Tạp chí tiêu điểm

Tạp chí tiêu điểm

By RFI Tiếng Việt
Download on the App Store

Tạp chí tiêu điểm episodes

  • Hậu bầu cử Hạ Viện : Tổng thống Macron bị suy yếu, trục Pháp - Đức cũng bị lung lay

    Vòng hai cuộc bầu cử Hạ Viện cho kết quả một Nghị Viện không có đa số tuyệt đối, chính trường Pháp bị phân rẽ thành ba khối lớn. Sự suy yếu của tổng thống Emmanuel Macron, nỗi lo nước Pháp rơi vào bế tắc chính trị, cùng đà trỗi dậy của phe cực hữu trong nghị trường, không chỉ đe dọa đến tầm ảnh hưởng của Pháp, mà còn làm lung lay cả trục đầu tầu Paris - Berlin trong lòng khối Liên Hiệp Châu Âu.

    Courrier International (08/07/2024) ghi nhận : Suốt cả tuần châu Âu run rẩy trước nguy cơ đảng Tập Hợp Dân Tộc (RN) có đa số tuyệt đối, đến ngự trị ở điện Matignon ( phủ thủ tướng Pháp ). Hai ngày trước cuộc bỏ phiếu vòng hai, trang Politico (05/07/2024), gióng chuông cảnh báo, sau Hungary, Slovakia, Hà Lan hay Ý, việc cực hữu lên cầm quyền tại Pháp, « quốc gia có trang bị vũ khí hạt nhân và thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, có lẽ sẽ gây ra hậu quả toàn cầu ».

    Nếu như kết quả bỏ phiếu vòng hai (07/07) đã xóa tan điều tồi tệ, đưa liên minh cánh tả Mặt Trận Bình Dân Mới (NFP) về đầu, liên minh cánh trung Đồng Hành – Ensemble của tổng thống Macron vượt lên thành thế lực chính trị thứ hai, đẩy phe cực hữu của bà Marine Le Pen xuống vị trí thứ ba, thì việc Nghị Viện Pháp bị phân rẽ thành ba khối chính trị lớn mà không phe nào có đa số tuyệt đối lại làm dấy lên một nỗi lo khác : Một nước Pháp không thể điều hành !

    Jon Henley, thông tín viên của báo The Guardian của Anh tại châu Âu, chiều Chủ Nhật 07/7, đã cảnh báo rằng « một trong những lực đẩy của Liên Âu và nền kinh tế thứ hai của khối đang rơi vào tình trạng bế tắc kéo dài ở Quốc Hội và bất định chính trị ».

    Tờ El Pais của Tây Ban Nha cũng không khoan nhượng : Viễn cảnh « chung sống » chính trị là « một đòn nặng nề cho vai trò lãnh đạo quốc tế của Pháp ». Nhật báo Tây Ban Nha dẫn nhận định của chuyên gia người Pháp, bà Alexandra de Hoop Scheffer, phó chủ tịch điều hành cơ quan tham vấn của Mỹ German Marshall Fund (GMF) nhấn mạnh đến hậu quả sự suy yếu của Emmanuel Macron đối với tiến bộ của Liên Hiệp Châu Âu. Theo bà, trong bảy năm điều hành nước Pháp, tổng thống Macron đã định hình đáng kể chương trình nghị sự của khối và thúc đẩy sự hội nhập trên nhiều lĩnh vực.

    Đây cũng là đánh giá của Marie Krpata, nhà nghiên cứu về quan hệ Pháp – Đức, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI) trong một trao đổi với RFI Tiếng Việt, được thực hiện trước khi diễn ra cuộc bỏ phiếu vòng hai.

    Marie Krpata :  Emmanuel Maron đã là một lực đẩy trong khối Liên Hiệp Châu Âu trên một số chủ đề nhất định. Trong bài diễn văn Sorbonne 2017, ông đưa ra một số đề xuất về cách đưa Liên Hiệp Châu Âu tiến lên. Tiếp theo là bài phát biểu Sorbonne 2024 mở rộng động lực về cách cải thiện Liên Hiệp Châu Âu, mặc dù ông bi quan hơn nhiều khi nói rằng châu Âu đang "chết dần".

    Dù vậy, ông Macron cũng có một số thành công nhất định, chẳng hạn như về chính sách công nghiệp của Liên Âu, việc thiết lập các cơ chế bảo hộ thương mại, hay như sự phối hợp nhiều hơn trên phương diện chính sách quốc phòng ở cấp độ châu Âu. Theo tôi đây là những kết quả mà tổng thống Pháp đã đạt được.

    Ngoài ra còn có khái niệm quyền tự quyết của châu Âu, một khái niệm do Emmanuel Macron đề xướng và hiện nay đã được chấp nhận trong lòng Liên Hiệp Châu Âu. Kế hoạch phục hồi Next Generation EU hậu Covid-19 để giảm thiểu các tác động của đại dịch đối kinh tế, các vấn đề xã hội … Tất cả những điều này thực sự là thành công của bà Angela Merkel và Emmanuel Macron, nhờ vào một sự hội tụ giữa Pháp và Đức.

    Kết quả bầu cử này có tác động ra sao đến vị thế của Pháp tại châu Âu ? Việc ông Macron bị suy yếu, Pháp bước vào giai đoạn « sống chung chính trị » với nhiều bất định, có ảnh hưởng đến đầu tầu Pháp – Đức hay không ? Nhà nghiên cứu Marie Krpata giải thích thêm :

    Marie Krpata : Nếu nước Pháp phải rơi vào tình trạng « sống chung » chính trị, hay Quốc Hội không có đa số tuyệt đối, Pháp buộc phải tìm kiếm các liên minh để thông qua các văn bản luật. Họ phải đàm phán, tham vấn và do vậy điều đó sẽ trở nên rất là phức tạp, bởi vì Pháp có một mô hình chính trị theo chiều dọc. Do vậy, nếu Pháp phải dồn mọi chú ý cho các vấn đề chính sách trong nước, điều đó nhất thiết sẽ có tác động tiêu cực đến đầu tầu Pháp – Đức.

    Nhưng tình hình ở Đức cũng không mấy gì sáng sủa, bởi vì vào tháng 8/2023, chúng ta còn nhớ The Economist đã chạy tít về vấn đề này khi đặt câu hỏi, "liệu Đức có phải là người bệnh mới của châu Âu hay không ?". Đó là vì tờ báo này ám chỉ đến việc tình hình kinh tế Đức cũng không được như mong muốn : Tăng trưởng trì trệ, lạm phát cao, giá năng lượng bị tăng lên khiến tính cạnh tranh của các cơ sở công nghiệp Đức gặp khó khăn.

    Hơn nữa trong cuộc bầu cử Nghị Viện Châu Âu hồi tháng 6/2024, liên minh đảng cầm quyền Đức chỉ thu được một kết quả khiêm tốn. Đảng bảo thủ đối lập CDU đã được củng cố hơn trong kỳ bầu cử này và được cảm nhận như là chiếc neo cho sự ổn định. Vì vậy, đã có một số người kêu gọi tổ chức bầu cử sớm ở Đức. Quý vị thử hình dung xem, nếu tại hai nền kinh tế chính châu Âu cùng lúc có hai cuộc bầu cử trước thời hạn, mọi chuyện sẽ trở nên phức tạp và gây ra bất ổn như thế nào?

    Cũng đừng quên rằng vào năm 2025, tại Đức cũng sẽ có bầu cử lập pháp, nhưng vào tháng 9/2024, sẽ có các cuộc bầu cử vùng ở các bang phía Đông như Brandebourg, Saxes và Thuringe. Liệu liên minh cầm quyền có thoát được khó khăn hay không ? Các đảng trong liên minh cầm quyền có sẽ thu được gì hay không, bởi vì theo truyền thống, các bang phía đông nước Đức đều ủng hộ các đảng cực đoan, các đảng cực hữu và cực tả luôn chiếm được số phiếu cao.

    Vì vậy, trong mọi trường hợp, chắc chắn cả Pháp và Đức đều bị suy yếu. Điều này có nguy cơ ảnh hưởng đến sự đồng thuận trong lòng khối Liên Hiệp Châu Âu và gây chia rẽ sâu sắc Liên Âu và nhất là trong bối cảnh Hungary, đảm nhiệm chức chủ tịch luân phiên của Liên Hiệp Châu Âu. Quốc gia này đã thể hiện sự gần gũi với nước Nga của ông Vladimir Putin, và đã nhiều lần ngăn chặn viện trợ cho Ukraina cũng như là nhiều chuỗi trừng phạt nhắm vào Nga.

    Có thể nói tất cả những điều này diễn ra vào một thời điểm địa chính trị nhậy cảm, mà ở đó, các thách thức địa chính trị và trên phương diện quan hệ quốc tế cho Liên Hiệp Châu Âu là rất lớn.

    Vậy với sự vắng mặt của Pháp tại châu Âu do những bất ổn chính trị nội tại, Đức có thể tận dụng khoảng trống đó để áp đặt quan điểm của mình đối với các chính sách của Liên Âu ?

    Marie Krpata : Điều mà chúng ta thấy từ đầu cuộc chiến tranh Ukraina là Đức làm việc với sự tham vấn chặt chẽ của Hoa Kỳ, chẳng hạn như việc gởi xe tăng Leopard đi kèm với điều kiện giao xe tăng Abrams, cấp xe bọc thép Marder đi cùng với điều kiện gởi xe bọc thép Bradley. Có thể nói là Đức thật sự trong vị thế có tiềm lực kinh tế. Một thế mạnh mà Đức đã tự khẳng định vị trí trên bình diện kinh tế và chuỗi các giá trị quốc tế hóa có từ sau Đệ Nhị Thế Chiến và khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Nhưng hiện nay, vị thế này của Đức đã bắt đầu chạm đến giới hạn của hệ thống và mô hình kinh tế, do quá trình phân mảnh các nền kinh tế thế giới.

    Thực sự có những hành vi thương mại không công bằng, các biện pháp kiểm soát xuất khẩu và hạn chế tiếp cận thị trường. Vì vậy, trên thực tế, Đức đang suy yếu về mặt kinh tế, một phần là do các chính sách công nghiệp do Trung Quốc và Hoa Kỳ tiến hành. Trung Quốc với Made in China 2025 mong muốn trở thành cường quốc sản xuất hàng đầu vào năm 2049. Hoa Kỳ thì có Đạo luật giảm lạm phát, thúc đẩy công nghệ xanh được sản xuất tại Mỹ thông qua khoản trợ cấp và cho vay.

    Vì vậy, Đức đang suy yếu về mặt kinh tế, nhưng nước này cũng gặp khó khăn để khẳng định mình trong một lĩnh vực mà cho đến hiện tại, Đức vẫn chưa thực sự cảm thấy thoải mái chẳng hạn như an ninh, quốc phòng, là những khía cạnh mà nước này đã bỏ qua do lịch sử và trách nhiệm mà nước này phải gánh chịu trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

    Và chúng ta đã thấy, kể từ cuộc chiến ở Ukraina, họ đã đề ra chiến lược an ninh quốc gia, chiến lược đối với Trung Quốc nhằm cố gắng giảm bớt những điểm yếu của mình trong mối quan hệ với các cường quốc. Tất nhiên, tất cả những điều này góp phần vào việc tái định hướng, tái định vị, nhưng Đức vẫn gặp khó khăn trong việc xác định vị trí của mình. Trên thực tế, Đức thích các thể thức đa phương mà trong đó nước này có thể tìm kiếm sự hợp tác, thỏa thuận với các đối tác khác như Mỹ chẳng hạn.

    **********

    Với kết quả bầu cử ngày 07/07 tại Pháp, mọi cơ hội cải cách châu Âu xem như đã khép lại. Sự suy yếu của Pháp ở cấp độ châu Âu sẽ có những tác động nghiêm trọng vào thời điểm khối này đang đứng trước những ngã rẽ quan trọng, thời điểm mà « Liên Âu phải quyết định cách thức hành động tại một thế giới mà các mối quan hệ quốc tế trở nên gay gắt hơn và EU đang bị kẹp giữa Trung Quốc và Mỹ », nhất là vào thời điểm Donald Trump có thể trở lại Nhà Trắng vào cuối năm nay, theo như nhận định trên nhật báo El Pais của ông Arancha González Laya, cựu ngoại trưởng Tây Ban Nha, hiện là trưởng khoa Quan hệ Quốc tế, trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po ở Paris.

    Tóm lại, trước một nước Pháp bị mất tầm ảnh hưởng do bất ổn chính trị nội bộ, nước Đức đang gặp khó khăn về kinh tế và một Liên Hiệp Châu Âu ngày càng thiên hữu, tương lai của Liên Hiệp Châu Âu trở nên mù mịt hơn bao giờ hết, theo như kết luận của nhà nghiên cứu Marie Krpata.

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn Marie Krpata, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp IFRI,đã tham gia chương trình.

    11 min
  • Trừng phạt kém hiệu quả : Phương Tây sai lầm, đánh giá thấp thực lực kinh tế Nga

    Bất chấp 14 chuỗi biện pháp trừng phạt có quy mô lớn chưa từng có, nền kinh tế Nga vẫn trụ vững và không « bị sụp đổ » như phương Tây trông đợi. Theo dự báo của Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF), tăng trưởng kinh tế Nga năm 2024 sẽ ở mức 3,2%, tuy giảm nhẹ so năm 2023 là 3,6%, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với nhiều cường quốc phương Tây. Le Monde Diplomatique số ra tháng 6/2024 đặt câu hỏi : Làm thế nào Nga vượt qua được những đòn trừng phạt đó ?

    Quả thật, việc quân sự hóa nền kinh tế Nga cũng như tình trạng thiếu nhân công hay những khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ phương Tây có thể có những tác động tiêu cực trong trung hạn. Nhưng hiệu quả hoạt động kinh tế Nga, được đại đa số các nhà phân tích công nhận và được các định chế quốc tế xác nhận, đã tạo nên một bất ngờ lớn cho phương Tây.

    Nga, đại cường xuất khẩu dầu khí và công nghiệp quốc phòng

    Tuyên bố « sẽ làm cho nền kinh tế Nga sụp đổ » đã phản ảnh có một quan điểm đồng thuận trong nội bộ giới lãnh đạo phương Tây, theo đó, quân đội Nga, sớm bị cạn vũ khí vì thiếu linh kiện điện tử cũng như nguồn tài chính do thiếu nguồn thu đô la từ dầu lửa, sẽ bị đánh bại ở Ukraina. Nhưng hai năm sau, kết quả không như mong đợi.

    Trong bài viết đăng trên tờ Le Monde Diplomatique, David Teurtrie, tiến sĩ địa lý, giảng viên Viện Nghiên cứu Cao học Công giáo, trước hết cho rằng phương Tây đã quá xem nhẹ thực lực kinh tế Nga, khi đưa ra đánh giá « Nước Nga có GDP chỉ bằng Tây Ban Nha » hồi tháng 02/2022.

    Theo Ngân hàng Thế giới (WB), GDP danh nghĩa của Nga trong năm 2022 xếp ở hạng thứ 8 (so với mức hạng thứ 15 của Tây Ban Nha). Tuy nhiên, trong một cuộc trao đổi dành riêng cho RFI Tiếng Việt, David Teurtrie, cũng là giảng viên thỉnh giảng tại Viện Quốc gia về Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông (INALCO), giải thích chỉ số GDP vẫn có thể được tính theo một cách khác : Sức mua tương đương (GDP PPP).

    David Teurtrie : « Trong trường hợp này, nếu chúng ta tính theo sức mua tương đương, thì Nga đúng hơn là đứng hàng thứ 5, vì vậy nước này nằm trong nhóm các nước dẫn đầu. Đây cũng là một cách đánh giá các nền kinh tế và cách thức đo lường sức mạnh kinh tế này không phải lúc nào cũng được tính đến. Không phải tất cả các nhà kinh tế đều đồng ý về điểm này.

    Điểm thứ hai, Nga vẫn là một đại cường công nghiệp. Hình ảnh mà phương Tây thường có về nước Nga chỉ là một nước sản xuất dầu khí, rồi có thể là có vũ khí hạt nhân. Nhìn chung, hình ảnh mà họ có chỉ là một cường quốc xuất khẩu nguyên liệu thô, sở hữu bom nguyên tử.

    Nhưng Nga đâu chỉ có thế. Không những Nga là một đại cường xuất khẩu nguyên liệu thô, mà nước này còn có một nền công nghiệp nặng , một nền công nghiệp quân sự rất quan trọng. Và điều đó đã được chứng minh, qua việc chỉ riêng một mình Nga đã sản xuất đạn pháo nhiều hơn tất cả các nước phương Tây gộp lại. »

    Chính sách « sức bền kinh tế » 

    Tháng 2/2022, phương Tây quyết định ngắt kết nối của các ngân hàng Nga với hệ thống SWIFT. Hai năm sau, lĩnh vực ngân hàng Nga vẫn tiếp tục hoạt động và trụ vững trước các biện pháp trừng phạt của phương Tây. Đó là vì từ năm 2014, khi xung đột Ukraina bắt đầu với việc sáp nhập bán đảo Crimée, rồi giao tranh ở vùng Donbass, điện Kremlin đã thực hiện chính sách sức bền kinh tế để đối phó với sức ép phương Tây.

    Chẳng hạn, biện pháp « thay thế nhập khẩu » để tự cung tự cấp lương thực trong nhiều năm ; triển khai hệ thống thanh toán bằng thẻ quốc gia (SNPC), và lập hệ thống tin nhắn tài chính Nga (SPFS). Những công cụ cho phép kinh tế Nga tiếp tục hoạt động mà không nhất thiết phải được kết nối với các nền kinh tế phương Tây. Có thể nói, đây là một trong số các chiến lược tài chính hiệu quả nhất của Matxcơva, theo như đánh giá của David Teurtrie với RFI Tiếng Việt.

    David Teurtrie : « Quả thật, từ năm 2015, 2016, những năm sau khi khủng hoảng Ukraina bùng phát, giới chức Nga đã lập ra một hệ thống dịch vụ quốc gia tương tự như SWIFT, cho phép các ngân hàng Nga tiếp tục các hoạt động giao dịch với nhau cũng như là với một số cơ sở nước ngoài được kết nối với hệ thống này của Nga (…)

    Rồi còn có một hệ thống khác, hơi khác một chút nhưng có cùng một ý tưởng, đó là hệ thống thanh toán bằng thẻ ngân hàng quốc gia bởi vì các nước phương Tây cũng đã ngắt kết nối các loại thẻ Visa và Mastercard Nga. Đó là một thời điểm quan trọng bởi vì, quý vị cứ hình dung, nếu ngày mai, người ta ngắt kết nối tại bất kỳ quốc gia nào, người dân ở đó không thể đi chợ, mua sắm. Họ sẽ phải quay trở về với hệ thống kiểu cũ là đi đến các cơ sở ngân hàng để rút tiền, giấy bạc ngân hàng.

    Và như vậy, hệ thống nhà nước Nga đã tiếp quản, và các loại thẻ ngân hàng phương tây vẫn hoạt động. Trên thực tế, người dân Nga ở trong nước thậm chí còn không cảm nhận được các lệnh trừng phạt. Ngược lại, khi họ ra khỏi lãnh thổ Nga, những thẻ này không thể hoạt động bên ngoài lãnh thổ Nga. Nhưng điều thiết yếu là tiếp tục vận hành hệ thống tài chính, kinh tế ở trong nước, và đây đã là một biện pháp  thực sự thành công khi đối mặt với các biện pháp trừng phạt. »

    Kinh tế chiến tranh kích thích tăng trưởng

    Ngày 17/05/2024, Ủy Ban Châu Âu trong một bài viết đăng trên trang mạng, khẳng định, các biện pháp trừng phạt Nga là có hiệu quả. Mức tăng trưởng 3,2% là « giả tạo », bởi vì, xin trích, « Nhà nước Nga đầu tư ồ ạt cho quân đội. 30% chi tiêu công hiện nay là được dành cho quân đội, tức chiếm đến gần 10% của GDP ». Ủy Ban Châu Âu cho rằng khi đặt kinh tế vào tình thế chiến tranh, nước Nga đang tàn phá nền kinh tế.

    Một phân tích sai lầm, theo như quan điểm của ông David Teurtrie. Số đơn đặt hàng tăng vọt tại các cơ sở công nghiệp quốc phòng đã có một hiệu ứng dây chuyền cho nhiều lĩnh vực kinh tế khác. Thứ nhất, việc tuyển dụng ồ ạt và mức lương cao trong ngành mang lại nhiều lợi ích cho công nhân và giới kỹ sư, hai đối tượng từng bị thiệt hại nhiều nhất từ quá trình tam cấp hóa nền kinh tế Nga từ những năm 1990.

    Thứ hai, hàng trăm ngàn binh sĩ bị điều sang Ukraina được hưởng mức lương, tiền thưởng và nhiều khoản lộc khác, tức cao gấp ba lần so với mức trung bình, cho phép kích thích tiêu dùng các hộ gia đình và phát triển các công trình xây dựng tại những vùng lãnh thổ sinh sống dưới dạng bán tự túc.

    Điểm đáng chú ý là, theo quan sát của ông David Teurtrie, sau hai năm dưới các lệnh trừng phạt, cắt đứt kết nối với phương Tây, số các nhà tỷ phú Nga đã tăng vọt, và trị giá tài sản của họ tăng gấp đôi. Làm thế nào giải thích cho sự nghịch lý này ? Nhà địa lý học giải thích tiếp :

    David Teurtrie : « Điều thú vị là số tỷ phú mới trong danh sách những người có tài sản lớn ở Nga chẳng liên quan gì đến lĩnh vực quốc phòng, mà chủ yếu có liên hệ với ngành nông nghiệp thực phẩm và nhiều lĩnh vực kinh tế khác.

    Điều đó cho thấy là việc giới hạn tăng trưởng hiện nay với duy nhất vấn đề quốc phòng là không đúng. Quả thật, đúng là những khoản chi tiêu quốc phòng này là rất lớn, đúng là chúng có một tác động dây chuyền đến nền kinh tế, nhưng điều đó không giải thích được tổng thể tăng trưởng kinh tế Nga.

    Hơn nữa, điều cần biết là, Ủy Ban Châu Âu ban đầu nghĩ rằng cỗ máy công nghiệp chiến tranh Nga sẽ không thể vận hành. Giờ thì họ lập luận rằng chắc chắn là có tăng trưởng, và chúng được gắn liền với kinh tế chiến tranh. Nhưng trước đây, họ nghĩ rằng Nga sẽ không thể vận hành các nhà máy quân sự bởi vì nước này sẽ bị thiếu các linh kiện điện tử. Chỉ có điều tình trạng này đã không xảy ra, và cỗ máy công nghiệp của Nga vẫn vận hành. »

    Thiếu hiểu biết về quan hệ quốc tế

    Đó là vì Nga có thể trông cậy vào mạng lưới các nước bè bạn. Một thực tế mà các nước phương Tây khi ban hành trừng phạt đã không tính đến. Sai lầm to lớn này minh chứng cho « một sự thiếu hiểu biết về những chuyển đổi cơ cấu trong quan hệ quốc tế. Thất bại của các biện pháp trừng phạt là do các yếu tố nội tại của Nga cũng như việc đại đa số các nước từ chối trừng phạt Nga. Bất chấp mối tương quan lực lượng bất lợi, phương Tây dường như vẫn dựa vào tính trung tâm của nền kinh tế để áp đặt quan điểm của mình », David Teurtrie đã viết như thế trên Le Monde Diplomatique.

    Trên làn sóng RFI Tiếng Việt, nhà địa lý học nhận định :

    David Teurtrie : « Đây là một trong những sai lầm to lớn mà giới lãnh đạo phương Tây đã mắc phải. Họ tin rằng những biện pháp trừng phạt đó sẽ được phần còn lại của thế giới tôn trọng. Nhưng ngoại trừ những đồng minh thân cận của phương Tây như Nhật Bản hay Hàn Quốc, với những sắc thái khác nhau, phần còn lại của thế giới, các nước châu Á cũng như châu Phi và đại đa số các nước châu Mỹ Latinh đã từ chối áp dụng những trừng phạt đó.

    Nước Nga, do vậy, vẫn có được nguồn cung từ những nước này trong một số lĩnh vực nhất định. Đương nhiên, Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp chính yếu hàng đầu, nhất là Trung Quốc hiện nay sản xuất được hầu hết tất cả những gì người ta có thể mua ở phương Tây, đôi khi chất lượng không hoàn toàn giống nhau, không hẳn là cùng sản phẩm nhưng Trung Quốc có khả năng chế tạo gần như một thứ.

    Nhưng không chỉ có Trung Quốc, chúng ta còn có cả những nước châu Á khác. Hơn nữa, gần đây, chúng ta đã thấy tổng thống Nga đến thăm Việt Nam. Đó không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, bởi vì, ông ấy cũng đang ve vãn nhiều nước khác để đa dạng hóa nguồn cung. »

    Trước khi khép lại cuộc trao đổi với RFI Tiếng Việt, David Teurtrie giải thích thêm, Nga trông đợi điều gì ở đối tác Việt Nam.  

    David Teurtrie : « Tôi nghĩ rằng đối với Nga, điều quan trọng là không để bị quá phục thuộc vào Trung Quốc, và tất nhiên, Nga cần vun đắp các mối quan hệ với nhiều nước khác. Chúng ta biết rõ là Nga hoạt động rất tích cực tại châu Phi nhưng vấn đề là các nước tại lục địa này sáng tạo rất ít công nghệ. Ngược lại, các nước châu Á có thể trở thành đối tác tiềm tàng mà Nga có thể giao thương thay thế Trung Quốc.

    Chúng ta biết rõ là Việt Nam có những mối quan hệ khá phức tạp với Trung Quốc láng giềng. Nga có thể có lợi trong việc đa dạng hóa các mối quan hệ, kể cả với Việt Nam. Rồi còn có một khía cạnh khác, đó là Việt Nam đã cam kết bình thường hóa các mối quan hệ, thậm chí là xích lại gần Mỹ, và Nga muốn được bảo đảm rằng điều đó được thực hiện mà không gây phương hại cho quan hệ Việt – Nga, vì nên biết rằng mối quan hệ này giữa hai nước là khá tốt từ sau Chiến tranh Việt Nam. Thế nên, Matxcơva mong muốn có thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hữu hảo với Hà Nội. »

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn tiến sĩ David Teurtrie, giảng viên Viện Nghiên cứu Cao học Công giáo (ICES), nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu châu Âu – Á Âu (CREE), đã tham gia chương trình.

    12 min
  • Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ thăm Cam Bốt: Tái lập quan hệ quốc phòng, cạnh tranh với Trung Quốc

    Ngày 04/06/2024, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Lloyd Austin đã chuyến thăm Cam Bốt. Mục tiêu là nhằm cải thiện mối quan hệ đang căng thẳng và tái lập các chương trình hợp tác quân sự. Tuy nhiên, theo nhiều nhà quan sát, qua chuyến thăm ngắn ngủi của ông Austin, Washington còn tìm cách đối phó với nguy cơ Trung Quốc có được cảng quân sự REAM tại quốc gia Đông Nam Á này, mở đường thông ra Ấn Độ Dương.

    Đây là lần đầu tiên một lãnh đạo cao cấp Mỹ đến thăm Cam Bốt kể từ khi ông Hun Manet, con trai cựu thủ tướng Hun Sen, lên cầm quyền năm 2023. Trong chuyến thăm vỏn vẹn một ngày, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã có các cuộc hội đàm với đồng nhiệm Cam Bốt Tea Seiha, thủ tướng Hun Manet và chủ tịch Thượng Viện Hun Sen.

    Trong một thông cáo, thư ký báo chí Lầu Năm Góc, thiếu tướng Pat Ryder, cho biết giới chức hai nước đã thảo luận về các phương cách thắt chặt hơn nữa quan hệ quốc phòng, bao gồm cả việc nối lại trao đổi huấn luyện quân sự, huấn luyện rà phá mìn. Thủ tướng Hun Manet trên mạng xã hội Telegram cho biết thêm là ông và bộ trưởng Lloyd Austin thảo luận các cách thức nối lại các chương trình hợp tác, bao gồm cả việc Cam Bốt tiếp cận chương trình giáo dục quân sự Mỹ và các cuộc tập trận chung giữa hai nước.

    Từ năm 2017, quan hệ giữa Mỹ và Cam Bốt đã trở nên căng thẳng. Phnom Pênh vào thời điểm đó đã hủy cuộc tập trận chung với Mỹ mang tên Angkor Sentinel do Mỹ chỉ trích chính quyền Hun Sen trong các chính sách trấn áp đối lập và vi phạm nhân quyền. Năm 2020, nhiều cơ sở hạ tầng quân sự do Mỹ tài trợ ở cảng REAM đã bị tháo dỡ và được cải tạo xây mới nhờ sự trợ giúp của Trung Quốc. Năm 2021, Hoa Kỳ đã rút chương trình cấp học bổng đối với học viên quân sự Cam Bốt.

    Những phản ứng mạnh mẽ này từ Washington đã cho phép Trung Quốc lấp dần các khoảng trống do Mỹ để lại. Chính quyền thủ tướng Hun Sen ngày càng xích gần đến Trung Quốc thông qua những khoản đầu tư lên đến hàng tỷ đô la trong khuôn khổ chương trình « Những con đường tơ lụa mới ». Và điều này giờ khiến Hoa Kỳ quan ngại.

    AFP lưu ý, ông Lloyd Austin đến thăm Phnom Penh vào lúc Cam Bốt và Trung Quốc vừa kết thúc cuộc tập trận chung mang tên « Rồng Vàng » (Gold Dragon). Theo giới quan sát, việc ông Hun Manet – từng theo học tại Học viện Quân sự West Point, và là con trai cựu thủ tướng Hun Sen – lên cầm quyền năm 2023 là « một bước ngoặt » cho mối quan hệ Mỹ - Cam Bốt.

    Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà nghiên cứu David Cam Roux, chuyên gia về Đông Nam Á, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế, trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po, trước hết đánh giá chuyến thăm Cam Bốt của ông Lloyd Austin là một dấu hiệu hòa dịu giữa hai nước.

    David Camroux : Bởi vì Hoa Kỳ đã hiểu ra rằng cách thức mà họ đối xử với Cam Bốt bằng những lời tố cáo chẳng hạn như xây dựng căn cứ hải quân REAM, ban hành các trừng phạt về vấn đề nhân quyền đã thật sự không mang lại kết quả. Ngược lại, chúng còn đẩy Cam Bốt ngày càng xích lại gần Trung Quốc. Do vậy, tôi nghĩ rằng Hoa Kỳ đã ý thức được rằng cần phải hành động khác đi đối với Cam Bốt.

    Hoa Kỳ muốn tận dụng việc Cam Bốt có tân thủ tướng là Hun Manet, vốn là con trai của ông Hun Sen và từng theo học ở trường võ bị West Point tại Mỹ. Chúng ta chưa biết ông ấy có tự do hơn cha mình hoặc ít độc tài hơn hay không, điều mà chúng ta biết được là ông ấy không giống cha mình,vốn là khá bài Mỹ. Thế nên, với việc tân thủ tướng cầm quyền, Hoa Kỳ hy vọng có thể nối lại, hay chí ít là hạ nhiệt căng thẳng quan hệ. 

    Một trong những mối bận tâm sâu sắc của Mỹ là căn cứ quân sự REAM. Vì sao Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến căn cứ quân sự này ?

    David Camroux : Hoa Kỳ lo lắng bởi vì nếu như căn cứ này trở thành căn cứ quân sự cho Hải quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Trung Quốc sẽ có được một lối thông ra Vịnh Bengal và Ấn Độ Dương. Và như vậy đây sẽ là căn cứ quân sự lớn thứ hai của Trung Quốc ở nước ngoài sau Djibouti. Và Hoa Kỳ, với chính sách Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do, lo lắng về khả năng hải quân Trung Quốc có được lối tiếp cận này.

    Cùng ngày ông Lloyd Austin đến Phnom Penh, Bắc Kinh thông báo bổ nhiệm ông Uông Văn Bân (Wang Wenbin) làm đại sứ Trung Quốc ở Cam Bốt. Theo ông, thông báo này là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay là một tính toán chiến lược ?

    David Camroux : Thật khó mà biết được, nhưng nhân vật được bổ nhiệm được biết đến nhiều như là người đứng đầu đội ngũ các nhà ngoại giao hung hăng nhất, những người được ví như là các « Chiến Lang ». Đó là một sự ngẫu nhiên hay cách thức để ngáng chân Mỹ ? Tôi nghĩ rằng đây là một thông điệp mà Bắc Kinh mong muốn gởi đến cho cả Mỹ cũng như Cam Bốt.

    Ngoài việc ban hành một số biện pháp trừng phạt chế độ Hun Sen vì không tôn trọng nhân quyền, bóc lột lao động, ngày càng chuyên chế, điều khó cho Mỹ cũng như là châu Âu là họ không có được những thứ mà Trung Quốc có, đó là đồng nhân dân tệ. Chúng ta không có ý muốn cũng không có nguồn lực mà Trung Quốc có, để nhấn chìm đất nước khách hàng này bằng những nguồn tài chính, những thứ cho phép mua cả chế độ.

    Như vậy, trong bối cảnh này, Cam Bốt cũng là một phần trong cuộc cạnh tranh toàn cầu giữa Mỹ và Trung Quốc ?

    David Camroux : Một câu hỏi hay. Đúng vậy, nhưng chỉ là thứ yếu, vì trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc, Hoa Kỳ dẫu sao cũng có nhiều đồng minh, từ chính thức như Philippines cho đến không chính thức như Việt Nam với chính sách ngoại giao cây tre được vận dụng khá tinh tế, với Nga qua chuyến thăm của ông Putin, nhưng với cả Mỹ qua thỏa thuận được ký kết với tổng thống Biden.

    Nhưng Cam Bốt là một quốc gia khách hàng, Việt Nam không như vậy, gìn giữ nền độc lập, chính sách phi liên kết có thể nói là lâu đời. Vì vậy, đây là một chủ đề đáng lo, nhất là nếu Cam Bốt có nhiều nguồn vốn đầu tư Trung Quốc, điều đó Hoa Kỳ không quan tâm, nhưng điều Mỹ lo ngại là khả năng Hải quân Trung Quốc có được lối ra vịnh Bengal và Ấn Độ Dương.

    Như chúng ta thấy ở Biển Đông, Trung Quốc ngày càng hung hăng và không tuân thủ phán quyết của Tòa Trọng Tài trong vụ kiện của Philippines. Tôi lưu ý là cách nay hai ngày, Việt Nam tuyên bố sẽ đàm phán với Philippines một cách hữu nghị để đạt phân định ranh giới những vùng biển mà hai nước đều đòi chủ quyền.

    Cách hành xử của Trung Quốc trong toàn vùng Đông Nam Á bắt đầu có hệ quả, cho thấy là nó phản tác dụng vì nhiều nước không muốn đưa ra lập trường trong xung đột Mỹ - Trung, hay xích lại gần một trong hai nước. Tôi cho rằng chuyến thăm Cam Bốt của ông Lloyd Austin là nhằm tìm cách vô hiệu hóa phần nào tiến trình xích lại gần Trung Quốc ngày càng rõ nét.

    Theo ông, đây có là một cách tiếp cận chính sách đối ngoại mới của tân thủ tướng Hun Manet ?

    David Camroux : Tôi nghĩ là ông Hun Manet cũng muốn tỏ sự khác biệt với cha mình. Ông ấy tỏ ra khá thoải mái trên trường quốc tế giống như nhân vật sắp trở thành tổng thống của Indonesia. Ông ấy muốn đưa Cam Bốt – đất nước do cha ông điều hành trong nhiều thập niên – thoát khỏi thế cô lập.

    Nhưng vấn đề đối với Hun Manet là cha ông vẫn hiện diện và vẫn là chủ tịch đảng cầm quyền. Trong các đại gia tộc châu Á, việc thoát bóng cha là điều không dễ, đặc biệt nếu đó là cựu lãnh đạo chính phủ.

    Hơn nữa, tôi nghĩ rằng người dân Cam Bốt không hẳn là đồng tình hoàn toàn với chế độ, nhất là chế độ khách hàng của Trung Quốc. Bởi vì, chính những người dân thấp cổ bé họng phải trả giá cho việc xây dựng các căn cứ quân sự hay thành lập các sòng bạc trên mạng, lập các khu dân cư cho người Trung Quốc gây bất lợi cho thường dân. Đó là con dao hai lưỡi, chế độ Cam Bốt có thể gần gũi với Trung Quốc, nhưng người dân có lẽ thì không.

    Từ ngày 01/7/2024, Cam Bốt sẽ giữ vai trò quốc gia điều phối cho đối thoại ASEAN – Hoa Kỳ giai đoạn 2024-2027. Liệu chuyến thăm Phnom Penh của ông Lloyd Austin cũng là cách để tạo thuận lợi cho cả hai phía trong hoạt động này ?

    David Camroux : Hoàn toàn có thể. Bởi vì như Cam Bốt đã giữ chức chủ tịch luân phiên của ASEAN năm 2022, thời điểm khởi động cho việc hâm nóng quan hệ Mỹ - Cam Bốt. Ít nhất là họ đã xoa dịu được các chỉ trích nhắm vado chế độ Cam Bốt. Hoa Kỳ coi trọng vai trò của ASEAN, chẳng hạn như trong việc giải quyết xung đột ở Miến Điện. Hay như ở Singapore gần đây, Mỹ thật sự mong muốn siết chặt quan hệ với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á bằng cách tiếp tục củng cố các mối quan hệ với một số nước thành viên của ASEAN như Philippines, Việt Nam và họ cũng hy vọng điều đó với Indonesia !

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà nghiên cứu David Camroux.

    10 min
  • Bầu cử lập pháp 2024: Nga trông chờ thắng lợi của đảng cực hữu Pháp Tập Hợp Dân Tộc

    Matxcơva theo dõi sát sao các diễn biến chính trị hiện nay tại Pháp. Thắng lợi của đảng  cực hữu Tập Hợp Dân Tộc – Rassemblement National (RN) trong kỳ bầu cử Quốc Hội Pháp, diễn ra hai vòng ngày 30/6 và 7/7, sẽ là một tin tốt lành cho điện Kremlin. Dù vậy, giới phân tích Nga cũng nghi ngại rằng ít có khả năng có những thay đổi đường hướng triệt để của Pháp trong việc hậu thuẫn Ukraina.

    Kết quả bầu cử Nghị Viện Châu Âu tại Pháp với thắng lợi của đảng cực hữu Tập Hợp Dân Tộc (Rassemblement National – RN) và thông báo giải tán Quốc Hội của tổng thống Pháp Emmanuel Macron được truyền thông,  giới phân tích và chính trị gia tại Nga bình luận nhiều trong những ngày qua.

    Bầu cử châu Âu: RN về đầu, Nga xoa tay vui mừng

    Chủ tịch Quốc Hội Nga nói đến sự “phá sản chính trị” của tổng thống Macron và thủ tướng Đức Olaf Scholz. Bà chủ tịch Hội Đồng Liên Bang Nga thì cho đấy là dấu hiệu của một xu hướng “suy yếu tính chính đáng của những ai cắt đứt mối liên hệ với cử tri”.

    Tờ báo thân điện Kremlin, Komsomolskaia Pravda khẳng định, kể từ giờ ông Emmanuel Macron “không còn tính chính đáng” giống như đồng nhiệm Ukraina Volodymyr Zelensky, người mà nhiệm kỳ tổng thống đã kết thúc từ hôm 20/5. Cựu tổng thống Nga Dmitri Medvedev còn đi xa hơn khi viết trên mạng xã hội X rằng “Đã đến lúc từ chức! Đáng vứt vào thùng rác lịch sử!”

    Về phần điện Kremlin, không một lời bình luận về sự trỗi dậy của phe cực hữu tại Pháp cũng như thông báo tổ chức bầu cử sớm Quốc Hội khi xem đấy là “chuyện nội bộ ở Pháp”. Tuy nhiên, phát ngôn viên điện Kremlin, Dmitri Peskov tuyên bố Nga “cẩn trọng theo dõi mọi diễn biến do thái độ cực kỳ thiếu thân thiện, thậm chí thù địch, của các nhà lãnh đạo Pháp” đối với Nga.

    Cũng theo ông Peskov, điện Kremlin theo dõi sát sao “động thái của các đảng cánh hữu, hiện đang lan rộng” tại châu Âu và Pháp, những đảng mà “cùng với thời gian sẽ theo gót chân của các đảng ủng hộ châu Âu”.

    Theo giới quan sát tại Pháp, những phát biểu trên của phát ngôn viên điện Kremlin, dường như cho thấy Nga phần nào đã bị bất ngờ trước kết quả cuộc bầu cử, nhưng cũng không che giấu niềm hân hoan về cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay ở Pháp.

    Bởi vì, trong nhãn quan giới chức Nga, tổng thống Pháp Emmanuel Macron, giờ bị coi như là ngọn lao chống Nga trong lòng khối Liên Hiệp Châu Âu, theo như nhận định của nhà nghiên cứu Igor Delanoë, phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp – Nga với RFI Tiếng Việt.

    Igor Delanoë: “Rõ ràng là có một kiểu hài lòng, đó là vì ông Emmanuel Macron những tháng gần đây đã đưa ra nhiều quan điểm thật sự là gay gắt đối với Nga. Ông ấy đi từ ‘không nên làm bẽ mặt nước Nga’ cho đến ‘không thể để cho Nga thắng’, rồi ‘điều chuyên viên quân sự Pháp đến Ukraina’. Chỉ trong vòng hai năm mà lập trường Pháp đã thay đổi nhiều. Do vậy, lẽ đương nhiên là Kremlin cần theo dõi xem các cuộc bầu cử này sẽ diễn ra như thế nào, cuộc bầu cử lập pháp sẽ có tiến triển ra sao.”

    Nguy cơ RN cầm quyền: Hồi kết cho viện trợ Ukraina?

    Truyền thông Pháp, các cuộc tranh luận công khai là những đối tượng được Nga quan tâm đến nhiều nhất. Trên đài phát thanh France Culture, nhà báo Paul Gogo, thông tín viên cho nhiều kênh truyền thông Pháp ở Matxcơva nhận định, tại Nga, người ta xem các cuộc tranh luận công khai như là “một cuộc xung đột tiềm tàng”, “một chiếc gai trong gót chân ban lãnh đạo Pháp, một khe hỡ của các nền dân chủ cần được khai thác”.

    Rõ ràng, đà thắng thế của đảng cực hữu Tập Hợp Dân Tộc – RN ở Pháp là “một tin tốt lành” cho Nga. Ông Maxim Yusin, một cây bút bình luận của tờ báo Nga Kommersant FM, cho rằng, “trong tương lai gần, tổng thống Pháp sẽ không thể tập trung nhiều cho Ukraina cũng như không thể thiết lập một liên minh chống Nga, như ông ấy đã hoạt động tích cực trong nhiều tháng gần đây.”

    Đối với nhiều nhà phân tích tại Nga, giả thuyết đảng RN – một đảng chính trị có những đường lối chính sách gần gũi với Nga – lên cầm quyền có thể được xem như là hồi kết cho chính sách hậu thuẫn Ukraina. Bởi vì, đường lối chính trị của RN là bằng cách này hay cách khác, cuộc xung đột ở Ukraina phải được giải quyết và nước Pháp không thể lãng phí hàng tỷ euro tiền thuế của người dân để chi viện cho Kiev.

    Giới chuyên gia Nga nhận định rằng đường hướng chính trị của RN khác xa với chính sách của Macron. Theo học giả Nikolai Topornin, giám đốc trung tâm thông tin châu Âu, giáo sư thỉnh giảng Viện Quan hệ Quốc tế Nga, thân cận với điện Kremlin, được tờ Le Figaro trích dẫn, “Le Pen và Bardella, có ý tưởng đưa hai bên tham chiến đến bàn đàm phán hòa bình, và không cung cấp cho Ukraina các phương tiện chiến tranh lâu dài”.

    Trước khả năng xảy ra một cuộc “sống chung” chính trị tại Pháp, liệu rằng tương lai sự hậu thuẫn của Paris dành cho Kiev có thể trở nên mờ mịt như trông đợi từ Matxcơva hay không? Về điểm này, chuyên gia Igor Delanoë, giải thích thêm:

    Igor Delanoë: “Điều này khó đoán vì ở Pháp, hệ thống chính trị được thiết lập theo cách mà mọi thứ phụ thuộc vào việc chính sách đối ngoại và quốc phòng vẫn nằm trong tay tổng thống nước cộng hòa. Đây là những lĩnh vực mang tính đặc quyền và cụ thể hơn, khi nói về vấn đề Nga, ông Emmanuel Macron, trên thực tế đã tập trung, tuy không phải là tất cả các quyền lực, nhưng trong mọi trường hợp, là tất cả các cơ chế ra quyết định tại điện Elysée. Bộ Ngoại Giao, vốn có những quyền hạn rất ít về hồ sơ này cùng với bộ Quốc Phòng là những bên thực hiện các lệnh từ tổng thống.

    Vì thế, tôi nghĩ là sẽ không có sự thay đổi triệt để nào. Nhưng chúng ta có thể hình dung rằng ông Bardella, nếu trở thành thủ tướng, sẽ có thể tham gia vào đời sống chính trị theo kiểu của thủ tướng Ý Meloni hiện nay. Nghĩa là ông ấy sẽ không hẳn phá dỡ hay tìm cách tháo dỡ hết những gì đã được thực hiện trước đây trên phương diện chi viện cho Ukraina. Tôi không rõ là họ có mong muốn hay chí ít là sẽ có các phương tiện để thực hiện. Còn phải chờ xem thế cân bằng quyền lực trong Quốc Hội như thế nào. Nhưng có lẽ về cơ bản đảng RN sẽ giữ y nguyên những gì đã làm được cho đến hiện tại.”

    Cực hữu RN, cỗ máy tuyên truyền cho luận điệu Nga

    Dẫu sao thì đối với tổng thống Nga, sự trỗi dậy của phe cực hữu tại Pháp và trong chừng mực nào đó là phe cực tả - đảng Nước Pháp Bất Khuất, những đảng chính trị có những đường lối chính sách gần gũi với Nga, có những mối liên hệ chặt chẽ với Nga đã là một “cơ hội ngoài mong đợi”.

    Theo nhận định từ nhà báo Paul Gogo, nếu về đầu cuộc bầu cử lập pháp lần này, đảng RN của bà Marine Le Pen sẽ đảm nhận nhiều vị trí quan trọng hơn trong Quốc Hội, và như vậy, điều này sẽ tiếp thêm nhiều sức cho điện Kremlin. Tổng thống Nga xem đảng RN tại Pháp như là một “cỗ máy” phát lại các tuyên truyền của điện Kremlin.

    Về điểm này, nhà nghiên cứu Igor Delanoe nhấn mạnh thêm rằng, đảng RN trong tương lai có thể sẽ đóng vai “kẻ thọc gậy” gây khó khăn cho các chính sách của Liên Âu, nhất là trong việc hỗ trợ Ukraina hiện nay.

    Igor Delanoë:: “Đối với những khoản viện trợ trong tương lai, đảng RN sẽ nỗ lực gây cản trở  hoặc chí ít là dùng khoản viện trợ này để mặc cả việc thông qua viện trợ để đổi lấy những tiến bộ trên phương diện chính trị nội bộ chẳng hạn. Do vậy, tôi không nghĩ là trong tức thì sẽ có những thay đổi triệt để.

    Hơn nữa, tôi cũng không nghĩ rằng Nga tin sẽ có những thay đổi cơ bản tiến trình của mọi việc. Rõ ràng, trong bản đồ các nước hoài nghi tại châu Âu đối với việc hỗ trợ Ukraina như cung cấp vũ khí cho Kiev chẳng hạn, thì một chính phủ do đảng RN lãnh đạo sẽ làm gia tăng thêm hàng ngũ những nước hoài nghi đó.”

    Dù vậy, ông Igor Delanoë cảnh báo rằng, ngay cả những nước hoài nghi nhất như Hungary của thủ tướng Viktor Orban, dù ra sức cản trở mãnh liệt, nhưng cuối cùng cũng phải thuận theo ý của Ủy Ban Châu Âu. Cũng theo ông Delanoë, việc RN có lên cầm quyền sau kỳ bầu cử, đó chưa hẳn là một cuộc cách mạng đối với Nga.

    Đây cũng là quan điểm này của nhà chính trị học người Nga Nikolai Topornin, được Le Figaro trích dẫn, “các biện pháp trừng phạt do Mỹ và châu Âu áp đặt nhằm vào Nga là rất nghiêm khắc. Sự trỗi dậy duy nhất một chính phủ thân Nga hơn có lẽ sẽ chẳng làm thay đổi gì trong tình huống hiện nay. Emmanuel Macron vẫn sẽ là tổng thống và chính sách đối ngoại là nằm trong tay nguyên thủ quốc gia theo như Hiến Pháp. Rất ít có khả năng giọng điệu giữa Pháp và Nga sẽ được cải thiện trong tức thì. Nhưng ít ra chúng ta có thể hy vọng rằng mối quan hệ giữa hai nước sẽ không trở nên tồi tệ hơn”.

    Nhà chính trị học Alexei Chikhachev đưa ra kịch bản tồi tệ hơn, khi không loại trừ khả năng rằng, nếu lên cầm quyền, nhà lãnh đạo trẻ của RN sẽ nỗ lực “đưa ra các phát biểu hiếu chiến hơn với Matxcơva nhằm làm trong sạch mình”.

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà nghiên cứu Igor Delanoë, phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp – Nga đã tham gia chương trình.

    10 min
  • Đối thoại Shangri-La 2024: Diễn đàn xung đột chiến lược quốc phòng Mỹ - Trung

    Từ ngày 31/5 đến ngày 02/06/2024, hội nghị Đối thoại An ninh – Quốc phòng Shangri – La đã diễn ra tại Singapore. Căng thẳng chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc tại vùng châu Á – Thái Bình Dương vẫn là tâm điểm hội nghị xung quanh các vấn đề chính là Đài Loan và Biển Đông.

    Tại hội nghị cấp cao Đối thoại Shangri-La, diễn ra ở Singapore, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã bảo vệ các tầm nhìn đối lập nhau về tương lai an ninh châu Á, bất chấp cuộc gặp trao đổi giữa hai lãnh đạo Quốc Phòng Mỹ - Trung để cải thiện quan hệ.

    Trung Quốc tố cáo Hoa Kỳ tìm cách thiết lập một “phiên bản NATO tại vùng châu Á – Thái Bình Dương”, gây căng thẳng và can thiệp vào chuyện nội bộ khu vực. Trong khi đó, Hoa Kỳ tìm cách thúc đẩy các mối quan hệ đối tác trong vùng theo cách mà giới phân tích đánh giá là lời cảnh báo chống lại hành động gây hấn quân sự của Trung Quốc.

    Khác biệt về tầm nhìn rất hiển nhiên giữa hai nước, nhất là trong ngôn từ mô tả khu vực: Hoa Kỳ nói đến một vùng “Ấn Độ - Thái Bình Dương”, còn Trung Quốc thì nhắc đến “châu Á – Thái Bình Dương”, một thuật ngữ hẹp hơn không bao gồm Nam Á theo như nhận định trên trang mạng USNI News.

    Giới quan sát cũng ghi nhận rằng, đến dự hội nghị năm nay, Bắc Kinh cử một phái đoàn đông đảo đến dự hội nghị, đồng thời khéo léo bố trí một số đại biểu ở những vị trí chiến lược nhằm đảm bảo rằng tiếng nói của Trung Quốc được lắng nghe trong suốt hội nghị. Đây cũng là cách để Trung Quốc nhắc nhở các bên tham gia rằng châu Á – Thái Bình Dương là sân sau của họ.

    Mời quý vị theo dõi phần giải thích của thông tín viên Nguyễn Giang, tại Singapore.

    ---------- ********** ----------

    RFI Tiếng Việt : Đối thoại An ninh Shangri-La, từ nhiều năm qua được ví như là “thước đo” mối quan hệ Mỹ-Trung. Việc hai nước thông báo nối lại đường dây liên lạc quân sự bị đình chỉ hồi cuối năm 2022, trong cuộc gặp đầu tiên giữa ông Austin với bộ trưởng Quốc Phòng mới của Trung Quốc trước khi diễn đàn khai mạc, có thể được xem như là một dấu hiệu hạ nhiệt căng thẳng giữa hai nước không?

    TTV. Nguyễn Giang : Đây không phải là lần đầu tiên bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Lloyd Austin III đến thăm Singapore hoặc tới dự Diễn đàn Đối thoại Quốc phòng-An ninh Shangri-La do Viện Nghiên cứu Chiến lược IISS của Anh tổ chức thường niên ở Singapore từ 2002. Thế nhưng đây là lần đầu tiên đô đốc Đổng Quân tới dự Diễn đàn này, kể từ khi lên nhậm chức bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc từ tháng 12 năm 2023.

    Vì thế, việc hai ông gặp nhau lần đầu ở Singapore là dấu hiệu hai nước đều cảm thấy nhu cầu đối thoại quốc phòng là rất quan trọng trong bối cảnh như ông Austin nói thẳng ra, Hoa Kỳ coi Trung Quốc là quốc gia “cạnh tranh” trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Hai ông đã có cuộc hội đàm hôm thứ Sáu 31/05. Mục đích là để tránh các hiểu lầm chứ không phải là hai bên tỏ ra hòa hoãn hơn trước.

    Quan sát truyền hình trực tiếp các bài diễn văn của hai bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc và Mỹ thì thấy là hai bên không hề nhượng bộ gì hơn trong các vấn đề cơ bản có khác biệt quan điểm rõ rệt ở Biển Đông, về Philippines, về eo biển Đài Loan. Tuy thế, về ngôn từ thì cả hai lãnh đạo bộ quốc phòng Mỹ và Trung Quốc nói với báo chí ngắn gọn sau cuộc gặp mặt song phương rằng đó là “dịp nói chuyện tốt, có tính xây dựng”.

    Có thể nói đây là dịp quan chức quốc phòng Hoa Kỳ và Trung Quốc làm rõ, công khai hơn cách nhìn của họ về các vấn đề an ninh vùng, và có thể tạm gọi đây là cuộc trao đổi không công kích nhau trực diện, nhưng về quan điểm thì hai bên không đổi, không hạ nhiệt.

    Bài diễn văn của bộ trưởng quốc phòng Mỹ và Trung Quốc thường rất được chú ý, phản ảnh mối bận tâm và lợi ích của hai nước cho khu vực. Năm 2022, Mỹ và Trung Quốc chỉ trích nhau gay gắt, thậm chí là cáo buộc bên này hay bên kia là nguồn cội căng thẳng trong khu vực. Năm nay, các phát biểu của hai bên phản ảnh thế nào mối bận tâm của Mỹ và Trung Quốc cho khu vực và có những điểm gì khác so với năm 2022?

    Nguyễn Giang : Theo dõi bài diễn văn và phần trả lời các câu hỏi từ cử tọa dự Đối thoại Shangri-La thì có thể thấy ông Austin không nêu ra tên nước Trung Quốc, nhưng bày tỏ sự chú ý vào các điểm nóng trong vùng mà Trung Quốc bị Hoa Kỳ và đồng minh gây ra. Về cơ bản, ông Austin như để trấn an các nước châu Á rằng Hoa Kỳ luôn bảo vệ họ giữ an ninh chung, đã nói rằng “Hoa Kỳ sẽ chỉ an toàn khi châu Á an toàn”.

    Ai cũng rõ đây là câu ám chỉ Trung Quốc. Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ đặc biệt nhấn mạnh ý rằng khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương không chấp nhận một quốc gia nào đóng vai trò bá quyền, và xác nhận Hoa Kỳ không bỏ đi, vì đã và đang luôn là một quốc gia bên bờ Thái Bình Dương.

    Điểm mới so với năm 2022 là quan chức Mỹ nêu ra sự tham gia rộng hơn của Hoa Kỳ vào an ninh vùng với các nước đồng minh, đối tác, cụ thể như tập trận Balikatan ở Philippines có cả Pháp và Úc tham gia, tập trận Rắn Hổ Mang Vàng (Golden Cobra) ở Thái Lan có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc và nhiều nước khác tham gia.

    Ông cũng nhắc đến dự án tàu ngầm nguyên tử AUKUS của Hoa Kỳ, với Anh và Úc để tạo cho Úc đội tàu ngầm chạy động cơ hạt nhân vào thập kỷ tới. Ông Austin cũng nhắc đến quan hệ an ninh quốc phòng Hoa Kỳ triển khai với Ấn Độ, với Papua Tân Guinea...để nói rằng nước Mỹ đang có rất nhiều đồng minh, đối tác cùng chia sẻ viễn kiến về tự do hàng hải, về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải.

    Riêng ông Đổng Quân, lãnh đạo quốc phòng Trung Quốc, xuất thân từ Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA), đã dành một thời lượng lớn để nói rằng, về lịch sử, các nước trong khu vực đều đã xóa bỏ chế độ thuộc địa và muốn giữ chủ quyền, không muốn bị các thế lực bên ngoài lôi kéo.

    Theo ông, các nước châu Á hoàn toàn có thể tự lo liệu về an ninh và không cần dựa vào bên ngoài, hàm ý nói Hoa Kỳ không nên dính líu vào các vấn đề trong vùng. Ông cũng nói nhiều về Đài Loan và lên án “các thế lực ly khai” và cho rằng các thế lực này sẽ bị nghiền nát vì đã phản bội dân tộc Trung Hoa.

    Trước đó, ông Austin đã nêu quan điểm của Hoa Kỳ rằng chính quá trình dân chủ hóa tự nhiên của người Đài Loan là rất bình thường – hàm ý cuộc bầu cử đưa ông Lại Thanh Đức của đảng Dân Tiến lên cầm quyền gần đây – và TQ đã gây ra lo ngại vì các hoạt động khiêu khích của Quân Giải phóng quanh eo biển Đài Loan (concern about recent provocative PLA activity around the Taiwan Strait). Phía Mỹ yêu cầu Trung Quốc ngưng các biện pháp đe dọa xung quanh Đài Loan. 

    Trong bài phát biểu, ông Austin dường như cho thấy có sự thay đổi cách tiếp cận an ninh của Mỹ trong khu vực, từ "mô hình trung tâm và nan hoa" mà Mỹ là trung tâm sang hình thức một "tập hợp các sáng kiến và thể chế chồng chéo và bổ sung", được thúc đẩy bởi một tầm nhìn chung, ý thức nghĩa vụ chung. Anh có thể giải thích thêm về sự thay đổi thái độ này của Mỹ?

    Nguyễn Giang : Theo lời ông Austin thì Hoa Kỳ không chọn cách là một điểm trung tâm về an ninh châu Á-TBD với các đồng minh liên kết vào tâm điểm đó như một mạng lưới, mà nay, Hoa Kỳ cổ vũ cho mạng lưới an ninh với nhiều lớp, nhiều quan hệ đa phương, song phương đan cài, bổ sung. Cấp độ quan hệ, là đồng minh quân sự có hiệp ước với Mỹ, hay là đối tác an ninh có hiệp định, hoặc đối tác không có hiệp định, đều tốt. Giữa các nước cùng chia sẻ quan tâm về an ninh vùng cũng có thể có các đối tác ký với nhau. Bởi sự đa dạng về cấp độ này phản ánh nhu cầu của mỗi nước.

    Ví dụ, sau Thỏa thuận Trại David năm 2023, thì sang năm nay, Nhật Bản và Hàn Quốc đã có sáng kiến song phương riêng, lập ra hệ thống chung cảnh báo hỏa tiễn từ Bắc Triều Tiên. Hoa Kỳ cũng nói có dự án “Các quốc gia liên kết tự do” (The Freely Associated States), nhắm tới 2040 cho ba đảo quốc ở vùng Thái Bình Dương, hỗ trợ họ về an ninh biển. Bên cạnh đó là các dự án quốc phòng đặc thù với Philippines về bản đồ hải dương, với Nhật về tăng cường năng lực phòng thủ của Nhật, với Hàn Quốc bằng cách lập trạm đỗ cho pháo đài bay B-52 mang bom nguyên tử lần đầu trở lại bán đảo Triều Tiên sau nhiều thập niên.

    Trung Quốc chỉ trích bài phát biểu tổng thống Philippines là "dẫn sói vào nhà", phá vỡ vai trò trung tâm của ASEAN. Anh có những nhận định thế nào về bài phát biểu của ông Marcos?

    Nguyễn Giang : Là nguyên thủ quốc gia nước Philippines, láng giềng của Singapore, ông Ferdinand Marcos Jr được mời đọc diễn văn khai mạc hội nghị Shangri-La năm nay. Đây là bài diễn văn mạnh mẽ, bằng tiếng Anh ngôn từ rất hay, trình bày rất truyền cảm, nhấn mạnh tới tinh thần vì hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ của Philippines trước sức ép từ Trung Quốc.

    Trên trang YouTube của đài CNA tức Channel News Asia ở Singapore, tôi đọc thấy khá nhiều người Philipine đã vào mục Bình luận dưới video ông Marcos phát biểu để chia sẻ niềm tự hào về lãnh đạo nước họ. Ông cảnh báo Trung Quốc rằng trong cuộc giằng co ở Biển Đông mà Manila gọi là Biển Tây Philippines, cái chết của bất cứ người lính, người dân Philippines vào sẽ được coi là hành động rất gần với việc tuyên chiến chống lại nước ông.

    Thế nhưng phần hỏi đáp thì ông Marcos đã bị trung tướng Hà Lôi thuộc đoàn Trung Quốc thách thức, hỏi rằng quan điểm của Manila là sự có mặt của Hoa Kỳ là trọng yếu cho an ninh của Philippines, vậy có phải là đi ngược với nguyên tắc “ASEAN là trung tâm” hay không, và việc Philippines làm thế có phải là tạo ra “đối đầu giữa các khối quốc gia” (bloc confrontation)?

    Ông Marcos đã bác bỏ cách nhìn của trung tướng Trung Quốc, và nói chính tính trung tâm, đa diện của ASEAN từ ngày thành lập tới nay luôn là kim chỉ nam cho ngoại giao Philippines. Bộ trưởng Đổng Quân của Trung Quốc cũng chỉ trích gay gắt thái độ của Philippines về biển đảo.

    Và Các nước Đông Nam Á có phản ứng như thế nào trước các phát biểu của Mỹ, Trung và Philippines ?

    Nguyễn Giang : Báo chí khu vực viết nhiều về các bài diễn văn của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, Trung Quốc và Philippines. Ở đây có thể thấy rõ vấn đề ngôn ngữ. Có vẻ như là các khách Hoa Kỳ và Philippines nói tiếng Anh và trả lời câu hỏi của cử tọa trực tiếp bằng tiếng Anh, khá rõ ràng, rành mạch. Còn ông Đổng Quân, bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc nói tiếng Trung khi đọc diễn văn và cử tọa chỉ nghe lời phiên dịch. Tương tự, ông cũng trả lời các câu hỏi qua phiên dịch nên giảm đi nhiều tính tương tác.

    Báo Singapore, tờ Strait Times bình luận rằng đoàn các tướng tá Trung Quốc dự Shangri-La khá đông nhưng cách thức họ chọn để đưa ra thông điệp của mình lại là như sau: Sau khi các bộ trưởng Philippines và Hoa Kỳ phát biểu thì có sĩ quan cao cấp của Trung Quốc đứng lên đặt câu hỏi bằng tiếng Anh, thách thức quan điểm của Mỹ, của Philippines, nhưng sau đó, theo tờ báo Singapore mô tả, các tướng Trung Quốc ra gặp các nhà báo để nói rõ hơn rằng tiếng Trung, tiếng mẹ đẻ của họ, để giải thích rộng hơn, đầy đủ hơn góc nhìn của họ về Philippines, về Đài Loan.

    Theo tờ Singapore thì đoàn Trung Quốc đã có các cuộc briefing, nói với báo giới nhiều nhất trong số các đoàn quốc phòng tới Hội nghị Shangri-La. Nhật báo Singapore cũng cho biết phát biểu của tướng Trung Quốc cần phải xin ý kiến từ Quân ủy Trung ương ở Bắc Kinh rồi mới nói, nên phái đoàn Trung Quốc không có được tính linh hoạt như các đoàn khác.

    Ngay cả bộ trưởng Quốc Phòng Đổng Quân cũng có vẻ không quen trả lời chất vấn trực tiếp (live) vì ở Trung Quốc phóng viên phải nộp câu hỏi trước, nên màn đối thoại của ông không trôi chảy. Có những chỗ ông Đổng không trả lời câu hỏi mà nói chung chung theo sách của Đảng Cộng sản về Đài Loan. Như thế, ấn tượng về đoàn Trung Quốc với báo chí không giống như người ta thấy với các đoàn khác, vốn quen với ngôn ngữ tiếng Anh của Hội nghị Shangri-La.

    Diễn đàn năm nay đặc biệt có sự tham dự của tổng thống Ukraina. Bài phát biểu của ông được đón nhận thế nào và có ý nghĩa gì cho diễn đàn năm nay ? Theo quan sát của anh, ông Zelensky tìm kiếm điều gì tại Shangri-La năm nay ?

    Nguyễn Giang : Tôi xem trên truyền hình thì thấy đúng ra là ông Volodymyr Zelensky đọc tiếng Anh từ một bản soạn sẵn và có vẻ đọc không trôi chảy, vì thế nghe không thuyết phục lắm. Dù được chào đón nồng hậu bởi giới chức Singapore, nước có quan điểm hoàn toàn ủng hộ Ukraina trong cuộc đối đầu với Nga, ông Zelensky có lẽ không thuyết phục được sự ủng hộ toàn bộ của các nước, tới dự Shangri-La năm nay về sáng kiến Hội nghị Hòa bình cho Ukraine ở Thụy Sĩ vào tháng Sáu này.

    Điều rõ ràng là Trung Quốc đã nói sẽ không dự hội nghị đó, và năm nay, không có đoàn Nga tới dự Diễn đàn Shangri-La. Khi ông Zelensky phát biểu, đoàn Trung Quốc đã bỏ đi không nghe và ông đã nói rằng với sự trợ giúp Nga đến từ Trung Quốc thì cuộc chiến sẽ không thể nào ngưng được. Ông Zelensky cũng không đạt được nguyện vọng tiếp xúc với các tướng lĩnh Trung Quốc. Điều này cho thấy vấn đề quan hệ Nga-Trung đã phần nào phủ bóng lên hội nghị năm nay.

    Cũng không rõ là ngoài Singapore thì các nước chủ chốt trong ASEAN như Indonesia, Malaysia có ủng hộ Ukraine hay không. Tổng thống mới đắc cử, chưa lên cầm quyền ở Indonesia, ông Prabowo Subianto, bản thân là một cựu tướng quân đội, thì dùng diễn đàn Shangri-La để nói về Gaza, chứ không nói về Ukraina.

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn TTV. Nguyễn Giang tại Singapore.

    15 min
  • Bầu cử Nghị Viện : Châu Âu trong tầm ngắm của các đảng cực hữu

    Từ ngày 06 – 09/06/2024, khoảng 450 triệu cử tri tại 27 nước được mời gọi bầu chọn mới 720 nghị sĩ cho một nhiệm kỳ 5 năm tại Nghị Viện Châu Âu. Nhiều cuộc thăm dò dự đoán các đảng cực hữu sẽ phát triển nhiều hơn và mạnh mẽ hơn nữa.

    Cũng theo những thăm dò trên, các đảng cực hữu như Tập Hợp Dân Tộc (RN) hay Chinh phục (Reconquete) tại Pháp, Fratelli d’Italia và Lega ở Ý, FPO tại Áo hay như Vlaams Belang tại vùng Flamand của Bỉ… còn dẫn đầu các ý định bỏ phiếu.

    Làm thế nào giải thích cho đà tiến này của các đảng cực hữu ở châu Âu ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà báo Alain Guillemoles, nhật báo Công giáo La Croix, chuyên trách về các vấn đề châu Âu.

    **********

    RFI Tiếng Việt : Trước hết, xin ông cho biết, xu hướng trên xác nhận một sự tiến triển đều đặn của cánh hữu cực đoan được ghi nhận từ cuộc bầu cử châu Âu năm 2014 và 2019 ?

    Alain Guillemoles : Đúng là có một sự gia tăng rõ nét các đảng cực hữu trên toàn châu Âu và điều gây ấn tượng là tại một số nước, trước hết, phe cực hữu đã lên cầm quyền trong khi đó cách nay năm năm, đó là điều không thể. Tôi nghĩ đến các nước Bắc Âu, vốn dĩ có truyền thống dân chủ - xã hội, khá hiếu hòa và ngày nay lại chứng kiến các đảng cực hữu phát triển mạnh mẽ, tham gia vào một số liên minh nhất định đang cầm quyền ở Phần Lan chẳng hạn, hay như ủng hộ chính phủ mà không cần tham gia như trường hợp Thụy Điển.

    Rồi chúng ta còn có các nước Nam Âu, ở đó, các đảng cực hữu trước đây không hề tồn tại như Bồ Đào Nha, thì phe này đã phát triển mạnh những năm tháng gần đây. Ví dụ như đảng Chega ở Bồ Đào Nha có thể có đến 18% phiếu bầu. Chỉ trong vài tháng mà họ đã phát triển mạnh. Tại Pháp cũng vậy, chúng ta biết là đảng Tập Hợp Dân Tộc đang dẫn đầu các thăm dò, gần như chiếm đến 1/3 ý định bỏ phiếu.

    Làm thế nào giải thích cho đà tiến mạnh mẽ này của các đảng cực hữu ?

    Alain Guillemoles : Theo tôi, có nhiều yếu tố giải thích vì sao chúng ta đi đến điểm này, nhưng điều chính yếu là vấn đề nhập cư, được hầu hết các đảng cực hữu cùng sử dụng để khơi dậy nỗi sợ hãi, lo lắng ở các cử tri, đẩy họ đi đến ủng hộ các đảng thường thể hiện mình như là bức tường thành chống dân nhập cư.

    Chúng ta biết rằng đây là một chủ đề được sử dụng khắp nơi, kể cả ở Mỹ. Chúng ta thấy rõ là Donald Trump cũng đang làm điều tương tự và đây là điều có tác dụng ở châu Âu trong bối cảnh có mối lo ngại về kinh tế, và mối lo này đã được bộc lộ sau đại dịch. Các hoạt động kinh tế đã có một giai đoạn sa sút và người ta lo sợ có những khó khăn lớn cũng như lạm phát gia tăng. Đấy là những điều đã tác động đến cử tri.

    Sau đó là bối cảnh cuộc chiến ở Ukraina cũng giải thích cho nỗi sợ này. Cử tri mong muốn được cảm thấy bảo vệ, cả về kinh tế lẫn quân sự. Điều đó còn giải thích việc một lượng lớn cử tri nhất định đang chuyển hương sang những đảng nào hiện thân cho trật tự và an ninh.

    Vào thời điểm khó khăn, lẽ đương nhiên là những phe cực đoan chiếm được sự ủng hộ. Tuy nhiên, vì sao ở đây người ta lại thấy sự trỗi dậy mạnh mẽ của các đảng cực hữu chứ không phải những đảng cực tả ?

    Alain Guillemoles : Quả thật, chúng ta thấy là ở tất cả các nước đều có sự phân cực rất lớn giữa những đảng ủng hộ châu Âu và những đảng bài châu Âu. Thật ra, các đảng cực tả cũng đang trỗi dậy, chẳng hạn như ở Pháp trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến đà gia tăng của phe cực tả.

    Trên thực tế, chúng ta có thể nói là phe cực hữu đã khôn khéo thể hiện như là một đảng đáng tôn trọng và có khả năng điều hành chính phủ, trong khi phe cực tả thì có thái độ phản đối các định chế, phản đối cách thức vận hành của những định chế đó, và do vậy đã mất đi phần nào uy tín.

    Hơn nữa, phe cực tả bị chia rẽ sâu sắc. Trường hợp của Pháp là khá đặc biệt. Nhưng tôi nghĩ rằng phe cực tả đã có được một sự tín nhiệm nhất định ở châu Âu trong những năm 1970, 1980, và chúng ta hiện đang trong một chu kỳ mà phe cực hữu đang hưởng lợi từ mối quan tâm của cử tri.

    Tổng cộng có khoảng 30 đảng cực hữu ứng cử trong cuộc bỏ phiếu lần này. Mặc dù có những điểm chung, nhưng những đảng này cũng bị chia rẽ theo nhiều trào lưu khác nhau ở châu Âu ?

    Alain Guillemoles : Đúng vậy. Thật ra là chẳng có gì đơn giản ở phe cực hữu cả. Trên thực tế, ít nhất có hai trào lưu cực hữu đối lập nhau không những tại cấp độ châu Âu mà ở cả từng nước. Chẳng hạn như ở Pháp có nhiều đảng cực hữu  - đảng của ông Eric Zemmour hay đảng của bà Marine Le Pen – nhưng họ không trong cùng một nhóm nghị sĩ ở Nghị Viện Châu Âu.

    Một phần phe cực hữu nằm trong nhóm phe Bảo thủ và Cải cách châu Âu – CRE. Đối với Pháp, đảng của ông Eric Zemmour nằm trong nhóm này. Đổi lại, bà Marine Le Pen tham gia một nhóm khác ở Nghị Viện, được gọi là ID, tên viết tắt của Bản sắc và Dân chủ (Identité et Démocratie).

    Tại sao họ bị chia rẽ ư ? Suy cho cùng họ có nhiều điểm đối lập nhau. Trước hết, họ có cách giải thích về kinh tế không hoàn toàn giống nhau nếu chúng ta nhìn vào chương trình tranh cử của bà Marine Le Pen trên phương diện kinh tế. Bà ấy vay mượn rất nhiều từ chương trình của phe cực tả. Các ý tưởng của bà mang hơi hướng chủ nghĩa kinh tế nhà nước. Bà muốn có nhiều biện pháp xã hội và sự can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước vào nền kinh tế.

    Trong khi đó, các đảng cực hữu thuộc nhóm CRE – Những người Bảo thủ và Cải cách châu Âu – thì ngược lại, chủ trương tự do mậu dịch nhiều hơn và muốn giảm bớt vai trò cũng như sự can thiệp của nhà nước trong kinh tế.

    Tiếp đến là lập trường của họ về tình hình quốc tế. Điểm khác biệt lớn giữa hai trào lưu cực hữu này là các đảng thuộc nhóm CRE chủ trương ủng hộ quan hệ xuyên Đại Tây Dương, khá bám chặt vào phe phương Tây, và tỏ ra kiên quyết ủng hộ Ukraina. Ngược lại, những đảng thuộc nhóm ID tỏ ra thấu hiểu cho Nga, mong muốn ngưng trừng phạt Nga và không muốn hỗ trợ Ukraina. Đây thực sự là điểm chia rẽ lớn giữa các nhóm đảng cực hữu.

    Liệu sự trỗi dậy mạnh mẽ của phe cực hữu có thể gây trở ngại cho thế thống trị của cánh hữu truyền thống ở Nghị Viện ?

    Alain Guillemoles : Có và Không. Chúng ta lấy Đức làm ví dụ. Đức là nước có nhiều nghị sĩ nhất tại Nghị Viện châu Âu. Đảng cánh hữu Liên minh Dân chủ Kitô giáo Đức CDU rất có thể sẽ thắng lớn trong cuộc bầu cử Nghị Viện sắp tới. Bởi vì, đảng này trong thế đối đầu với phe cực hữu, đã được phát triển mạnh nhưng nay bị chững lại do một số vụ bê bối tại Đức có liên quan đến người lãnh đạo phe cực hữu. Rồi người dân Đức cũng nhận thức được rủi ro mà phe này mang lại và do vậy phe cực hữu đang bị thụt lùi.

    Tình hình khác nhau tùy theo từng nước, và do vậy khó có được một cách diễn giải ở cấp độ châu Âu bởi vì mỗi nước đều thấy được một chút những gì đang diễn ra ở đất nước của họ. Nhưng nếu thử nhìn bao quát ở quy mô châu Âu, và dựa theo các thăm dò, chúng ta có thể nói rằng phe cánh hữu vẫn sẽ thống trị nghị trường châu Âu, nhưng theo sau là các đảng cực hữu tiếp tục đà tiến.

    Theo dự báo, các đảng cực hữu sẽ chiếm được 25% số ghế trong Nghị Viện. Một tỷ lệ khá lớn ngay cả khi phe cực hữu bị chia rẽ như đã giải thích. Phe này có nhiều khả năng giành được nhiều thế mạnh hơn và do vậy có thể gây áp lực mạnh dù rằng nhóm đảng hàng đầu vẫn là phe cánh hữu truyền thống.

    Còn ở Pháp, cánh hữu truyền thống có nguy cơ bị thoái lui rất mạnh. Điều này chẳng có gì mới cả, đó là những gì chúng ta đã thấy từ nhiều năm qua. Cánh hữu truyền thống bị thụt lùi rất nhiều và cuộc bầu cử châu Âu sẽ phải xác nhận hiện tượng này.

    Phe cực hữu hiện diện đông đảo hơn và mạnh hơn ở Nghị Viện Châu Âu sẽ có tác động ra sao đối với các chính sách hay việc ra quyết định của Liên Âu ?

    Alain Guillemoles : Điều này còn phụ thuộc vào kết quả bầu cử, khó thể dự đoán trước. Nhiều kịch bản có thể xảy ra ngay ngày hôm sau cuộc bỏ phiếu. Kết quả bỏ phiếu sẽ có những hệ quả nếu chúng xác nhận rằng phe cực hữu có số phiếu rất cao và như vậy có khả năng tiến tới tái cơ cấu đa số trong Nghị Viện Châu Âu. Theo kịch bản này, cánh hữu và một bộ phận phe cực hữu, nhóm CRE, sẽ lập một liên minh và điều đó sẽ có nhiều hệ quả cụ thể trên một số chính sách nhất định của châu Âu.

    Đầu tiên, chính sách di dân sẽ nghiêm ngặt hơn, cứng rắn hơn. Nhiều biện pháp bổ sung sẽ được đưa ra để khép chặt hơn cửa biên giới đối với bất kỳ hình thức di dân nào tại châu Âu. Đây sẽ là một hậu quả tức thì.

    Tiếp đến, chúng ta có thể dự đoán rằng các nỗ lực cho khí hậu sẽ bị chậm lại. Trong suốt 5 năm qua, một trong những nhiệm vụ lớn của châu Âu là thúc đẩy một chính sách chung về biến đổi khí hậu, đó là điều mà họ gọi là Thỏa thuận Xanh. Toàn bộ 70 văn bản lập pháp đã được Nghị Viện Châu Âu thông qua nhằm bảo đảm rằng châu Âu sẽ là lục địa trung hòa khí các – bon vào năm 2050. 

    Để thực hiện được điều này, một số lượng lớn các biện pháp đã được thông qua, và ngày nay những biện pháp này đang gây ra nhiều hậu quả ở châu Âu. Một bộ phận người dân rất bất bình do những hậu quả mà họ đang gánh chịu, đặc biệt là giới nông gia. Không ít các cuộc biểu tình đã diễn ra khắp nơi ở châu Âu do chính sách nông nghiệp của châu Âu ngày càng khắt khe hơn đối với các hoạt động sản xuất của họ.

    Nếu đa số Nghị Viện ngả sang hữu nhiều hơn, Nghị Viện Châu Âu, cơ quan hành pháp của châu Âu, sắp tới có khả năng sẽ ít khắt khe hơn với nông dân chẳng hạn và do vậy, hủy bỏ một số biện pháp nhất định đã được đưa ra nhằm hướng đến trung hòa khí các – bon vào năm 2025. Đây sẽ là những hậu quả rất cụ thể.

    Trong kịch bản này, chính sách hỗ trợ cho Ukraina có bị tác động ?

    Alain Guillemoles : Như tôi có giải thích, nhóm CRE rất ủng hộ cho việc viện trợ Ukraina, nên khó có thể hình dung rằng đa số mới ở nghị trường sẽ thay đổi chính sách về viện trợ cho Ukraina. Ngược lại, tôi nghĩ rằng, bối cảnh chiến tranh hai năm qua cho thấy vấn đề phòng thủ chung đã trở thành một chủ đề được chia sẻ rộng rãi tại châu Âu.

    Nếu như cách nay vài năm ít ai quan tâm đến chủ đề này, thì nay khác hẳn do bối cảnh kép : Đó là chiến tranh và triển vọng khả năng Donald Trump thắng cử ở Mỹ. Nếu ông Trump đắc cử, ông ấy rất có thể sẽ quyết định ít tích cực hơn trong việc hậu thuẫn châu Âu. Ông ấy có thể quyết định rút binh sĩ Mỹ, hiện đang trú đóng nhiều nơi tại châu Âu, về nước.

    Donald Trump cũng có thể nói rằng điều khoản số 5 của Hiệp ước NATO có thể sẽ không được áp dụng tự động. Điều khoản này dự trù hỗ trợ quân sự trong trường hợp một quốc gia thành viên bị tấn công. Tuyên bố như thế sẽ có nghĩa là NATO không còn có ích nữa. Đó là một kịch bản hơi cực đoan. Dù vậy, nếu chúng ta đặt mình trước triển vọng có khả năng xảy ra này, điều đó cũng đủ để đánh thức châu Âu và khuyến khích họ phải tự nhủ là « chúng ta phải làm gì đó để có thể tự bảo vệ mình khi không có Mỹ ».

    Nhận thức này được bộc lộ ở hầu hết mọi nơi ở châu Âu, chứ không riêng gì Pháp mà còn ở Đức nữa. Nước Đức cho đến hiện tại đã giao phó hoàn toàn vấn đề an ninh đất nước cho Mỹ, giờ họ cũng quyết định đầu tư nhiều hơn trong quốc phòng. Quả thật, có một sự thức tỉnh ở khắp nơi tại châu Âu về chủ đề này, và châu Âu đang đầu tư trong các ngành công nghiệp quốc phòng bởi vì điều họ quan tâm đầu tiên hiện nay là phải có một nền công nghiệp có khả năng sản xuất đủ vũ khí để tự vệ.

    Trong suốt nhiều năm, châu Âu đã không đầu tư nhiều trong lĩnh vực này và họ thấy rằng từ hai năm qua, tuy đã có sự thức tỉnh và hiện đang có những khoản đầu tư đáng kể cho quốc phòng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có thời gian. Hiện tại, người ta chưa thể thấy kết quả nhưng trong mọi trường hợp từ quan điểm chính trị, có một ý chí chính trị được chia sẻ rộng rãi.

    Do vậy, tôi nghĩ rằng, điều này có giá trị đối với các đảng, có thể nói là đi từ cánh tả ôn hòa, cánh trung, cánh hữu trung dung cho đến một phần phe cực hữu là nhóm CRE như tôi có nói. Có một sự đồng thuận khá rộng tại tất cả các nước và phần lớn các nhóm chính trị. Thế nên, tôi cho rằng việc hỗ trợ Ukraina vẫn sẽ được tiếp tục.

    Ông nhận định gì về sự trỗi dậy ngoạn mục của đảng Tập Hợp Dân Tộc ở Pháp những năm gần đây ?

    Alain Guillemoles : Tình hình ở Pháp hơi đặc biệt bởi vì từ bảy năm qua chúng ta có một lực lượng chính trị đột nhiên xuất hiện trên chính trường. Tôi xin nhắc lại đôi nét lịch sử. Trong quá khứ, chính trường Pháp bị phân hóa thành hai phe : Cánh hữu đối diện với cánh tả.

    Cánh hữu ôn hòa, vốn có mối liên kết với đảng mang tư tưởng tướng De Gaulle – giờ là đảng Những người Cộng hòa. Rồi bên kia là cánh tả trung dung, đảng Xã hội, luôn tìm cách thu hút lá phiếu từ cánh tả, thậm chí cả cánh cực tả để thi thoảng giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử. Phe tả ôn hòa và phe hữu ôn hòa đã thay phiên nhau cầm quyền trong nhiều thập niên.

    Rồi đột nhiên, một sự thay đổi lớn trong diện mạo chính trị Pháp. Một người cánh trung là ông Emmanuel Macron đã lên cầm quyền khi tuyên bố « Tôi muốn tập hợp cả những người bên hữu và bên tả », và thế là ông ấy đã thu hút cả cánh tả ôn hòa, cánh hữu ôn hòa và chiếm giữ cánh trung.

    Vậy còn lại ai để chống đối ông ấy ? Chỉ còn lại những phe cực đoan và như chúng ta thấy, sự trỗi dậy của đảng cực tả cũng như cực hữu, những đảng trở thành những lực lượng sau cùng có thể hiện thân cho đối trọng quyền lực.

    Theo năm tháng, phe khai thác tình hình này tốt nhất là các đảng cực hữu qua việc tận dụng tư cách là phe đối lập đáng tin cậy nhất, từng bước áp đặt và vượt lên từ cuộc bầu cử này đến cuộc bầu cử khác. Đây chính là tình huống ở Pháp, một tình huống khá đặc biệt cho Pháp, bởi vì chúng ta là nước duy nhất tại châu Âu được một người thuộc cánh trung lãnh đạo, một người đã khẳng định mong muốn tập hợp cả hữu lẫn tả và toàn bộ cánh trung, một trường lớn bộ phận cử tri đi từ cánh hữu ôn hòa cho đến cánh tả trung dung.

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà báo Alain Guillemoles, thuộc nhật báo La Croix .

    14 min
  • Phòng thủ chung: Châu Âu khó từ giã “người anh Cả” Hoa Kỳ

    Chiến tranh Ukraina sẽ đưa phòng thủ chung châu Âu đi về đâu? Việc Nga xâm lược Ukraina đã thúc đẩy các nước Liên Hiệp Châu Âu tăng cường hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, vốn dĩ là một đặc quyền của từng nước. Nguồn tài trợ cho quân sự trong khối cũng vì thế đã tăng mạnh trong hai năm từ 5,6 tỷ euro lên thành 17 tỷ. Tuy nhiên, tranh luận về chính sách phòng thủ chung châu Âu luôn dai dẳng khi mà vũ khí Mỹ vẫn chiếm ưu thế tại châu Âu.

    Thượng đỉnh Saint-Malo 1998 : Nền tảng thực sự

    Ngược dòng thời gian, Hiệp ước Maastricht năm 1992 đánh dấu sự ra đời một chính sách đối ngoại và an ninh chung (PESC), trong đó bao gồm cả chính sách an ninh và phòng thủ châu Âu (PESD). Tuy nhiên, theo ông Philippe Setton, cựu chánh văn phòng chuyên trách về Liên Hiệp Châu Âu của bộ Ngoại Giao Pháp, hiện là đại sứ Pháp tại Tokyo, thượng đỉnh Anh – Pháp ngày 03-04/12/1998 ở Saint Malo (miền bắc nước Pháp) là nền tảng thực sự cho phòng thủ chung châu Âu.

    Tổng thống Pháp Jacques Chirac trong cuộc họp báo chung với thủ tướng Anh thời bấy giờ là Tony Blair có tuyên bố : « Vào thời điểm thực hiện hiệp ước Amsterdam, thách thức lớn sắp tới chính là sự khẳng định của Liên Hiệp Châu Âu trên trường quốc tế thông qua một chính sách đối ngoại thật sự và một nền phòng thủ mà châu Âu có khả năng tự thực hiện khi cần thiết. »

    Cũng theo giải thích của ông Philippe Setton, trong kỳ thượng đỉnh đó, giới chức Anh Quốc đã chấp nhận ý tưởng phát triển một hệ thống phòng thủ châu Âu trong khuôn khổ Liên Hiệp Châu Âu. Nhà ngoại giao này không quên nhắc rằng phòng thủ châu Âu là chủ đề muôn thuở trong các phát biểu chính trị tại Pháp.

    « Điều mà họ muốn, trước hết là kéo dài tham vọng dự án châu Âu thông qua lĩnh vực quốc phòng. Đó cũng là vì Pháp muốn tận dụng sự tán đồng của Anh và nói chung, là tận dụng sự đồng ý của Mỹ, đặc biệt là chính quyền tổng thống Bill Clinton thuộc đảng Dân chủ. Tổng thống Mỹ đã tán đồng, hay ít ra là có một quan điểm khá khoan dung về việc phát triển một trụ cột châu Âu. »

    Những công cụ tài chính và pháp lý

    Hiệp ước Lisboa năm 2007 có chính sách về an ninh và phòng thủ chung (PSDC), quy định điều khoản bảo vệ lẫn nhau và cho phép hành động chung. Việc Nga sáp nhập bán đảo Crimée năm 2014, rồi các cuộc tấn công khủng bố tại Pháp, Bỉ và Đức trong các năm 2015 và 2016, đánh dấu một bước chuyển lớn đầu tiên. Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu lúc bấy giờ là Jean-Claude Junker đề nghị thành lập một quỹ châu Âu cho phòng thủ, kích hoạt nghiên cứu và cách tân trong ngành công nghiệp quốc phòng châu Âu nhằm xây dựng một nền phòng thủ châu Âu vững chắc.

    « Kể từ đó, công nghiệp vũ khí và nghiên cứu là những năng lực vượt ngoài khuôn khổ quốc gia, phòng thủ châu Âu sẽ phát triển ngoài PSDC, vốn dĩ thuộc phạm trù liên chính phủ. Phòng thủ châu Âu giờ thuộc về thẩm quyền Ủy Ban và Nghị Viện Châu Âu thông qua ngành công nghiệp, nghiên cứu, thị trường nội địa và mua sắm công », theo như giải thích của nhà nghiên cứu Elsa Bernard, giáo sư về Luật công, Đại học Lille, với kênh truyền hình quốc tế Pháp France 24.

    Từ năm 2019, Liên Âu lần lượt có các công cụ để xúc tiến chính sách phòng thủ như thành lập Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Không gian (DEFIS), Quỹ Châu Âu về Quốc phòng (FED) ra đời năm 2021 với một nguồn ngân sách là 9,4 tỷ euro (giai đoạn 2021 – 2027) ; Quỹ Hòa bình Châu Âu (FEP) năm 2021 mà ngân sách ban đầu là 5,6 tỷ nay được nâng lên thành 17 tỷ euro.

    Chiến tranh Ukraina bùng phát là một bước ngoặt lớn cho phòng thủ chung châu Âu. Xung đột còn khẳng định hơn nữa nhận thức về lỗ hổng công nghiệp và công nghệ quốc phòng của khối. Tháng 3/2022, khối 27 nước thành viên công bố « la bàn chiến lược », ghi nhận sự cần thiết của việc « tăng cường tự chủ chiến lược của châu Âu ».

    Năm 2023, Liên Âu thông qua hai quy định : EDIRPA, khuyến khích mua sắm chung trong lĩnh vực quốc phòng và ASAP, xúc tiến sản xuất đạn pháo, tên lửa bằng chính ngành công nghiệp quốc phòng châu Âu. Một năm sau, tháng 3/2024, Ủy Ban Châu Âu đưa ra quy định mới EDIP, kèm theo một « chiến lược công nghiệp châu Âu về phòng thủ » (EDIS) nhằm « đầu tư nhiều hơn, tốt hơn, cùng nhau và tại châu Âu ». Do vậy, các cuộc đàm phán cho ngân sách 2028-2035 sẽ là thách thức to lớn, mang tính quyết định cho Nghị Viện Châu Âu mới, theo như nhận định của nhà nghiên cứu Elsa Bernard với France 24.

    Thế mạnh vũ khí của Mỹ

    Liệu rằng với những công cụ tài chính và pháp lý này, châu Âu có thể đạt được mục tiêu đề ra là một nửa hệ thống quốc phòng được mua tại châu Âu, và chấm dứt tình trạng nghịch lý là 2/3 sản xuất trang thiết bị quân sự châu Âu được xuất khẩu ra ngoài khu vực và 2/3 trang thiết bị quốc phòng của các nước thành viên Liên Âu là nhập khẩu từ bên ngoài ? Đây chính là những điểm khúc mắc gây trở ngại cho việc thiết lập một hệ thống phòng thủ chung.

    Ngay khi chiến tranh Ukraina bùng nổ, thủ tướng Đức Olaf Scholz thông báo tăng ngân sách quốc phòng và đặt mua 35 chiếc F-35 của Mỹ. Mới đây nhất là Ba Lan, ngày 27/05/2024, tuyên bố mua tên lửa hành trình tầm xa của Mỹ với tổng trị giá hợp đồng là 667 triệu euro để tăng cường năng lực phòng thủ, đối phó mối đe dọa Nga. Theo ông Peter Wezeman, chuyên gia về vũ khí tại Viện Nghiên cứu về Hòa bình (SIPRI) ở Stockholm, sự việc cho thấy ngành công nghiệp vũ khí trên thế giới vẫn « do Mỹ thống trị » (Les Echos ngày 23/11/2023).

    Điều này thể hiện rõ trên bảng sắp hạng các hãng vũ khí lớn trên thế giới. Các tập đoàn vũ khí lớn của Mỹ chiếm các vị trí đầu bảng, tiếp theo là Trung Quốc, trong khi các hãng lớn tại châu Âu bắt đầu từ thứ hạng 11 trở đi. Thế mạnh này của Mỹ được giải thích bởi chiến lược sáp nhập các doanh nghiệp vũ khí trong những năm 1990 – 2000, hình thành 5 đại tập đoàn hiện nay là General Dynamics, Boeing, Lockheed Martin, Northrop Grumman và Raytheon.

    Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Jean-Pierre Maulny, trợ lý giám đốc Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), với nhật báo kinh tế Les Echos, Hoa Kỳ còn có một công cụ khác rất hiệu quả, viết tắt là FMS, để có thể thực hiện nhanh chóng các hợp đồng bán vũ khí cho các nước khác:

    « Hoa Kỳ có thể bán vũ khí từ chính phủ cho chính phủ nhờ vào cơ chế Bán hàng Quân sự Nước ngoài (Foreign Military Sales – FMS), chứ không phải doanh nghiệp sẽ đi bán. Trên thực tế, chính phủ Mỹ sẽ trực tiếp trích từ kho dự trữ thiết bị để cung cấp cho châu Âu, trong khi ở hệ thống châu Âu, chúng ta có cơ chế được gọi là quy định về thị trường quốc phòng và an ninh, khiến hệ thống mua bị chậm lại. »

    Nếu khả năng giao hàng nhanh, nguồn dự trữ lớn là những nguyên nhân đầu tiên giải thích cho sự lệ thuộc của châu Âu vào nguồn cung vũ khí từ Mỹ, thì yếu tố chính trị giữ một vai trò không nhỏ. Tháng 6/2020, phát biểu tại Học viện Quân sự West Point (New York), tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Donald Trump có tuyên bố : « Chúng ta không phải là hiến binh của thế giới ».

    Washington thông báo muốn giảm đáng kể phần đóng góp của Mỹ cho ngân sách của NATO và châu Âu đã thấu hiểu thông điệp đưa ra, theo như nhận định của Jean-Pierre Maulny: « Về cơ bản, theo một cách nào đó, người ta đang mua sự bảo hộ của Mỹ cũng do bởi một bộ phận người dân châu Âu vẫn lo sợ rằng Mỹ sẽ rút khỏi châu Âu, bởi vì đối với Mỹ, kẻ thù của họ, đối thủ cạnh tranh của họ không phải là Nga, mà chính là Trung Quốc. »

    Những rào cản, đối thủ cạnh tranh khác

    Châu Âu không có hệ thống phòng thủ chung còn là vì mỗi nước có một nền công nghiệp riêng, vốn được nhà nước bảo hộ thông qua các hợp đồng mua sắm vũ khí, do vậy rất có ít sự cạnh tranh giữa những doanh nghiệp trong khối. Cũng theo vị trợ lý giám đốc IRIS, có rất ít sự phối hợp giữa các hãng sản xuất vũ khí. Theo ông, số doanh nghiệp sản xuất xe bọc thép còn nhiều hơn cả số các hãng sản xuất xe ô tô.

    « Nguy cơ cạnh tranh giữa các công ty luôn hiện hữu. Những tập đoàn này trong quá trình thực hiện hợp tác sẽ tỏ ra thận trọng, không muốn trao đổi về công nghệ, tìm cách tranh giành phân phối công nghiệp. Nếu có một sự hợp tác, đó chẳng qua là hợp tác giữa các công ty, còn sự hợp tác giữa các công ty vũ khí chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi nào có hai công ty sáp nhập thành một. »

    Tất cả những khó khăn trên cũng không đồng nghĩa với việc không có sự hợp tác nào giữa các nước thành viên. Châu Âu có nhiều chương trình hợp tác sản xuất vũ khí chung từ cuối những năm 1990, đầu năm 2000, nhưng để đi đến hiện thực lại tốn quá nhiều thời gian, như trường hợp của chuyên cơ vận tải A400M, có thể di chuyển quân, hậu cần, thả dù binh sĩ và trang thiết bị, cũng như  tiếp tế trên không.

    Jean-Pierre Maulny nhắc lại từ khi bắt đầu có những thông số kỹ thuật đầu tiên cho đến khi đưa ra thị trường, chương trình sản xuất A400M mất đến 20 năm, một quãng thời gian quá lâu. Ngoài Hoa Kỳ, nhiều nước khác cũng bắt đầu dòm ngó đến thị trường vũ khí châu Âu như Hàn Quốc chẳng hạn.

    Theo các số liệu mới nhất, trong quãng thời gian có ba năm 2020-2022, một mình Hàn Quốc chiếm đến hơn 10% sức mua vũ khí của Liên Hiệp Châu Âu, đạt doanh thu từ 3 tỷ lên thành 15 tỷ, trong khi trong khối Pháp cũng là một nhà xuất khẩu vũ khí lớn, đứng sau Mỹ và Nga.

    Tương lai phòng thủ chung châu Âu sẽ đi về đâu ? Trong khi chờ lời giải đáp, nhiều dự án mới đang hình thành như hợp tác Pháp – Đức cho thế hệ xe tăng đời mới MGCS, sử dụng nhiều công nghệ tiên tiến, hay chương trình thiết kế chung chiến đấu cơ SCAF cho năm 2045, nhờ vào hỗ trợ từ quỹ 7,9 tỷ euro của Liên Âu.

    Câu hỏi đặt ra : Cái giá có được của việc biến những dự án trên thành hiện thực là một sự độc lập cho phòng thủ. Liệu châu Âu có can đảm đánh đổi ? Một điều chắc chắn: Phòng thủ châu Âu là một trong bốn chủ đề tranh luận chính cho kỳ bầu cử Nghị Viện Châu Âu 06-09/06/2024 !

    12 min
  • Bạo động tại Nouvelle-Caledonie: Hệ quả của tiến trình phi thực dân hóa chưa hoàn tất

    Những vụ bạo động bùng phát tại Nouvelle – Calédonie từ hôm 13/05/2024 buộc Paris phải ban hành tình trạng khẩn cấp và điều quân đội để tái lập trật tự. Dự án cải tổ Hiến pháp mở rộng thành phần cử tri được cho nguyên nhân chính. Nhưng đối với nhiều nhà quan sát, Nouvelle – Calédonie đang gánh chịu những « vết thương cũ chưa lành từ thời thuộc địa ».

    Nằm ở vùng Nam Thái Bình Dương, cách nước Pháp đến hơn 16 ngàn km, Nouvelle – Calédonie mang một số phận gần giống với Việt Nam : Cùng trở thành thuộc địa Pháp dưới thời hoàng đế Napoléon III. Nhưng theo nhà nhân chủng học Michel Naepels1, Nouvelle – Calédonie là một « thuộc địa không giống như bao thuộc địa khác ».

    Từ định cư tù nhân đến định cư tự do

    Ngược dòng lịch sử, ngoài yêu cầu của các nhà truyền giáo Công Giáo, một trong những mục đích ban đầu của việc xâm chiếm quần đảo Nouvelle – Calédonie ngày 24/09/1853 là nhằm đảm bảo sự hiện diện của hải quân Pháp tại Thái Bình Dương trước thế thống trị của người Anh, vốn đã có mặt tại Úc và New Zealand.

    Nhưng khi biến Nouvelle – Calédonie bị biến thành thuộc địa hình sự ngoài biển thứ hai của đế quốc Pháp, sau Guyanne, vào năm 1863, số phận của Viên Sỏi, cách gọi khác của Nouvelle - Calédonie, xem như đã được định đoạt : Quần đảo này sẽ là thuộc địa định cư của Pháp.

    Theo thống kê, trong giai đoạn từ năm 1864 – 1897, gần 30 ngàn tù hình sự hay chính trị đã bị đày đến Nouvelle – Calédonie. Nhưng đến những năm cuối thế kỷ XIX, chính sách thuộc địa của Pháp tại Nouvelle – Calédonie có sự chuyển hướng : Từ định cư tù nhân chuyển sang định cư tự do.

    Nouvelle – Calédonie trở thành miền đất hứa cho những ai muốn tìm kiếm vận may đến mở trang trại chăn nuôi nhờ vào nguồn nhân công Kanak và Gia-va giá rẻ, hay hoạt động trong lĩnh vực khai thác mỏ, sử dụng chủ yếu nguồn lao động đến từ Việt Nam.

    Kế hoạch định cư nông thôn thuộc địa này dẫn đến việc tước quyền sở hữu hàng loạt của người Kanak ở đảo chính Grande Terre. Và nhất là việc thiết lập các khu bảo tồn các nhóm mà thực dân Pháp chỉ định là « bộ lạc » đã khiến người Kanak, dân bản địa đến sống tại Nouvelle - Calédonie từ hơn 3000 năm trước, trong một thời gian dài chịu cảnh giam hãm và bị đối xử phân biệt sắc tộc.   

    Sự hiện diện của người châu Âu và chính sách thuộc địa của Pháp đã làm cho dân số Kanak giảm mạnh từ 75-95% trong giai đoạn từ 1774 – năm James Cook phát hiện quần đảo – và 1920, do bệnh tật người châu Âu mang đến. Riêng trong giai đoạn 1853 – 1920, dân số Kanak giảm đến một nửa từ 55 ngàn người xuống còn 27 ngàn dân.

    Không giống như Việt Nam, giành được độc lập vào năm 1954 sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Nouvelle – Calédonie trở thành lãnh thổ hải ngoại Pháp từ năm 1946 với lời hứa được trao thêm quyền tự chủ. Tất cả các quy định phân biệt đối xử đối với người Kanak được hủy bỏ.

    Dù vậy, việc chính thức trở thành công dân Pháp hoàn toàn từ năm 1957 đã không giúp cải thiện điều kiện sống của người Kanak, do gánh nặng quá khứ thuộc địa là vô cùng lớn. Mối quan hệ giữa người Kanak hiện nay, chiếm đến 40% dân số, với hậu duệ những người di cư thuộc địa và tù nhân – còn được gọi là Caldoche (chiếm khoảng 25%) chưa bao giờ êm thắm. Nouvelle - Calédonie bị giằng xé giữa hai phe, những người Kanak đòi độc lập với phong trào Mặt trận Giải phóng Dân tộc Kanak và Xã hội (FLNKS) và phe chủ trương trung thành với chính phủ Pháp.

    Theo giới quan sát, cuộc xung đột hiện nay tại Nouvelle – Calédonie cho thấy quá trình phi thuộc địa hóa đã bị khép lại một cách tồi tệ, mà cột mốc khởi đầu cho quá trình này là thỏa thuận Matignon được ký kết 1988 giữa ông Jean-Marie Tjibaou, lãnh đạo FLNKS và Jacques Lafleur, lãnh đạo phe trung thành với mẫu quốc Pháp, dưới sự chủ trì của thủ tướng Michel Rocard sau bốn năm gần như nội chiến đẫm máu. Một thỏa thuận cho phép tái cân bằng kinh tế, đào tạo chuyên viên người Kanak… đã khiến lãnh đạo FLNKS, Jean-Marie Tjibaou trả giá đắt bằng chính sinh mạng của ông một năm sau đó.

    Thành phần cử tri : Cuộc đọ sức gay gắt giữa Kanak và Caldoche

    Phải chăng tổng thống Macron đang lặp lại sai lầm của chính phủ Pháp trong những năm 1980 tìm cách áp đặt một quy chế mới cho quần đảo Nam Thái Bình Dương, nhưng bị phe đòi độc lập phản đối mạnh mẽ ? Việc ông Macron kiên quyết thông qua cải cách thành phần cử tri đã bị người Kanak chỉ trích là một nỗ lực tái thuộc địa, vi phạm tinh thần thỏa thuận Nouméa được ký năm 1998 dưới sự chủ trì của thủ tướng Lionel Jospin.

    Văn bản này quy định việc thành lập hai thành phần cử tri đặc biệt tại Nouvelle – Calédonie. Thứ nhất, đối với tất cả các cuộc bầu cử lớn như bầu cử tổng thống, bầu cử châu Âu, chính quyền xã …, tất cả các cư dân trên đảo được bảo đảm toàn vẹn quyền hạn công dân. Thành phần thứ hai hạn hẹp hơn chỉ áp dụng cho bầu cử cấp tỉnh và Nghị viện (Congrès) Nouvelle - Calédonie. Theo đó, chỉ có những người định cư ở đảo trên 10 năm và tính từ năm 1998 mới được quyền tham gia bầu cử. Điều này có nghĩa là khoảng 1/5 số người sinh sống tại Nouvelle – Calédonie hiện nay không được quyền tham gia bầu cử chính quyền tỉnh và cơ quan hành pháp của Nouvelle – Calédonie.

    Đối chiếu với nguyên tắc lá phiếu phổ thông, quy định hạn chế thành phần cử tri trong thỏa thuận là một sự phá lệ cho Nouvelle – Calédonie. Sự phá lệ này chỉ mang tính tạm thời và chuyển tiếp, theo yêu cầu của phe đòi độc lập đại diện cho người bản địa Kanak. Những người này muốn hạn chế sức ép cử tri đến từ mẫu quốc và nhiều đảo khác của Pháp ở Thái Bình Dương, nhất là từ Wallis và Futuna, vốn dĩ chống đối độc lập.

    Theo đánh giá từ nhà báo độc lập Joseph Confavreux, cộng tác với trang mạng Médiapart, văn bản Nouméa là một trong số thỏa thuận tốt nhất của nền Cộng Hòa Pháp. Trên đài phát thanh France Culture, ông giải thích :

    « Đây cũng là văn bản đầu tiên Cộng hòa Pháp thừa nhận thực tế thuộc địa, nhưng nói rằng “đã đến lúc phải thừa nhận những bóng đen của thời kỳ thuộc địa, ngay cả khi nó không thiếu ánh sáng”. Nghĩa là, người ta không có ý định ném một trong hai dân tộc, dù là người bản địa hay người đến từ Pháp quốc, xuống biển. Chúng ta thực sự có ý tưởng xây dựng những điều kiện cho một vận mệnh chung. Nhưng điều này đòi hỏi thời gian, sự nhạy cảm, một cuộc đối thoại, không may đã bị sụp đổ trong những tuần gần đây, thậm chí trong những tháng gần đây. »

    Ba cuộc trưng cầu dân ý

    Đối với phe trung thành, việc đóng băng thành phần cử tri ngày nay không còn ý nghĩa do việc chọn lựa độc lập đã bị từ chối trong ba lần bỏ phiếu trưng cầu dân ý : 2018 (56,7%), 2020 (53,3%) và 2021 (96,50% nói Không nhưng tỷ lệ tham gia bầu cử là chưa đến 50%). Theo lập luận của phe trung thành, giai đoạn chuyển tiếp mà thỏa thuận Nouméa mở ra đã khép lại.

    Đây cũng là điểm mà chính phủ tổng thống Macron bị chỉ trích mạnh mẽ. Thỏa thuận Nouméa năm 1998 dự trù tổ chức trưng cầu dân ý về quyền tự quyết cho hòn đảo. Trong khuổn khổ thỏa thuận, đôi bên đồng ý tổ chức cuộc bỏ phiếu đầu tiên vào năm 2018 và nếu sau hai lần nói « Không », một cuộc bỏ phiếu lần ba sẽ được tiến hành. Các cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức theo nhịp hai năm một kỳ.

    Tuy nhiên, vào tháng 2/2021, bộ trưởng phụ trách các vùng lãnh thổ Hải ngoại lúc bấy giờ là ông Sebastien Lecornu, giờ là bộ trưởng Quân Lực Pháp, đã thông báo cuộc tham vấn lần ba diễn ra ngày 12/12/2021, bất chấp lời hứa của thủ tướng Edouard Philippe không tổ chức bỏ phiếu trong giai đoạn giữa tháng 9/2021 và cuối tháng 8/2022.

    Sự thiếu vắng đồng thuận này đã dẫn đến quyết định tẩy chay của phe đòi độc lập, vốn dĩ đã đề nghị hoãn bỏ phiếu vì lý do dịch bệnh Covid-19. Người Kanak hứng chịu nhiều thiệt hại nhân mạng và đang trong mùa tang lễ theo tập tục. Nhưng đề nghị này đã bị Paris bác bỏ.

    Trả lời báo 20 Minutes ngày 11/12/2021, ông Mathias Chauchat, giáo sư luật công trường đại học Nouvelle – Calédonie, cho rằng thái độ cứng rắn của Paris là một sai lầm khi « tổ chức tham vấn về quyền tự quyết của đất nước mà không có sự tham dự của người dân thuộc địa ». Do vậy, cuộc trưng cầu dân ý này là vô nghĩa.

    Cũng theo giải thích của ông, cuộc trưng cầu dân ý diễn ra vào một thời điểm tế nhị cho phe trung thành : « Nouvelle – Calédonie đang mất từ 2000-3000 dân châu Âu mỗi năm vào thời điểm này, trong khi ngược lại, người Kanak ghi nhận có thêm từ 3000-4000 cử tri mới mỗi năm nhờ vào dân số trẻ, đang dần dần đến tuổi bỏ phiếu. »

    Paris đánh giá thấp tầm quan trọng của hồ sơ

    Giờ đây, dưới sức ép của phe trung thành, chính phủ Pháp kiên quyết bằng mọi giá sửa đổi Hiến pháp, mở rộng thêm thành phần cử tri bất chấp các cảnh báo, khi vẫn duy trì thời hạn 10 năm định cư, nhưng tính từ năm 2014 so với yêu cầu từ năm 1998 trong thỏa thuận Nouméa.

    Cải cách dự trù sẽ có hiệu lực cho cuộc bầu cử cấp tỉnh sắp tới, ban đầu được dự kiến vào tháng 5/2024, nhưng nay đã bị hoãn. Nhưng đối với phe đòi độc lập, hành động này của chính quyền trung ương là một lời « tuyên chiến », một hành động thiên vị, theo như phân tích từ nhà nhân chủng học Benoit Trepied trên đài RFI Pháp ngữ ngày 12/04/2024.

    « Cuộc cải cách này sẽ sửa đổi sâu sắc sự cân bằng bầu cử và nhân khẩu học của đất nước, vì biết rằng trên thực tế, ý nghĩa thực sự của sự hạn chế cử tri này là quá trình phi thực dân hóa đang diễn ra ở Nouvelle - Calédonie. Nghĩa là, vì Nouvelle - Calédonie là một thuộc địa định cư và vẫn còn như thế ở một số khía cạnh nhất định, nên dân số bản địa thuộc địa chỉ chiếm thiểu số.

    Và do vậy, kết quả của các cuộc đàm phán chính trị, của các cuộc đối đầu, v.v., là chúng ta hạn chế thành phần cử tri sao cho người dân bản địa không bị nhấn chìm trong dòng cử tri, mà còn có thể chia sẻ quyền tự quyết của mình với những người đã ở đó từ lâu, người Calédonie. Chính vì điều này mà người ta đã lập ra một dự án công dân Nouvelle - Calédonie. Nhưng tất cả những điều này đang gặp vấn đề do mong muốn thay đổi thành phần cử tri của chính phủ. »

    Ngoài ra, phe đòi độc lập còn chỉ trích chính phủ tổng thống Macron đã đánh giá thấp tầm mức của vụ việc khi giao quyền xử lý hồ sơ cho bộ trưởng Nội Vụ, thay vì là phủ thủ tướng như thông lệ. Romuald Pidjot, trợ lý thư ký cho Liên hiệp Cadolénie, trên đài France Culture giải thích :

    « Theo truyền thống, thủ tướng là người xử lý hồ sơ. Sự thay đổi này được coi là không tính đến tầm quan trọng của hồ sơ. Chúng tôi luôn nói rằng Nouvelle - Calédonie là một vấn đề phải được xử lý ở cấp độ luật pháp quốc tế. Vì vậy, người đối thoại của chúng tôi phải là thủ tướng. Khi chúng ta thay đổi người đối thoại này và đưa Bộ trưởng Nội vụ vào, điều đó giống như nói rằng Nouvelle - Calédonie là một vấn đề nội bộ. Nouvelle - Calédonie là lãnh thổ của Pháp. Và như vậy, chúng ta đang tiếp cận chủ đề này một cách rất tệ hại ».

    Bị chỉ trích là vừa « châm lửa đốt nhà vừa chữa cháy » từ phe đối lập, hay « nỗ lực tái thuộc địa Nouvelle – Calédonie » từ phe đòi độc lập, tổng thống Macron hôm 22/05/2024 đã bất ngờ công du Nouvelle – Calédonie. Làm thế nào nối lại đối thoại trong khi niềm tin đã tan vỡ ? Đây sẽ là một bài toán khó cho ông Macron !

    13 min
  • Công nhân châu Á : Động lực thúc đẩy ngành công nghiệp Hungary?

    Đằng sau những phát biểu mang nặng tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, thủ tướng Hungary Viktor Orban từ vài năm qua đã mở rộng cửa đón hàng ngàn « lao động khách mời » chủ yếu đến từ châu Á. Mục tiêu là nhằm thúc đẩy tham vọng của Hungary đi đầu trong lĩnh vực sản xuất bình điện và xe ô tô điện tại châu Âu.

    Từ năm 2019, Hungary đón tiếp nhiều dự án mở nhà xưởng từ các hãng sản xuất ô tô điện lớn trên thế giới như BMW của Đức hay CATL, BYD của Trung Quốc. Thủ tướng Viktor Orban muốn Hungary trở thành quốc gia đi đầu tại châu Âu trong lĩnh vực sản xuất bình điện và xe ô tô điện. Vì tham vọng công nghiệp này mà Budapest sẵn sàng chấp nhận nhiều nhượng bộ, hoặc trên bình diện ngoại giao, để giành lấy sự ưu ái từ Bắc Kinh, hoặc về thuế, để khuyến khích các công ty đa quốc gia đến lập cơ sở sản xuất.

    Vì lý do này mà thủ tướng Viktor Orban, tuy có lập trường bài di dân, hồi tháng 3/2024 thông báo Hungary sẵn sàng tiếp đón 500 ngàn lao động nước ngoài trong hai năm tới từ Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Philippines, Việt Nam, hay Mông Cổ, Indonesia…, phần đông là đến từ Đông Nam Á. Nhưng ở trong nước, thủ tướng Viktor Orban vẫn tuyên bố rằng tình trạng nhập cư là không tồn tại.

    Tuy nhiên, theo thông tín viên Hoàng Nguyễn từ Budapest, tên gọi “lao động khách” được truyền thông và công luận Hungary để tâm vài năm gần đây luôn là đề tài nóng trên báo chí và xã hội Hungary, thông qua việc chính quyền nước này mất cả năm nay để đưa ra những văn bản luật điều tiết sự hiện diện của lực lượng nhân công này. Gần đây nhất, đáng chú ý là thông tin tại một nhà máy sản xuất bình điện của chủ Hàn Quốc, hơn 600 “thợ khách” đột ngột bị sa thải, với lý do đơn giản là vì nhu cầu về xe điện trên toàn cầu đang giảm, không cần đến ngần ấy bình điện!

    Câu chuyện nói trên cho thấy hiện trạng bấp bênh của “lao động khách” - trong số đó có rất nhiều bà con Việt Nam - những người hầu như không có bất cứ tổ chức công đoàn nào bảo vệ lợi ích, chưa nói tới kiến thức về mọi mặt - trong đó có ngôn ngữ Hungary - nhiều khi là con số 0! Chính sách “nhập khẩu”  lao động đến từ quốc gia thứ ba của nội các Orbán Viktor trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế nước này, muốn biến Hungary thành trung tâm công nghiệp Châu Âu, là một chính sách có không ít rủi ro.

    Để hiểu rõ vấn đề này, RFI Tiếng Việt mời quý vị theo dõi phần giải thích từ thông tín viên Hoàng Nguyễn tại Budapest.

    --------- ********** ----------

    RFI Tiếng Việt : Tháng 3/2023, thủ tướng Orban tuyên bố có thể tiếp nhận đến 500 ngàn lao động nước ngoài trong vòng hai năm tới, chủ yếu đến từ các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, vào năm 2016, cũng chính ông Orban từng nói rằng "nền kinh tế Hung không cần dựa đến bất kỳ một di dân nào". Phải chăng sự quay ngoắt này của chính quyền Hung phản ảnh tình trạng thiếu nhân công tại Hungary?

    TTV Hoàng Nguyễn: Trước hết, cần nói rõ là khái niệm "lao động khách" được dùng thường xuyên trên báo chí, xã hội và các phát biểu của giới chính khách Hungary trong vòng hơn một năm nay, là ứng với nhân lực đến từ các quốc gia thứ ba ngoài Liên Âu, mà chủ yếu là Châu Á, trong đó có số lượng không nhỏ là từ Việt Nam. Việc tiếp nhận ồ ạt "lao động khách" như vậy là điều mới với Hungary từ gần 40 năm qua.

    Trái với nhiều quốc gia cựu Cộng sản khác trong vùng Trung Âu, dưới thời Cộng sản, Hungary chỉ nhận một lượng rất hạn chế lao động phổ thông từ các nước ngoài Châu Âu, trong đó có các nước "thân thiện" như Việt Nam, Cuba... "Tập quán" đó của nước này không thay đổi sau thời thay đổi thể chế 1989-1990, đặc biệt là trong nửa đầu của "triều đại Orbán Viktor" kéo dài 14 năm nay, khi nội các của ông coi di dân là "tội đồ".

    Còn nhớ, từ những năm 2015, khi bùng nổ vấn đề di dân và tỵ nạn ở Châu Âu, những khẩu hiệu như di dân sẽ cướp công ăn việc làm của người Hung, làm thay đổi phong tục tập quán, thành phần dân số của nước này - thậm chí đánh đồng di dân với tội phạm - tràn ngập nước Hung. Không chấp nhận di dân từ đó tới giờ là khẩu hiệu và phương châm tranh cử nhất quán của nội các Hungrary.

    Tuy nhiên, mọi sự thay đổi bất ngờ từ đôi ba năm gần đây, khi Hungary tuyên bố tái cấu trúc nền kinh tế, mở cửa cho các doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài vào đầu tư. "Lao động khách" được tuyển từng bước, đến mức dồn dập, kể từ mùa xuân năm ngoái, khi thủ tướng Orbán Viktor tuyên bố các dự án đầu tư mới được khởi động trong tương lai gần cần khoảng 500.000 lao động mới.

    Theo các chuyên gia lao động tại Hungary, nước này không hẳn là thiếu nhân công. Có điều, hiện tại, chỉ có sẵn một số lượng hạn chế lao động mới ở Hungary, tay nghề và tính cơ động không mấy phù hợp với yêu cầu nhân công bùng nổ từ các đại dự án ở Hungary. Lực lượng lao động Serbia và Ukraina đang dần cạn kiệt, do đó cần đến việc tuyển dụng "lao động khách" từ Đông Nam Á.

    Chính phủ Hungary lý giải rằng nếu một công ty, tập đoàn đa quốc gia không thể tìm được nhân công có trình độ với số lượng phù hợp tại Hungary, thì họ sẽ chuyển đến nơi khác. Mặt khác, nội các nước này cho rằng dù có "nhập khẩu" một lượng lớn "thợ khách" đi nữa, thì tỷ lệ lao động đến từ các nước thứ ba ở Hungary vẫn thấp so với nhiều nước Tây Âu, như Đức.

    Ở đây chưa nói tới việc, bằng công cụ pháp luật, chính phủ Hungary muốn nắm trong tay và giám sát các quy trình của thị trường lao động "ngoại" thông qua những công ty "sân sau" kiểu "nhóm lợi ích" của họ. Dầu sao đi nữa, việc chính phủ Hungary đột ngột thay đổi quan điểm về lao động di dân cũng khiến ngay các "cổ động viên" của họ cũng ngạc nhiên và cảm thấy rất khó hiểu.

    Những di dân lao động này được tuyển dụng như thế nào? Và điều kiện sống và làm việc của họ ra sao?

    TTV Hoàng Nguyễn: "Thợ khách" chỉ có thể tới Hungary thông qua những hãng cho thuê nhân công đủ tiêu chuẩn, cũng như những cơ sở sử dụng lao động ưu đãi, tức là những cơ sở tuyển dụng lao động có thỏa thuận hợp tác chiến lược hợp lệ với Chính phủ, thực hiện đầu tư ưu tiên xét từ góc độ nền kinh tế quốc dân, hay chủ lao động có thỏa thuận đối tác trong khuôn khổ Chương trình Đối tác Xuất khẩu Ưu tiên.

    Bên cạnh đó, danh sách các quốc gia có "lao động khách" sang Hungary được xác định trong một nghị định riêng của chính phủ, kèm theo những điều kiện mới nghe thì có vẻ ngặt nghèo như hạn ngạch hàng năm, những ngành nghề gì được tiếp nhận lao động "ngoại", v.v... Chính phủ tối đa hóa số lượng nhân công có thể đưa vào Hungary dựa trên số lượng công việc còn trống từ năm trước.

    Hiện tại, Hungary được xem là thiếu hụt chừng 30-40 ngàn lao động hàng năm cho các dự án nước ngoài và con số này được coi là rất đáng kể, cả về số lượng và chất lượng. Hàng trăm ngàn "lao động khách" từ các quốc gia thứ ba đã được đưa sang Hungary để bù đắp, với chất lượng, tay nghề và mức lương khác nhau, phục vụ trong nhiều ngành nghề được xem là thiếu nhân công bản địa.

    Trước mắt, Việt Nam, Philippines, Indonesia, Kazakhstan, Ấn Độ, Kyrgyzstan và Mông Cổ đang là những quốc gia có nhiều "thợ khách" tại Hungary.  Nhưng nếu lao động Việt đa phần làm những công việc phổ thông, không đòi hỏi tay nghề và do đó mức thu nhập nhiều khi khá thấp, thì lao động Philippines được xem là có trình độ chuyên môn cao, thạo sinh ngữ và có mức lương vượt trội.

    Đa số làm việc tại các khu công nghiệp hoặc các doanh nghiệp ở các tỉnh thành, vùng quê xa xôi, sống cách biệt với cư dân bản địa và ít có sự tiếp xúc với xã hội Hungary. Ngoại trừ lao động Việt thường hay đi lại, xoay sở ở nhiều nơi, trong đó có thủ đô Budapest, lao động đến từ Đông Nam Á sống và thực hành tín ngưỡng những khi rảnh rỗi một cách khép kín, ít ảnh hưởng đến bên ngoài.

    Điều kiện sống và làm việc của các "thợ khách" cũng rất khác biệt tùy từng nơi. Nhìn chung, "lao động khách" được xem là lực lượng nhân công sẵn sàng làm thêm giờ, thêm ca... trong điều kiện khắc nghiệt, mà dân Hungary ít chịu làm. Lao động Việt từng than phiền nhiều nơi họ làm điều kiện sinh hoạt rất tệ hại, thiếu thốn đủ đường, khó hình dung đó là khung cảnh ở Châu Âu.

    Bên cạnh đó, có lẽ là đặc thù đối với lao động Việt: đa phần đều bỏ một khoản tiền rất lớn, thông qua nhiều "cò lao động", môi giới... để sang được đến Hungary. Với tay nghề, học thức và khả năng hội nhập ít ỏi, họ phải đối mặt với cảnh không có công ăn việc làm, thu nhập không hề như được hứa hẹn, thậm chí có thể coi là nạn nhân của những nhóm trung gian lừa đảo, thiếu lương tâm. 

    Làm cách nào Hungary có thể quản lý dòng di dân lao động này? Đâu là những khuôn khổ pháp lý để Budapest có thể kiểm soát số di dân lao động có chọn lọc đó, trong khi đối với nhiều di dân,Hungary cũng được xem như là một cửa ngõ để đi vào Liên Âu?

    TTV Hoàng Nguyễn: Đây là câu hỏi mà có lẽ hiện tại chưa ai trả lời được. Xuất phát từ ví dụ "lao động khách" Việt Nam, có thể thấy trên vô số mạng cộng đồng những quảng cáo "đưa người" công khai đi các nước Châu Âu, thậm chí cả Mỹ, Canada... Trong thực tế, không hiếm trường hợp lao động Việt đã "bốc hơi" ngay từ sân bay, khi họ móc nối với "đường dây" để chạy ngay sang nước thứ ba khá giả hơn.

    Số còn lại, rất đông, chỉ coi Hungary như bước đệm để nếu thuận lợi thì đi tiếp. Giấy tờ cư trú của họ vẫn có thể được "nuôi" bằng cách tiếp tục đóng thuế trên giấy tờ và gia hạn tại Hungary, nhưng việc họ rời Hungary tới một quốc gia thứ ba làm chui vốn dĩ đã là vi phạm pháp luật, có thể kéo theo việc bị trục xuất và nhiều hệ lụy khác. Sự rà soát, như vậy, là bài toán nan giải.

    Tất nhiên, về mặt pháp lý, Hungary cố gắng đưa vào luật những yếu tố siết chặt để trấn an người dân và công luận nói chung và vẫn tỏ thái độ "bài nhập cư" đã kéo dài từ nhiều năm nay của họ. Thủ tướng Orbán Viktor Orbán từng tuyên bố: "Lao động khách" chỉ có thể ở lại Hungary trong một thời gian ấn định và nếu cần, mối quan hệ pháp lý có thể bị chấm dứt - vì lý do an ninh.

    Luật Ngoại kiều sửa đổi hàm chứa những hạn chế như không cho phép "lao động khách" đoàn tụ gia đình hoặc định cư ở Hungary, đồng thời, thời hạn giấy phép cư trú cho họ tối đa là 3 năm. Họ không thể chuyển đổi mục đích cư trú tại Hungary, và cơ sở tuyển dụng lao động có nghĩa vụ phải làm tất cả để "tống tiễn" họ rời lãnh thổ Liên Âu khi hết hạn lưu trú.

    Tuy nhiên, chưa thấy được là điều này sẽ được thực hiện trong thực tế ra sao. Một Châu Âu không biên giới là "khoảng trời" quá lý tưởng cho những con người bất chấp những rủi ro về mặt pháp lý để kiếm tìm nơi làm việc khả dĩ cho mình, cho dù là làm chui, làm lậu đi nữa. Nhất là khi họ đã phải bỏ ra những khoản tiền khổng lồ để qua được Châu Âu, như trong trường hợp dân Việt.

    Đó là còn chưa nói đến việc do chính sách lao động tại các nước Trung Âu khác nhau, nên mặc dù tốn kém, lao động qua Hungary thậm chí có thể hợp thức hóa được khả năng làm việc ở nước khác như Ba Lan, Slovakia..., nơi mà họ không thể đặt chân đến một cách dễ dàng như Hungary. Điều này trong tương lai có thể là thử thách đối với sự quản lý lao động và di dân ở nhiều nước.

    Riêng đối với Việt Nam, con số 16 ngàn "lao động khách" do chính quyền Hungary đưa ra có thể đặt ra câu hỏi là trong thực tế, bao nhiêu phần trăm số lượng này còn ở lại Hungary và phần còn lại tản mát những đâu? Dầu sao đi nữa, những chuyến đi công khai, không giấu giếm kèm đưa tiễn của lao động Việt tới một nước thứ ba cũng cho thấy việc kiểm soát di dân lao động đang bị bỏ ngỏ!

    Người dân Hungary đã phản ứng như thế nào đối với chính sách này của ông Orban? Năm 2015, ông Orban có tuyên bố sẽ không bao giờ để người nước ngoài đến cướp việc làm của người dân Hungary. Nhưng đầu năm 2024, nhiều người sửng sốt khi hay tin một nhà xưởng Hàn Quốc quyết định sa thải khoảng 40 lao động Hung để thay thế bằng "lao động khách" đến từ Việt Nam?

    TTV Hoàng Nguyễn: Hungary được xem là nước có bầu không khí thù ghét và bài xích ngoại quốc rõ rệt ở một tỷ lệ dân chúng đáng kể, đặc biệt là ở những miền quê, nơi cư dân rất tin vào tuyên truyền của nội các cánh hữu vốn nắm trong tay bộ máy truyền thông nhà nước. Sự lo âu đã dấy lên ở nhiều nơi, cho dù theo ông Orbán Viktor thì không có nguy cơ "lao động khách sẽ cướp đất nước khỏi tay chúng ta".

    Mùa hè năm 2023, thành phố nhỏ khá có tiếng về du lịch nghỉ dưỡng Hajdúszoboszló đã cho thấy điều gì có thể diễn ra tại Hungary trong những năm tới khi lượng "khách thợ" tăng vọt. Dân địa phương không hiểu tại sao lại có nhiều lao động nước ngoài đến thành phố này thế, vì trước đây họ từng nghe bộ máy tuyên truyền nói rằng không một người nhập cư nào có thể đặt chân đến Hungary.

    Họ "tự kỷ ám thị" rằng "lao động khách" sẽ cướp bóc, hãm hiếp và giết người và do đó làm toáng lên, nhưng kỳ thực cảnh sát không hề nhận được bất kỳ trình báo nào về những việc như vậy. Báo chí Hungary nhận xét rằng tất cả những điều này đều xuất phát từ bộ máy thông tin của chính phủ, đổ đồng và coi di dân là tội phạm, chiếm đoạt công ăn việc làm, phá vỡ truyền thống Cơ-đốc giáo.

    Dần dà, truyền thông và một bộ phận của chính giới Hungary đã đề cập tới vấn đề "tội phạm của thợ khách", một phần xuất phát từ khả năng hội nhập thấp, cũng như sự khác biệt văn hóa, bất đồng ngôn ngữ, và nhiều lý do khác. Đây là một khái niệm thật ra khá mù mờ, xuất phát từ một đảng đối lập nhỏ theo chiều hướng cực đoan là "Phong trào Tổ quốc Chúng ta" (Mi Hazánk Mozgalom).

    Theo đảng này, đây là cách gọi hành vi phạm tội do bất kỳ "lao động khách" nào lưu trú tại Hungary gây ra, và xét từ góc độ này thì di dân hợp pháp hay bất hợp pháp theo họ cũng như nhau cả, và cần bài trừ cả di dân hợp pháp. Đáng chú ý là mùa hè 2023, đảng này còn đưa ra mức tiền thưởng 1 triệu Ft cho ai tìm ra dấu vết để bắt một công dân Việt Nam bị truy nã vì tội bạo lực tình dục. 

    Không chỉ là vấn đề an ninh hay hình sự, mà ngay hình ảnh hay những câu chuyện về các "thợ khách" tụ tập nhếch nhác, với những thói quen và tập quán khác lạ, không thạo tiếng Hung và khả năng hội nhập tối thiểu cũng khiến "lao động khách" không có được thiện cảm trong mắt cư dân Hungary. Đó là chưa kể nỗi lo về việc mất công ăn việc làm cũng khiến một bộ phận dân Hung quan ngại.

    Việc một doanh nghiệp Hàn Quốc sa thải hàng loạt công nhân Hungary sau khi những người này đã huấn luyện xong "thợ khách" Việt Nam là điều đã làm "dậy sóng" dư luận nước này. Nhưng hoàn cảnh thống khổ của nhiều "lao động khách", chẳng hạn như đến từ Việt Nam, thì ít cư dân Hung biết tới, và đây chính là tính hai mặt của câu chuyện này, mà hồi kết khó biết trước được là sẽ ra sao...

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn thông tín viên Hoàng Nguyễn từ Budapest!

    16 min
  • Hungary, « người bạn tốt nhất » của Trung Quốc trong lòng Liên Hiệp Châu Âu

    Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang có chuyến công du Hungary 3 ngày, từ ngày 08-10/05/2024, được đôi bên gọi là"chuyến thăm lịch sử". Chương trình nghị sự và các thông tin về chuyến công du được giữ kín đến phút cuối, an ninh Budapest được thắt chặt cao độ, xuất hiện một lực lượng người Hoa đông đảo trên đường phố thủ đô... là những nét có thể quan sát được.

    Bắc Kinh tính gì khi chọn quốc gia Đông Trung Âu là điểm đến trong chuyến công du châu Âu đầu tiên từ năm 2019, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu đang trở nên căng thẳng trong nhiều lĩnh vực thương mại, công nghệ cũng như là trong nhiều hồ sơ quốc tế lớn?

    Về phần Budapest, mối quan hệ giữa chính quyền Hungary với Liên Hiệp Châu Âu cũng đã trở nên lạnh nhạt. Chính phủ thủ tướng Orban Viktor bị cáo buộc vi phạm các nguyên tắc nhà nước pháp quyền, dẫn đến việc Liên Âu phong tỏa nguồn trợ cấp tài chính. Thái độ thân Nga và thân Trung Quốc của chính phủ thủ tướng Orban gây chia rẽ khối 27 nước trong nhiều hồ sơ lớn, nhất là trong việc hỗ trợ cho Ukraina chống quân xâm lược Nga. Thủ tướng Viktor Orban được gì khi trải thảm đỏ đón ông Tập Cận Bình ?

    RFI Tiếng Việt mời quý vị theo dõi phần giải thích từ thông tín viên Hoàng Nguyễn từ Budapest.

    ---------- ********** ----------

    RFI Tiếng Việt : Phải chăng Trung Quốc cũng muốn trông cậy vào Hungary để tránh bị áp thuế nhập khẩu các mặt hàng năng lượng sạch trong bối cảnh Liên Âu mở điều tra về chính sách trợ giá của Trung Quốc?

    TTV Hoàng Nguyễn : Nhằm tới thị trường Liên Âu là mục tiêu của Bắc Kinh, và Hungary, quốc gia đang gặp khó khăn về kinh tế do nguồn tài chính của EU bị chặn, có thể là bàn đạp cho việc này. Một chuyên gia về Trung Quốc là ông Matura Tamás, trả lời phỏng vấn với hãng AP, cho rằng "chính phủ Hungary là người bạn thực sự cuối cùng của Trung Quốc trong toàn bộ EU".

    Theo vị phó giáo sư tại Đại học Kinh tế Corvinus (Budapest), tình thế của Trung Quốc ở Liên Âu là rất khó khăn và do đó, Bắc Kinh cần một quốc gia thuộc lãnh thổ EU và thân thiện với hệ thống chính trị Trung Quốc, để có thể thiết lập "căn cứ" của mình, với mục tiêu hàng đầu là tránh mức thuế cao mà Liên Âu có thể áp dụng với các mặt hàng năng lượng sạch.

    Trước mắt, Bắc Kinh đang phải đối đầu với nhiều thử thách ở Liên Âu, bên cạnh việc Ủy ban Châu Âu mở điều tra vào năm 2023 để khảo sát tác động bóp méo thị trường của việc nhà nước Trung Quốc hỗ trợ sản xuất ô tô điện. Điều tra có thể kết thúc bằng việc áp dụng thuế bảo hộ vào mùa hè này. Một số biện pháp đã được EU đề xuất tiến hành nhằm:

    - Chống lại việc các nhà sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời và tua-bin gió của Trung Quốc khởi đầu với mức giá thấp đáng ngờ trong các cuộc đấu thầu ở châu Âu,

    - Chống lại các nhà sản xuất thiết bị y tế, các công ty đường sắt có liên quan trong việc xây dựng tuyến đường sắt Budapest-Beograd, "công trình thế kỷ" đầy bê bối tại Hungary và Serbia,

    Ủy Ban Châu Âu đang xem xét tăng thuế đối với xe điện nhập khẩu từ Trung Quốc từ mức 10% hiện tại để bảo vệ thị trường sản xuất ô tô châu Âu mà Đức, nền kinh tế lớn nhất trong khối 27 thành viên, là trụ cột. Tháng 12/2023, Hungary đã thông báo Trung Quốc sẽ mở nhà máy sản xuất ô tô điện châu Âu đầu tiên ở miền Nam nước này.

    Theo tuyên bố, đó sẽ là dự án của một trong những nhà sản xuất xe điện lớn nhất thế giới của Trung Quốc, có thể làm đảo lộn khả năng cạnh tranh về ô tô của Lục Địa Già. Sự trỗi dậy của ngành công nghiệp xe hơi Trung Quốc ở Hungary cũng có thể góp phần làm gia tăng những chỉ trích chính trị của Berlin đối với Budapest trong thời gian gần đây.

    Khi chọn Hungary và Serbia để đến thăm, hai nước này có những lợi điểm gì cho chiến lược đối phó Liên Âu của Trung Quốc?

    TTV Hoàng Nguyễn : Trước hết, dễ thấy Serbia là quốc gia châu Âu thân Trung Quốc nhất, và Hungary là thành viên Liên Âu gần gũi nhất với Trung Quốc về nhiều mặt với chính sách "Hướng Đông" được nội các cánh hữu của thủ tướng Orbán Viktor theo đuổi gần 15 năm nay. Cả hai nước đều là địa điểm của nhiều dự án của Trung Quốc, được thực hiện bằng nguồn tín dụng Trung Quốc.

    Xét về tỷ trọng tương đối của các khoản đầu tư của Trung Quốc, Serbia và Hungary đã trở thành những quốc gia nổi bật ở châu Âu, đặc biệt là ở Serbia, vai trò của Trung Quốc ngày càng quan trọng trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng. Hai nước đồng minh này còn mang tính chiến lược trong nỗ lực đối phó Liên Âu của Trung Nam Hải.

    Chuyến công du của ông Tập Cận Bình tới Serbia nhằm đúng kỷ niệm 25 năm cuộc chiến do khối NATO phát động đối với Nam Tư (cũ) để ngăn chặn cuộc chiến tranh Kosovo của chế độ Slobodan Milošević và sự tiêu diệt người Albania ở Kosovo. Còn nhớ, trong khuôn khổ đó, vào ngày 7/5/1999, đại sứ quán Trung Quốc cũng bị đánh bom khiến 3 người tử vong.

    Chủ tịch Trung Quốc đã tham gia lễ kỷ niệm 25 năm vụ đánh bom này cùng tổng thống Serbia Aleksandar Vučić ở Beograd, với phát biểu rằng đây là một sự kiện mà Bắc Kinh "không bao giờ quên". Đây cũng là sự kiện khiến Trung Quốc và Serbia "xích lại gần nhau" hơn bao giờ hết, và tới giờ, Trung Quốc trở thành nhà đầu tư nước ngoài (FDI) lớn nhất của Serbia.

    Bên cạnh đó, vai trò của Hungary gần như không cần phải giải thích. Do cơ sở công nghiệp và công nghệ tại Hungary ở mức khá thấp, đối với chính phủ Hungary, vốn của Trung Quốc hay Đức đều được, miễn là có lợi và nước này không mấy quan tâm đến cái gọi là "đoàn kết chính trị của Liên Âu", thậm chí có lúc còn phản đối dữ dội.

    Với quan điểm "một Châu Âu của các quốc gia dân tộc", nội các Orbán Viktor rất có lợi cho những lợi ích của Trung Quốc. Chưa nói đến chuyện hiện tại các nguồn tài trợ của EU cho Hungary bị đình chỉ bởi những cáo buộc về tình trạng tham nhũng và vi phạm nhà nước pháp quyền, Trung Quốc sẵn sàng lấp đầy những khoảng trống trong ngân sách Hungary.

    Thủ tướng Orbán Viktor không giấu giếm lý do khiến ông ưu tiên đầu tư Trung Quốc: ông tin rằng kinh tế phương Tây đang suy thoái, trong khi Trung Quốc đang trên đà phát triển. Trong phát biểu gần đây tại một hội nghị ở Budapest, ông đã vạch ra tầm nhìn về một "nền kinh tế toàn cầu tổ chức trên cơ sở nguyên tắc cùng có lợi, không mang màu sắc ý thức hệ".

    Đổi lại, thủ tướng Orbán Viktor có ý đồ gì và được gì khi trải thảm đỏ đón Tập Cận Bình? Ông muốn thách thức Liên Âu và NATO vào lúc Budapest căng thẳng quan hệ với hai định chế này?

    TTV Hoàng Nguyễn : Cho dù sau 20 năm mới có một vị nguyên thủ quốc gia Trung Quốc công du Hungary, nhưng đây là gần gặp gỡ thứ 7 của ông Orbán Viktor với lãnh đạo họ Tập. Những biểu hiện phản đối Trung Quốc trong các hồ sơ nhân quyền bị bóp nghẹt từ trứng nước, sự hiện diện đông đảo của các tình nguyện viên tòa đại sứ Trung Quốc cho thấy ảnh hưởng của nước này tại Hungary.

    Truyền thông và các nhà bình luận Hungary cho rằng, nếu trước nay đã có nhiều ý kiến phàn nàn về sự hiện diện "quá mức" của Trung Quốc tại Hungary, thì thực ra mọi thứ mới là khởi đầu, và bây giờ mới là thực sự! "Chúng ta đã ngồi lên toa tàu hỏa Trung Quốc", theo cách nói của truyền thông Hungary về mối quan hệ mật thiết nhiều mặt của hai đồng minh này.

    Trước hết là về kinh tế và thương mại, dễ thấy là thủ tướng Orbán Viktor chờ đợi gì khi "trải thảm đỏ" đón lãnh đạo họ Tập. Trong nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế vài năm gần đây, Hungary đã tập trung chính sách vào việc hỗ trợ sản xuất ô tô điện và công nghệ bình điện, trên thực tế là đặt hy vọng vào các nhà máy xe hơi và pin điện chủ yếu của Trung Quốc, Đức và Hàn Quốc.

    Theo nội các Orbán Viktor, đây là điều tốt cho Hungary, vì nước này giữ được những việc làm trong lĩnh vực ô tô khi chuyển đổi sang điện, và có thể đóng vai trò là cầu nối giữa phương Tây và phương Đông, và cũng tốt cho Trung Quốc khi một quốc gia EU cởi mở đón nhận đầu tư Trung Quốc, khi quan hệ thương mại của nước này với Mỹ và EU ngày càng trở nên băng giá.

    Mặt khác, nếu các doanh nghiệp xuất khẩu lớn của Trung Quốc có nhà máy ở EU, thì việc ngăn chặn sự mở rộng của các sản phẩm Trung Quốc sang Châu Âu trong bối cảnh cuộc chiến thuế quan sẽ khó khăn hơn nhiều, vì chúng đã được sản xuất "trong nội địa". Thị trường Châu Âu sẽ rộng mở với Trung Quốc, ít nhất là trong lĩnh vực phát triển xe điện và bình điện.

    Đó là chưa kể đến việc Trung Quốc sẵn sàng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của Hungary bằng nguồn tín dụng của mình trong khuôn khổ chương trình "Nhất đới - Nhất lộ" ("Một vành đai - Một con đường"). Cần nhắc đến "dự án thế kỷ" - tuyến đường sắt Budapest - Beograd được quyết định từ 2015 - mà phải mất vài trăm năm Hungary mới có thể hoàn vốn.

    Viễn cảnh những nhà máy được thực hiện với vốn đầu tư Trung Quốc lớn chưa từng có tại Hungary đang được vạch ra, và dường như chính quyền Budapest không lo ngại sự lệ thuộc, trở thành "thuộc địa" của Trung Quốc. Ngoại trưởng Szijjártó Péter không ngần ngại tuyên bố, "hợp tác với Trung Quốc về cơ bản quyết định nền kinh tế của các nước Châu Âu”.

    Chiến lược này của thủ tướng Orbán Viktor có làm hại gì đến chính sách "giảm rủi ro" của Liên Âu đối với Trung Quốc?

    TTV Hoàng Nguyễn : Không có những quan hệ mật thiết này đi nữa, thì từ nhiều năm nay Hungary vốn dĩ đã bị coi là "con ngựa gỗ thành Troy" với chính sách thân Trung Quốc và Nga. Trong hầu hết các hồ sơ, dường như nội các Orbán Viktor đều tìm được cách đi ngược lại với số đông các thành viên Liên Âu. Nước này có vẻ không ngần ngại những khi "còn lại một mình" ở EU.

    Tuy nhiên, Liên Âu có thể làm gì trước hiểm họa Trung Quốc, trước hết là trên địa hạt thương mại, là nơi mà dù có những xung khắc, đôi bên vẫn "không thể thiếu nhau"? Cùng lắm, nếu chiến tranh thương mại trở nên tồi tệ hoặc nếu EU coi chúng là một rủi ro an ninh, Liên Âu có thể đưa ra một số biện pháp trừng phạt đối với các nhà máy Trung Quốc và sản phẩm tại đó.

    Tất nhiên về lâu dài không thể loại trừ những điều này, nhưng ở thời điểm hiệ nay, có vẻ như EU và Trung Quốc đang quá phụ thuộc vào nhau (cả hai đều là thị trường xuất khẩu và là nguồn nhập khẩu rất lớn của bên kia), nên khó đi vào cuộc chiến kinh tế kiểu "ăn miếng trả miếng". Quan hệ Hung - Trung có lẽ không gặp phải mạo hiểm đáng kể từ Liên Âu xét từ góc độ này.

    Mặc cho những quan ngại về rủi ro trong mối quan hệ với Trung Quốc, ngay trước khi đặt chân tới Budapest, lãnh đạo họ Tập đã tuyên bố gia hạn việc miễn thị thực nhập cảnh cho công dân 10 nước Liên Âu - trong đó có Hungary - cho đến cuối năm 2025. Đổi lại, Hungary xét đơn xin visa kinh doanh của Trung Quốc vào nước này trong vòng 48h, thay vì 15 ngày theo thông lệ.

    Những động thái trên diễn ra "trên tinh thần hợp tác tốt đẹp, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau" theo cách diễn đạt của đôi bên. Ông Tập Cận Bình, trong bài viết đăng trên nhật báo thân chính phủ "Dân tộc Hungary" (Magyar Nemzet),  ví tình hữu nghị Hung - Trung giống như loại rượu Tokaj "vương tửu, tửu vương" nổi tiếng của Hungary: thơm, ngọt, đậm đà và để lâu.

    Hãy chờ xem tương lai sẽ đi đến đâu trong ván bài này, mà cả đôi bên đều biết rõ điều mình muốn, và dường như tự tin vào khả năng không thể sai lầm của mình!

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn thông tín viên Hoàng Nguyễn từ Budapest !

    13 min

About Tạp chí tiêu điểm

From the publisher's feed

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More shows like Tạp chí tiêu điểm

6 Minute English by BBC Radio

6 Minute English

1,811 Listeners

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

222 Listeners

 by RFI Tiếng Việt

15 Listeners

VOV - Tin nhanh 24h by Đài Tiếng nói Việt Nam

VOV - Tin nhanh 24h

3 Listeners

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners