hưởng thọ 80 tuổi.
Theo nguồn tin từ phía gia đình, Herbert Léonard đã qua đời hôm Chủ nhật, 02/03/2025, tại bệnh viện Fontainebleau, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư phổi. Tên thật là Hubert Lœnhard, ông sinh trưởng tại thành phố Strasbourg và đã thành danh khá muộn vào năm 1981, ở tuổi 36, gần hai thập niên sau khi vào nghề.
Sự nghiệp của Herbert Léonard bắt đầu vào những năm 1960. Giống như nhiều ca sĩ vào thời bấy giờ, ông tham gia phong trào nhạc trẻ chuyên phóng tác sang tiếng Pháp những bản nhạc ăn khách của Anh-Mỹ. Thời niên thiếu, ông từng khám phá Chuck Berry và Otis Redding, cho nên trong giai đoạn đầu, ông thích hát nhạc rhythm & blues, đi biểu diễn cùng với ban nhạc Les Lionceaux, hoặc là với nhóm The Jets, tên gọi này gợi hứng từ vở nhạc kịch « West Side Story ». Nhờ vào sự dìu dắt của ông Lee Hallyday, nhà quản lý đầu tiên của nam danh ca Johnny Hallyday, Herbert Léonard từng có cơ hội đi lưu diễn tại Nhật Bản với thần tượng nhạc trẻ Sylvie Vartan. Trong giai đoạn những năm 1965-1968, ông đã ghi âm ba album và bắt đầu trở nên nổi tiếng tại Pháp.
Đang trên đà thành công, sự nghiệp của Herbert Léonard lại đột ngột bị gián đoạn, sau khi ông bị chấn thương trầm trọng một tai nạn giao thông. Ông đành phải xa ánh đèn sân khấu trong một thời gian dài. Sau nhiều cuộc giải phẫu chỉnh hình và gần hai năm điều trị, Herbert Léonard muốn tìm lại con đường ca hát, nhưng không còn thành công như trước. Vì vậy, vào năm 1973, ông quyết định giải nghệ, chuyển hẳn sang nghề viết báo. Ông trở thành một biên tập viên cho tạp chí Aviation Magazine, chuyên về ngành hàng không.
Vào lúc Herbert Léonard tưởng chừng như đã an phận với nghề mới, cũng như với cuộc sống kín đáo bên gia đình, ông lại nhận được một cú điện thoại của nhà sản xuất kiêm tác giả Vline Buggy, người đã viết bài « Belles, belles, belles » cho Claude François. Bà đề nghị ông ghi âm một bài hát của một nhà soạn nhạc trẻ tuổi (Julien Lepers). Herbert Léonard nhận lời vì hai người vẫn giữ liên lạc với nhau cho dù ông đã ngưng đi hát trong hơn một thập niên. Khi vào phòng thu thanh, ông không nghĩ rằng nhạc phẩm « Pour le plaisir » (tạm dịch Cho trọn niềm vui) sẽ thành công rực rỡ. Nào ngờ bản nhạc trở thành bài hát ăn khách nhất năm 1981, lập kỷ lục số bán với hơn 2,5 triệu bản.
Có thể nói là nhờ vào giai điệu này, mà sự nghiệp ca hát của Herbert Léonard lại hồi sinh, mở đường cho ông ghi âm nhiều bản nhạc ăn khách khác như « Amoureux Fous » song ca với Julie Pietri, « Puissance et Gloire » (Hùng mạnh và vinh quang) nhạc chủ đề của loạt phim truyền hình « Châteauvallon » hay bài « L'amour en héritage » (Gia tài tình yêu), người đầu tiên ghi âm bài này là nữ danh ca Nana Mouskouri.
Sau hơn 10 năm thành công, sự nghiệp của Herbert Léonard lại bắt đầu lu mờ vào giữa những năm 1990 trở đi. Ông ít còn xuất hiện trước công chúng, ngoại trừ việc tham gia đoàn diễn viên Notre Dame de Paris (Nhà thờ Đức bà Paris), khi ông được mời thay thế vai diễn của ca sĩ Daniel Lavoie trong vở nhạc kịch ăn khách này. Cùng với đoàn kịch, ông đã đi lưu diễn trong vòng hai năm, ở Pháp cũng như ở nước ngoài.
Trong suốt sự nghiệp, Herbert Léonard đã ghi âm 18 album phòng thu, ông chủ yếu hát nhạc tình và mãi đến năm 2014, ông mới tìm lại niềm đam mê đầu đời khi ghi âm trọn một album (Demi Tour / Quay lại) dành cho nhịp điệu rhythm & blues. Herbert Léonard lâm bệnh nặng lần đầu vào năm 2017, tưởng chừng đã được chữa lành 8 năm sau nhưng rốt cuộc vẫn không qua khỏi.
Album phòng thu cuối cùng với tựa đề « Mise à jour » (Cập nhật) được phát hành năm 2016, vào lúc chất giọng trữ tình của ông còn khỏe, vẫn tha thiết lãng mạn với những bản cover nhạc tình hay nhất từ bài « Vous les Femmes » (Pauvres Diables) của Julio Iglesias cho đến « Et si Tu n'existais pas » của Joe Dassin. Giọng hát ấy bây giờ đã đi xa, nhưng trong tim giai điệu vẫn còn vang vọng. Giọng ca chung thủy với một thể loại, tình ca mãi hát trọn đời, chứ đừng hoài mong ngóng đợi, có ai nào biết lần cuối, chừng nào niềm vui mới tới.
From the publisher's feed
Góc vườn âm nhạc của RFI

42 Listeners

29 Listeners

221 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

14 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

62 Listeners

0 Listeners

6 Listeners

0 Listeners