
Sign up to save your podcasts
Or


Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từ ngày 05/05 đến ngày 10/05/2024 sẽ đi thăm ba nước châu Âu Pháp, Hungary và Serbia. Đây là chuyến công du châu Âu đầu tiên của ông kể từ sau đại dịch Covid-19 và sẽ được Hoa Kỳ theo dõi chặt chẽ nhằm phát hiện bất kỳ chỉ dấu nào báo hiệu một sự suy giảm ủng hộ đối với chính sách đối ngoại quan trọng của Washington.
Theo lịch trình, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có chuyến thăm cấp Nhà nước hai ngày 06 và 07/05/2024 tại Pháp nhằm đánh dấu 60 năm thiết lập quan hệ song phương giữa Paris và Bắc Kinh, trước khi đến Serbia và kết thúc chuyến công du châu Âu tại Hungary từ ngày 08 đến ngày 10/05/2024.
Liên Hiệp Châu Âu trong vòng xoáy căng thẳng Mỹ - TrungThông cáo của điện Elysée nêu rõ « ác cuộc khủng hoảng quốc tế như chiến tranh Ukraina và tình hình Trung Đông, hồ sơ thương mại, hợp tác khoa học, văn hóa và thể thao cũng như những hành động chung để đối phó với các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học và tình hình tài chính các nước dễ tổn thương nhất » sẽ là những chủ đề trọng tâm trong cuộc thảo luận giữa đôi bên.
Chuyến thăm Pháp của ông Tập Cận Bình diễn ra trong bối cảnh căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng đáng kể. Cuộc đọ sức trong lĩnh vực công nghệ mà gần đây nhất liên quan đến Tik Tok, là một bước leo thang mới trong cuộc cạnh tranh gay gắt giành thế bá quyền giữa hai ông khổng lồ trên thế giới.
Lãnh đạo Trung Quốc đến châu Âu vào một thời điểm nhạy cảm : Hoa Kỳ bước vào một giai đoạn bầu cử mà kết quả vẫn bất định, Ấn Độ trong mùa bỏ phiếu bầu mới Quốc Hội kéo dài nhiều tuần, trong khi Châu Âu, vừa phải tập trung các nỗ lực cho Ukraina, vừa phải chuẩn bị cho cuộc bầu cử Nghị Viện Châu Âu vào tháng Sáu tới đây.
Một bối cảnh bất lợi cho Pháp và châu Âu, nhưng đó lại là một cơ hội cho Trung Quốc khẳng định quyết tâm thể hiện như là một cường quốc dấn thân, « nguồn lực cho hòa bình, ổn định và tiến bộ trên thế giới » theo như phát biểu của ngoại trưởng Vương Nghị hồi đầu tháng Ba, trước đối thủ Hoa Kỳ, hiện đang « bị sa lầy » trong hai cuộc xung đột quy mô lớn.
Thăm Paris, Bắc Kinh ve vãn, lôi kéo Liên Âu tránh xa WashingtonTrung Quốc tìm cách nối lại quan hệ với Châu Âu, muốn tận dụng nỗi lo lắng của khối 27 nước liên quan đến bầu cử tổng thống Mỹ để bảo đảm rằng châu Âu khẳng định rõ ràng hơn và cụ thể hơn quyền « tự chủ chiến lược » thường xuyên được nói đến nhưng chưa được thực hiện đầy đủ trong nhãn quan của Bắc Kinh.
Theo South China Morning Post, quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Hiệp Châu Âu những năm gần đây đã trở nên căng thẳng do mất cân bằng cán cân thương mại. Liên Âu tỏ ra bất mãn trước những khó khăn tiếp cận thị trường Trung Quốc.
Khối 27 nước gần đây còn cho mở điều tra về cáo buộc Bắc Kinh ưu đãi cho các công ty Trung Quốc trong việc mua sắm thiết bị y tế, cũng như những nghi ngờ trợ giá cho các dòng sản phẩm phục vụ cho chuyển đổi năng lượng như tua bin gió, pin năng lượng mặt trời…, hay vấn đề xe ô tô điện do Trung Quốc sản xuất để có lợi thế giành các hợp đồng ở EU hay thâm nhập thị trường EU.
Những động thái mà theo phân tích Agatha Kratz, chuyên gia về kinh tế Trung Quốc, với đài France Culture, cho thấy « có nhiều sự liên kết giữa mối quan tâm của Mỹ và các quan tâm của châu Âu, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã thấy là châu Âu đưa ra rất nhiều công cụ, sáng kiến nhằm giải tỏa những lo ngại này. »
Vài ngày trước chuyến công du đến Paris của ông Tập Cận Bình, ngoại trưởng Vương Nghị trong cuộc điện đàm với người đồng cấp nói rằng Bắc Kinh « hy vọng phía Pháp sẽ thúc đẩy Liên Hiệp Châu Âu theo đuổi chính sách tích cực và thực dụng hơn đối với Trung Quốc ». Sự việc cho thấy Bắc Kinh hy vọng là không cuộc điều tra nào trong số này sẽ dẫn đến sự tách rời về kinh tế hay ngăn chặn công nghệ của Trung Quốc, một con đường mà Hoa Kỳ đang đeo đuổi.
Pháp : Quân cờ « hữu ích »Để đạt được mục tiêu này, Trung Quốc thúc giục các nước châu Âu phát huy quyền tự chủ và trong chiến lược này, Pháp rõ ràng là một quân cờ hấp dẫn. Đảng Cộng sản Trung Quốc xem Pháp là một quốc gia « có tầm nhìn tương tự » như Trung Quốc.
AP nhắc lại, đến thăm Trung Quốc hồi tháng 4/2023, tổng thống Emmanuel Macron từng kêu gọi khối 27 nước nên áp dụng quyền tự chủ chiến lược và không trở thành « chư hầu » trong cuộc xung đột Mỹ - Trung. Tổng thống Pháp còn khiến Mỹ lo lắng khi tuyên bố Paris sẽ không mù quáng đi theo Washington tham gia các cuộc khủng hoảng mà họ không liên quan, ám chỉ rõ ràng đến yêu cầu thống nhất Đài Loan của Trung Quốc.
Nhưng nhà Trung Quốc học Alice Ekman, trả lời phỏng vấn báo Pháp L’Opinion ngày 14/03/2024, lưu ý Liên Âu chớ mất cảnh giác trước chiến dịch ve vãn của Trung Quốc : « Giọng điệu hòa dịu hơn, nhưng lập trường không thay đổi và vẫn đối lập nhau trên nhiều hồ sơ lớn, trên hết là hồ sơ Ukraina ».
Theo bà, Liên Hiệp Châu Âu có thể vẫn là đối tác thương mại hàng đầu, nhưng vì những lý do ý thức hệ và thực tiễn địa chính trị, Trung Quốc vẫn xem Nga như là một đối tác ưu tiên và tự nhiên. Quyết định chọn đến thăm Hungary và Serbia, hai nước chủ trương thân Nga, là một thông điệp rõ ràng : Chớ có kỳ vọng vào Bắc Kinh, thông qua mối quan hệ cá nhân giữa ông Tập Cận Bình và đồng nhiệm Nga Vladimir Putin, để gây áp lực với Matxcơva nhằm giải quyết xung đột tại Ukraina !
François Chimits, kinh tế gia thuộc Trung tâm tư vấn Mercator, Viện Nghiên cứu về Trung Quốc, trên làn sóng France Culture, nhìn nhận Pháp và Liên Âu chỉ là một phần tử trong phương trình lớn : « Đối diện với tình thế này, Trung Quốc muốn tìm cách "bắt cá hai tay", nghĩa là vẫn duy trì đối tác chiến lược với Nga, nhưng đồng thời vẫn gìn giữ lối vào rộng mở, cũng như những trao đổi kinh tế năng động với Liên Hiệp Châu Âu. Theo tôi, điều này có thể giải thích cho việc tăng cường quan hệ ngoại giao song phương Pháp – Trung từ 4-5 năm qua. »
Cũng theo ông François Chimits, trong triển vọng bầu cử châu Âu và tổng thống Mỹ, « Trung Quốc muốn tìm kiếm khả năng thắt chặt hơn các mối quan hệ với châu Âu nhằm tránh cho việc khối này siết chặt mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương hơn là với Trung Quốc ».
Hungary : « Đối tác » chiến lượcĐể có thể giữ chân Liên Âu, Bắc Kinh có thể trông cậy vào hai đối tác : Hungary – thành viên Liên Hiệp Châu Âu và NATO – Liên Minh Bắc Đại Tây Dương và Serbia, quốc gia vùng Balkan, có lập trường khá thân Nga.
Vào tháng 7/2024, Hungary dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Victor Orban sẽ đảm nhiệm chức chủ tịch luân phiên của khối 27 nước châu Âu. Cũng theo South China Morning Post, vài ngày trước khi ông Tập lên đường đến Paris, ngoại trưởng Vương Nghị trong cuộc gặp với người đồng cấp Hungary Peter Szijjarto tại Bắc Kinh cũng đưa ra một thông điệp tương tự như với ngoại trưởng Pháp.
Khi ca tụng Hungary là « một quốc gia châu Âu có ảnh hưởng độc đáo, áp dụng chính sách độc lập », lãnh đạo ngành ngoại giao Trung Quốc bày tỏ hy vọng « Hungary sẽ tăng cường hợp tác chiến lược Trung Quốc – EU », khuyến khích khối 27 nước có « quan điểm hợp lý và thân thiện về sự phát triển của Trung Quốc » và theo đuổi « chính sách Trung Quốc tích cực và thực dụng hơn ».
Đáp lời, ngoại trưởng Hungary cho biết chính phủ Budapest phản đối việc « tách rời » khỏi Trung Quốc, một đối tác của sự « lựa chọn đúng đắn », đồng thời khẳng định Trung Quốc là một nước lớn có ảnh hưởng toàn cầu, và kêu gọi « thắt chặt » hơn quan hệ Hungary – Trung Quốc cũng như Liên Âu – Trung Quốc, trong bối cảnh quốc tế hỗn loạn.
Nếu như Pháp kỳ vọng nhân chuyến thăm của ông Tập Cận Bình, Trung Quốc có thể gia tăng đầu tư tại Pháp, nhất là trong lĩnh vực xe ô tô điện, thì chính Hungary là nơi tập trung nhiều nhất đầu tư của Trung Quốc. Không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, quan hệ Trung – Hung còn được tăng cường cả trong vấn đề an ninh. Tháng 2/2024, Budapest công bố thỏa thuận an ninh mới với Trung Quốc, theo đó, cảnh sát Trung Quốc có thể tuần tra ở nước này.
Theo François Chimits, mối quan hệ đặc biệt này có thể gây ra nhiều rủi ro chính trị trên phương diện tầm ảnh hưởng và khả năng ra quyết định độc lập của châu Âu : « Bởi vì trong tất cả các vấn đề về quan hệ quốc tế, Liên Hiệp Châu Âu vận hành với sự nhất trí cho đến hiện tại. Đương nhiên, Hungary – với tư cách là một trong 27 nước thành viên – một mình có thể ngăn chặn rất nhiều quyết định. »
Đây chính là những gì đã diễn ra gần đây cho Thụy Điển. Chính phủ thủ tướng Orban đã trì hoãn việc quốc gia Bắc Âu này gia nhập khối NATO trong nhiều tháng. Với Trung Quốc, chính việc mở rộng khối liên minh quân sự này đã kích động ông Putin xâm chiếm Ukraina.
NATO, chất xúc tác cho mối quan hệ Beograd – Bắc KinhCuối cùng liên quan đến Serbia, từ nhiều thập niên qua, Bắc Kinh đã xây dựng một mối quan hệ bền chặt, bao gồm cả việc chuyển giao hệ thống tên lửa phòng không một cách bí mật cho nước Cộng hòa Nam Tư cũ vào năm 2022.
Theo dự đoán, nguyên thủ quốc gia Trung Quốc có khả năng đến Beograd vùng Balkan này vào ngày 7/5. Ngày này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đúng kỷ niệm 25 năm vụ NATO ném bom trúng đại sứ quán Trung Quốc làm thiệt mạng ba nhà báo Trung Quốc. Tòa đại sứ năm xưa nay đã được biến thành một trung tâm văn hóa Trung Quốc rộng lớn và được coi là lớn nhất châu Âu, nhưng vẫn chưa được khai trương chính thức. Nhiều suy đoán cho rằng giới chức Trung Quốc và Serbia chờ chuyến thăm của ông Tập để đánh dấu sự kiện.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng đầu tư rất nhiều tại quốc gia vùng Balkan, xây dựng cơ sở hạ tầng và nhất là trong lĩnh vực khai thác mỏ. Theo một phóng sự của kênh truyền hình ARTE hồi tháng 12/2022, Trung Quốc tập trung khai thác chủ yếu vàng và đồng, những khoáng sản dồi dào ở vùng phía đông Serbia. Quốc gia này cũng là cửa ngõ để Trung Quốc tiến vào thị trường châu Âu. Bắc Kinh, Budapest và Beograd hiện đang đàm phán về việc xây dựng một tuyến đường sắt nối Budapest – Beograd trị giá 1,9 tỷ đô la do Trung Quốc tài trợ.
Tóm lại, theo Alice Ekman, nhà Trung Quốc học Viện Nghiên cứu An ninh của Liên Hiệp Châu Âu, nền ngoại giao Trung Quốc sẽ tiếp tục khéo léo trải thảm đỏ đón tiếp Pháp và những nước châu Âu nào mà Trung Quốc có thể xem là những nước phương Tây hữu ích trong ngắn hạn, để khoét sâu thêm nữa những bất đồng trong lòng phe phương Tây.
Cụ thể, nếu như chuyến thăm Paris là cơ hội để Bắc Kinh tập trung vào mối quan hệ rộng lớn hơn với châu Âu, thì các điểm dừng Hungary và Serbia cho phép Trung Quốc khẳng định rằng ảnh hưởng của mình ở Đông và Trung Âu vẫn còn nguyên vẹn !
Việc Nga và Trung Quốc xích lại gần sắp tròn 10 năm và đã bị đánh giá thấp. Tiến trình này thường bị xem là một « cuộc hôn nhân theo lý trí », đơn giản theo hoàn cảnh, bị giới hạn ở sự hợp tác năng lượng và quá bất cân xứng để mà tồn tại. Giờ người ta còn nói đến Nga trở thành « chư hầu » của Trung Quốc, một tình trạng cũng sẽ không thể trụ lâu.
Nhưng theo nhà Trung Quốc học Alice Ekman, việc đặt cược nhiều vào những hạn chế của sự xích lại gần giữa Trung Quốc và Nga cũng chứa đầy nhiều rủi ro lớn cho phương Tây.
Trong một bài tham luận tựa đề « Trung – Nga : Bước lớn xích lại gần », do nhà xuất bản Gallimard ấn hành hồi tháng 12/2023, nữ chuyên gia về Trung Quốc, tiến sĩ về Quan hệ Quốc tế thuộc Viện Nghiên cứu An ninh của Liên Hiệp Châu Âu, trình bày một số phân tích cho thấy một số nhà quan sát phương Tây đã có những cái nhìn « lệch lạc » về quan hệ Trung - Nga trong suốt gần 10 năm qua.
An ninh chính trị là một ưu tiênMối quan hệ này chưa bao giờ mang tính « tạm thời » như nhiều nhận định kể từ khi Nga bắt đầu chuyển hướng sang Trung Quốc với việc ký kết nhiều thỏa thuận năng lượng quan trọng sau vụ Nga sáp nhập bán đảo Crimée năm 2014. Bước xích lại gần này còn được củng cố hơn trong bối cảnh Nga tiến hành cuộc xâm lược Ukraina năm 2022.
Nga và Trung Quốc đã tuyên bố « tình hữu nghị vô bờ bến » bên lề Thế Vận Hội Mùa Đông ở Bắc Kinh. Bất chấp cuộc chiến tàn khốc tại Ukraina, Trung Quốc chưa bao giờ lên án hành động xâm lược này, mà luôn khẳng định rằng Nga là « đối tác chiến lược quan trọng nhất » của Bắc Kinh. Trung Quốc từ chối nói đến « chiến tranh Ukraina », chỉ xem đấy là « khủng hoảng » hay sử dụng lại cụm từ « chiến dịch quân sự đặc biệt » của Nga.
Theo Alice Ekman, mối quan hệ hợp tác song phương không đơn giản chỉ là một cơ hội cho kinh tế hay năng lượng, mà đúng hơn mang tính thiết yếu để bảo đảm điều gọi là « an ninh chính trị » trong dài hạn, được giới lãnh đạo chính trị hiện tại coi là điều cần thiết cho việc duy trì quyền lực. Điều này đã được Tập Cận Bình khẳng định chẳng chút vòng vo trong những năm gần đây, khi tuyên bố rằng củng cố « an ninh chính trị » là một ưu tiên.
Cả hai nguyên thủ quốc gia Nga và Trung Quốc cùng phản đối mọi sự thay đổi chế độ, nhất là trên chính lãnh thổ của họ. Dường như nỗi sợ lớn nhất của giới lãnh đạo Trung Quốc là việc Hoa Kỳ ủng hộ một sự thay đổi chế độ trên lãnh thổ. Và nỗi lo này càng được củng cố với cuộc chiến tại Irak, xung đột ở Syria, hay cái chết bi thảm của nhà độc tài Kadhafi ở Libya năm 2011.
Phương Tây : Kẻ thù chungTiến trình xích lại gần giữa Nga và Trung Quốc được xây dựng dựa trên cùng cảm nhận và chỉ định một kẻ thù chung là « phương Tây ». Chuyến công du cấp nhà nước của ông Tập Cận Bình đến Nga gặp đồng nhiệm Vladimir Putin hồi tháng 3/2023 đã cho thấy rõ sự đồng nhất quan điểm địa chiến lược này giữa Bắc Kinh và Matxcơva.
Do vậy, theo nhà phân tích Alice Ekman, việc Trung Quốc bỏ phiếu trắng về ba nghị quyết lên án cuộc chiến xâm lược tại Ukraina năm 2022, trên thực tế không phải là một hình thức giữ khoảng cách với Nga theo như cách diễn giải từ nhiều nhà quan sát. Cử chỉ này đã được Trung Quốc thể hiện ngay từ năm 2014 sau vụ Nga sáp nhập bán đảo Crimée.
Cùng là thành viên thường trực tại Hội Đồng Bảo An, Nga và Trung Quốc ngày càng phối hợp chặt chẽ hơn trong nhiều hồ sơ chiến lược như Bắc Triều Tiên, Iran và Syria…, và cùng bảo vệ một phân tích chung về nhiều xung đột trên thế giới, khi chỉ định một cách có hệ thống Mỹ và các đồng minh là những kẻ gây rối.
Trên kênh truyền hình quốc tế France 24, chuyên gia về Trung Quốc Alice Ekman nhận định lập trường này của Nga và Trung Quốc sẽ còn được liên kết chặt chẽ hơn nữa trong tương lai :
«Tiến trình xích lại gần giữa Trung Quốc và Nga phần lớn được củng cố do sự đối kháng với Mỹ, nghĩa là cuộc đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc trong dài hạn. Cuộc đọ sức này được thấy rõ ở nhiều cấp độ : Thương mại, công nghệ, chính trị, và trong một chừng mực nào đó là ý thức hệ.
Đối diện với cuộc cạnh tranh này lâu dài này – vốn dĩ hoàn toàn độc lập với kết quả cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, cho dù là sẽ có một tác động nhưng chúng ta thấy là có một sự đồng thuận lưỡng đảng ở Washington, cùng xem Trung Quốc như là một mối đe dọa – ,Trung Quốc đã cho rằng mối quan hệ với Nga có vai trò hàng đầu để giành thắng lợi sau cùng trong cuộc đọ sức dài hơi với Mỹ. Và do vậy cần phải lập mặt trận chung đối phó Mỹ và rộng hơn nữa là phương Tây.
Mục tiêu của Trung Quốc từ mười năm qua là tìm cách giảm thiểu thế cô lập, nghĩa là xây dựng một liên minh các nước mà trong đó Nga là một cột trụ chính. Chúng ta thấy rõ là có một sự điều phối ngày càng nhiều giữa Bắc Kinh và Matxcơva tại Liên Hiệp Quốc, chẳng hạn về vấn đề bán đảo Triều Tiên, bởi vì cả hai nước đều phản đối việc thông qua lệnh trừng phạt nhắm vào Bắc Triều Tiên sau các vụ thử vũ khí năm rồi và hiện nay.
Cả hai nước có cùng chung lập trường trên gần như tất cả các hồ sơ và các xung đột khu vực cũng như là thế giới hiện nay. Trung Quốc thực sự hậu thuẫn Nga về mặt chính trị và ngoại giao từ khi Nga tiến hành cuộc chiến xâm lược Ukraina. »
Nga : « Chư hầu » của Trung Quốc ?Trái với nhiều phân tích cho rằng bước tiến gần nhau Nga – Trung có những hạn chế do thiếu một liên minh quân sự, do các tranh chấp biên giới, cũng như sự mất cân đối giữa hai cường quốc trên bình diện kinh tế và dân số, Alice Ekman đã phản đối những kết luận vội vã, đánh giá Nga đã trở thành một « chư hầu » của Trung Quốc. Nữ chuyên gia này lưu ý rằng sự bất cân xứng đó không hiện diện trên tất cả các lĩnh vực:
« Trung Quốc là điểm đến hàng đầu cho dầu lửa Nga. Dĩ nhiên, Bắc Kinh khá thông minh để thương lượng các mức giá có lợi trong các thỏa thuận năng lượng, Ấn Độ cũng vậy. Trên thực tế, nền kinh tế Nga và Trung Quốc bổ sung cho nhau. Hơn nữa, Nga vẫn là một cường quốc không gian, cường quốc hạt nhân, chứ không chỉ là cường quốc quân sự mà cả dân sự nữa. Trung Quốc hiểu rõ điều đó. Ngoài ra, Nga là một thị trường hấp dẫn cho ô tô Trung Quốc, nhất là xe điện.
Trên bình diện chính trị, ngoại giao, các cuộc gặp và trao đổi giữa hai nguyên thủ quốc gia, cũng như ở cấp bộ trưởng, ngày một nhiều (…) Nếu chỉ cho rằng đó chỉ là những cuộc gặp thông thường thì không đúng. Những cuộc gặp này diễn ra đều đặn, dày đặc hơn, và mối quan hệ hợp tác kinh tế đã được lên kế hoạch cho dài hạn.
Chỉ cần nhìn vào những tài liệu chung được ký kết và thông qua sau mỗi cuộc gặp, chúng ta thấy rõ có một kế hoạch cho 20, 25 năm. Mối quan hệ hợp tác, không chỉ trong năng lượng, công nghệ mà cả trong nông nghiệp, được vạch ra hoàn toàn độc lập với tiến triển cuộc chiến tại Ukraina. Đấy mới là điều cần lưu ý ! »
Ngoài ra, Nga và Trung Quốc cam kết sẽ không đối chọi nhau trong nhiều hồ sơ liên quan đến những ưu tiên của hai nước nằm trong khu vực lân kề của họ. Điều này được thể hiện rõ trong việc hai bên đã nhanh chóng xử lý các vấn đề tranh chấp biên giới ngay từ những năm 1990, sau khi Liên Xô sụp đổ.
Trung Á : Nga – Trung « phân chia » công việcBắc Kinh và Matxcơva cũng đồng thuận « phân định vai trò » của họ tại Trung Á: Nga chấp nhận ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh thừa nhận ảnh hưởng quân sự của Matxcơva, nhằm giảm thiểu khả năng « cạnh tranh gay gắt » như nhiều nhà phân tích nói đến.
« Sự cạnh tranh tại Trung Á không cản trở tiến trình xích lại gần giữa Nga và Trung Quốc. Người ta thường nói rằng mối quan hệ này không thể lâu bền, bởi vì chúng chỉ có hiệu quả trong ngắn hạn, Nga không có chọn lựa nào khác, khi thường xuyên nêu ra hai điểm căng thẳng giữa Nga và Trung Quốc.
Đầu tiên hết là họ nói đến căng thẳng về dân số tại Siberia. Nhưng khi nhìn rõ các con số, đúng hơn là có một sự sụt giảm số dân Trung Quốc tại Siberia, chỉ vì mức lương ở Trung Quốc giờ hấp dẫn hơn so với ở phía Nga vì nhiều lý do khác nhau. Do vậy, chẳng có một hiểm họa, một sự xâm lược nào từ phía người dân Trung Quốc ở Siberia và đây không là một điểm căng thẳng quan trọng (..)
Tiếp đến, ở cấp độ biên giới, rõ ràng Nga và Trung Quốc không còn các tranh chấp. Ngay từ những năm 1990 và dần dần cả hai nước đã làm mọi cách để bình ổn đường biên giới và điều này là quan trọng bởi vì đây là điều đang xảy ra giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Hai bên vẫn còn đang có những tranh chấp, thậm chí gây chết người trong những năm gần đây. Điều này không còn nữa giữa Nga và Trung Quốc.
Điều đáng quan tâm là các nhà ngoại giao Trung Quốc vẫn thường xuyên đề cập đến đường biên giới quan trọng này và ý chí mang tính lịch sử đó để bình ổn mối quan hệ hiện nay, trong khi vấn đề này vẫn đang đặt ra nhiều nghi vấn ở Trung Quốc.
Liên quan đến Trung Á, đương nhiên có một sự cạnh tranh giữa Nga và Trung Quốc trong vùng, nhưng đáng chú ý là Trung Quốc làm mọi cách để dàn xếp với Nga trong khu vực. Chẳng hạn, Bắc Kinh nhấn mạnh đến vai trò bổ sung của Nga với các dự án cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Con Đường Tơ Lụa Mới trong khối Hợp tác Thượng Hải. Rồi còn có những cuộc tập trận chung được tiến hành trong vùng một cách tương đối hài hòa. »
Chống Mỹ và các đồng minh: Nga,Trung sát cánhTừ những quan sát này, Alice Ekman cho rằng những nhận định nói rằng Nga trở thành « chư hầu » của Trung Quốc là sai lệch. Trong các tuyên bố, ngành ngoại giao Trung Quốc luôn có sự sắp xếp với Nga và tránh tối đa xem Nga như là một cường quốc yếu thế. Một lần nữa, nữ chuyên gia nhấn mạnh, Nga và Trung Quốc không cảm thấy bên này hay bên kia là một mối đe dọa. Ngược lại, cả hai nước cùng xác định Mỹ và các đồng minh là những mối đe dọa hàng đầu đối với những lợi ích cơ bản của Nga và Trung Quốc.
Điều này giải thích cho lập trường nước đôi của Bắc Kinh trong việc Matxcơva luôn đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân tại Ukraina. Bắc Kinh có vẻ cảm thấy bất bình nhiều hơn với việc tầu ngầm hạt nhân của Mỹ đến Hàn Quốc hồi tháng 7/2023 hơn là những lời dọa dẫm từ Nga. Trên đài France 24, Alice Ekman giải thích :
« Các nhà ngoại giao Trung Quốc không nói đến điểm này nhưng giới phân tích Trung Quốc thường nói nửa vời là họ cảm thấy khó chịu về cuộc xâm lược Ukraina của Nga, rằng vấn đề hạt nhân là trọng tâm, hay như họ phản đối sử dụng vũ khí hạt nhân, hay dọa dùng vũ khí hạt nhân, kể cả trong bối cảnh cuộc xâm lược Ukraina.
Vấn đề này cũng đã được ông Tập Cận Bình đề cập đến trong chuyến thăm cấp nhà nước đến Nga và trong cuộc gặp với Vladimir Putin hồi tháng 3/2023. Tuy nhiên, hai tuần sau, Nga thông báo triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ Belarus, nhưng Trung Quốc không tỏ ra khó chịu, cũng không công khai bày tỏ bất mãn, chỉ trích…
Đây không phải là chủ đề gây cản trở cho việc Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau. Ngược lại, mối quan hệ quân sự còn được tăng cường và các cuộc tập trận chung giữa hai nước vẫn tiếp diễn. Tôi thực sự có cảm giác rằng đó chỉ là những tuyên bố bề ngoài về tầm quan trọng của việc không sử dụng vũ khí hạt nhân, nhưng trong sâu thẳm, có một sự hậu thuẫn thực sự và được Trung Quốc khẳng định với Nga, quốc gia luôn chỉ trích NATO, phương Tây, liên minh phương Tây như là bên chịu trách nhiệm đầu tiên cho những gì đang diễn ra ở Ukraina.
Đương nhiên, tình hình phức tạp hơn nhiều, nhưng phát biểu chống phương Tây ngày càng trở nên dữ dội tại Trung Quốc hiện nay và tất nhiên là rất gay gắt ở Nga. Ở đây, có một đồng nhất trong các phát biểu cũng như lập trường về chủ đề này. »
Tóm lại, theo Alice Ekman, sự xích lại gần giữa Nga và Trung Quốc đã chống chọi được với bài trắc nghiệm chiến tranh Ukraina và tiếp tục được củng cố hơn sau cuộc tấn công của phe Hamas chống Israel. Nga và Trung Quốc kể từ giờ có thể cùng đẩy lùi sự hiện diện và tầm ảnh hưởng của các nước phương Tây tại nhiều nơi trên thế giới, kềm hãm hay ngăn chặn thế chủ động ngoại giao của phương Tây. Sự đồng nhất trong những tuyên truyền, khuyến khích sự trỗi dậy tại một số nước « phương Nam », các quan điểm chống phương Tây ngày càng mang tính chất thuyết âm mưu và dữ dội.
Nỗi căm ghét chung nhằm vào Mỹ và các đồng minh, mong muốn làm suy yếu và gạt ra bên lề phe phương Tây – cách thức duy nhất để có thể bảo đảm tính ổn định chính trị của họ theo đánh giá của hai đối tác này – là những yếu tố thúc đẩy hai nước xích lại gần nhau hơn và liên kết họ chặt chẽ hơn bao giờ hết. Bởi vì, trong nhãn quan của Vladimir Putin và Tập Cận Bình, đây là lúc cho sự lên ngôi của một thế giới hậu phương Tây và họ hy vọng rằng có thể cùng nhau đạt được điều đó !
Những ngày đầu tháng 2/2024, nhiều con tim hướng về Senegal, đất nước châu Phi nhỏ bé 18 triệu dân, từng được coi là ‘‘ốc đảo dân chủ’’ của vùng Tây Phi, nơi đang bị quân thánh chiến Hồi Giáo đe dọa, đảo chính quân sự diễn ra tại nhiều nước, ảnh hưởng của Nga và Trung Quốc gia tăng. Bầu cử Senegal bị hoãn trong lúc đảng đối lập chính bị giải tán, các thủ lĩnh bị bắt giam. Dân chúng phẫn nộ.
Ngày 03/02, ngay sau khi tổng thống Marky Sall, cầm quyền từ năm 2012, bất ngờ tuyên bố hoãn cuộc bầu cử dự kiến (ít giờ trước khi cuộc tranh cử ba tuần lễ), dân chúng ngay lập tức xuống đường chống lại hành động bám víu quyền lực của tổng thống mãn nhiệm, điều được coi là chưa từng có kể từ khi Senegal độc lập, một cuộc ‘‘đảo chính’’ chống lại Hiến pháp.
Tính chất dễ tổn thương của một nền dân chủSenegal là một trong các quốc gia dân chủ hàng đầu tại châu Phi. Trước cuộc bầu cử 2019, Senegal vốn được xếp vào nhóm ‘‘các nền dân chủ còn khiếm khuyết’’ (Flawed democracies), ngang với các quốc gia như Ba Lan, theo xếp hạng của Economist Group. Khủng hoảng tại Senegal một lần nữa khiến nhiều người đặt câu hỏi về khả năng chống chọi với khủng hoảng của một chế độ dân chủ đa đảng. Trong những điều kiện nào một chế độ dân chủ đa đảng, vận hành theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền, có thể vượt qua được khủng hoảng lớn, đặc biệt trong giai đoạn chuyển tiếp quyền lực?
Khủng hoảng tưởng như không có lối ra. Tính từ năm 2021, tức sau khi khủng hoảng bùng lên với việc Ousmane Sonko, lãnh đạo đảng đối lập chính Pastef bị bắt, đã có hàng chục người chết trong các vụ đụng độ với cảnh sát. Tuy nhiên, chỉ ít tuần sau quyết định hoãn bầu cử của tổng thống, thay đổi ngoạn mục diễn ra. Các lãnh đạo đối lập được thả, bầu cử được tổ chức với sự giám sát quốc tế. Chính trị gia Bassirou Diomaye Faye, 44 tuổi, một cựu nhân viên ngành thuế, được trả tự do ngày 14/03, đúng vào lúc cuộc tranh cử tổng thống bắt đầu. Ngày 24/03, ông Bassirou Diomaye Faye nhận được hơn 54% phiếu bầu của cử tri, đắc cử ngay vòng một. Tổng thống mãn nhiệm, Marky Sall, cầm quyền từ năm 2012, chủ trương ủng hộ thủ tướng mãn nhiệm, đã nhanh chóng thừa nhận chiến thắng của đối thủ. Phép lạ nào đã dẫn đến tình thế đảo ngược ngoạn mục như vậy?
Tòa án Hiến pháp độc lậpCó thể thấy độc lập tư pháp là tác nhân trực tiếp tạo điều kiện cho thắng lợi của ứng cử viên đối lập. Ngày 15/02, Tòa Bảo Hiến Senegal ra phán quyết hủy bỏ luật Quốc Hội (bị các dân biểu đối lập tẩy chay) và sắc lệnh của tổng thống yêu cầu hoãn kỳ bầu cử đến cuối năm. Tòa Bảo Hiến Senegal yêu cầu chính quyền tổ chức bầu cử trước khi nhiệm kỳ của tổng thống Macky Sall kết thúc ngày 02/04.
Trên đài RFI, nhà chính trị học Gilles Yabi, người sáng lập WATHI, nhóm tư vấn chuyên về chính trị Tây Phi, trong bài ‘‘Tòa Bảo Hiến đã cứu vãn các định chế chính trị Senegal’’, nhấn mạnh đến tính chuyên nghiệp của các thẩm phán, thực hiện đúng nghĩa vụ giám sát việc tuân thủ Hiến pháp, và quyết định đưa ra nằm đúng trong quyền hạn của định chế tư pháp tối cao này. Theo nhà chính trị học Gilles Yabi, so sánh với tình hình tại ‘‘nhiều quốc gia châu Phi nói tiếng Pháp, nơi tất cả các định chế nhà nước bị quyền lực áp đảo của tổng thống chi phối’’, phán quyết vừa qua của Tòa Bảo Hiến Senegal rõ ràng là ‘‘dũng cảm và đáng được ca ngợi’’.
Quân đội: Đặt chế độ Cộng hòa lên trên đảng pháiNgay trước thềm cuộc bỏ phiếu, ngày 22/03, đài Pháp TV5 Monde có bài ‘‘Senegal có thực sự là một mô hình của dân chủ ?’’, cung cấp thêm nhiều góc nhìn khác giúp làm rõ phép lạ nào đã dẫn đến tình thế đảo ngược kỳ lại nói trên. Trong số các nguyên nhân được nêu ra, có vai trò đặc biệt quan trọng của quân đội, là lực lượng bảo vệ chính thể Cộng hòa. Theo ghi nhận của nhà chính trị học Babacar Ndiaye, ‘‘Senegal là quốc gia duy nhất trong khu vực không bị đảo chính quân sự kể từ khi độc lập’’.
Khâu đào tạo các chỉ huy quân đội đóng vai lớn. Theo nhà chính trị học Mahamadou Seck, ‘‘Các thành viên trong quân đội Senegal cũng trải qua các đào tạo gần giống với bên dân sự. Họ được học tập tại các trường đại học và tiếp xúc với thực tế. Một chỉ huy cao cấp trong quân đội Senegal có thể trao đổi thoải mái và có chiều sâu về các vấn đề lớn của thế giới. Điều đó có nghĩa là họ không thuộc giới võ biền. Tư duy của họ dựa trên các khái niệm, các mối quan tâm gắn bó mật thiết với lý tưởng của một nền Cộng hòa’’.
Phẩm chất nói trên của quân đội Senegal là một điều kiện quan trọng đối với những giai đoạn chuyển đổi quyền lực. Giá trị này càng nổi rõ trong bối cảnh đảo chính diễn ra tại hàng loạt quốc gia láng giềng như Mali, Burlkina Faso, Tchad, Niger, hay Guinea...
Đảng đối lập kiên định và linh hoạtCùng với vai trò của Tòa Bảo Hiến độc lập, một nhân tố khác trực tiếp quyết định thắng lợi, đó là đảng đối lập chính và các lãnh đạo đối lập chủ chốt đã không từ bỏ mục tiêu, bất chấp việc đảng bị giải tán, nhiều lãnh đạo bị bắt giam.
Đảng Pastef (tên đầy đủ là đảng Những người Phi châu yêu nước ở Senegal tranh đấu vì Lao động, Công bằng và Bác ái), thành lập năm 2014, bị giải thể năm 2023. Tuy nhiên, các nhà tranh đấu của đảng này đã sẵn sàng nhiều phương án nhân sự, nhằm duy trì cuộc tranh đấu trong khuôn khổ luật pháp, không bị bỏ lỡ cơ hội tranh cử tổng thống, theo thời hạn được quy định.
Cặp bài trùng Sonko và Faye một mặt tranh đấu để lãnh đạo đảng Sonko, ứng cử viên tổng thống năm 2019, vốn là người rất có uy tín trong xã hội, có thể được phép tranh cử, mặt khác họ sẵn sàng cho phương án B, tức phương án để Faye, nhà lãnh đạo thứ hai, ra thay thế, nhưng chủ trương của đảng là gắn chặt hình ảnh của hai nhà lãnh đạo. Lý do là ông Faye cho dù bị bắt giam nhưng chưa bị kết án, nên không mất quyền ứng cử. Trong suốt những tháng trước bầu cử, khi họ còn ở trong tù, hay trong thời gian một tuần tranh cử, khẩu hiệu ‘‘Sonko mooy Diomaye, Diomaye mooy Sonko’’ (tức ‘‘Sonko là Diomaye, Diomaye là Sonko’’) có mặt trên khắp mọi miền đất nước.
Xã hội dân sự: Thiết tha với dân chủ và khao khát ‘‘sang trang’’Việc một người mới ra tù 10 ngày có thể đắc cử tổng thống có thể là một điều kỳ lạ với rất nhiều người ngoài cuộc, nhưng có lẽ không hẳn là kỳ lạ đối với nhiều người dân Senegal, những người tham gia làm nên chính ‘‘phép lạ’’ ấy. Nhà phân tích chính trị Aliou Ndiaye tin tưởng là ‘‘lựa chọn chế độ dân chủ, sống trong một chế độ mà chủ quyền tối thượng xét đến cùng là thuộc về người dân… đã là sự lựa chọn không thể đảo ngược đối với từ 99 đến 100% dân Senegal’’. Chuyên gia về bầu cử Mamadou Seck có phần tỏ ra dè dặt hơn khi ghi nhận, ‘‘tình trạng nghèo khó’’, không độc lập về kinh tế, có thể khiến cử tri ‘‘không hoàn toàn được tự do trong lựa chọn’’, lá phiếu có thể bị mua chuộc bằng tiền. Cuộc bỏ phiếu ngày 24/03 rút cuộc đã được hơn 60% cử tri tham gia, ít hơn so với cuộc bầu cử năm 2019, nhưng nhiều hơn cuộc bỏ phiếu 2012.
Đứng ở tuyến đầu của cuộc phản kháng chống tổng thống Macky Sall là các nghệ sĩ nhạc rap. Đối với giới hip hop ở Dakar, các ca khúc, các buổi biểu diễn chuyển tải tinh thần chính trị và hành động công dân đã trở thành một truyền thống. Đúng vào giữa Cúp bóng đá châu Phi (Coupe d’Afrique des Nations) đầu tháng 2 vừa qua, sau khi tổng thống ra sắc lệnh hoãn bầu cử, ban nhạc nổi tiếng Positive Black Soul trở lại với ca khúc Finale (Trận chung kết).
Nghệ sĩ rap dấn thân, đứng về phía nhân dânTheo đài Radio France, sau hơn 20 năm sự nghiệp, Positive Black Soul vẫn ‘‘duy trì phong độ’’. Bài hát Trận chung kết mượn ngôn từ bóng đá để lên án quyết định hoãn bầu cử của tổng thống mãn nhiệm: ‘‘Không gì có thể thay đổi luật chơi ! Hai hiệp là hai hiệp !’’ (nul ne peut changer la règle, deux mi-temps, c’est deux mi-temps).
Nghệ sĩ Didier Awadi, thủ lĩnh của Positive Black Soul, ‘‘là người không bao giờ sợ hãi khi nói lên thật to, thật rõ những gì mà nhiều người Senegal chỉ dám nghĩ thầm’’. Những ca từ tranh đấu, với âm hưởng mãnh liệt của nghệ sĩ nhạc rap sinh năm 1969, đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử nhạc rap Senegal những năm 2000. Cách nay ba năm, ngay khi làn sóng phản kháng bùng lên chống lại việc bắt giữ lãnh đạo đối lập, ban nhạc Positive Black Soul đã ‘‘trực diện tấn công’’ tổng thống Macky Sall, với nhạc phẩm Bayil Mu Sedd bằng tiếng wolof (một trong sáu ngôn ngữ quốc gia của Senegal), kêu gọi bảo vệ nền dân chủ, chống độc tài.
Cả một thế hệ trẻ đã đứng dậy: ‘‘Một thế giới khác là có thể’’Trả lời phỏng vấn RFI sau cuộc bầu cử, nghệ sĩ Didier Awadi ghi nhận: ‘‘Chỉ trong vòng hai ba năm, cả một thế hệ trẻ mới đã đứng lên. Họ hết sức quan tâm đến chính trị. Cả một khối quần chúng đông đảo quan tâm đến chính trị. Có cả các bạn thiếu niên rất trẻ. Còn chưa đến tuổi bầu cử, nhưng họ đã biết rất rõ về các ứng cử viên. Những tranh luận sôi nổi diễn ra trong nội bộ các gia đình, nhưng vấn đề quan trọng là tất cả đều quan tâm đến chính trị, và mọi người đã lựa chọn. Giờ đây chúng ta có một tổng thống trẻ tuổi, đại diện cho sức trẻ của xã hội Senegal.’’
Cụ thể người dân Senegal mong muốn và chờ đợi gì với lãnh đạo mới? Nghệ sĩ Didier Awadi tóm lược: ‘‘Mọi người, từ con cái của nông dân đến con cái của tổng thống, đều phải được hưởng các cơ hội như nhau. Trông đợi là rất lớn : Chính quyền mới phải đặt lợi ích quốc gia lên trên. Phải mở ra với thế giới, nhưng cần bảo vệ trước hết những người nông dân, ngư dân của chúng ta. Cần phải tiến hành việc chế biến các nguyên vật liệu ngay tại đất nước chúng ta. Cần phải sửa chữa nhiều sai lầm của chúng ta, tấn công vào nạn tham nhũng. Chính tệ nạn này đã làm cho chúng ta mất rất nhiều tiền của. Củng cố các định chế nhà nước để có thể chống lại bất cứ lãnh đạo có xu hướng độc tài nào.
Tân tổng thống có lợi thế là ông làm việc trong ngành thuế, nên ông hiểu nạn tham nhũng từ bên trong. Ông ấy biết phải thay đổi như thế nào từ bên trong. Một khi trên thượng đỉnh quyền lực, các vấn đề này được sửa chữa, tôi tin rằng xã hội bên dưới cũng thay đổi thái độ. Nếu như ta có kỷ luật, không tham nhũng, thì không gì ngăn cản Senegal nhanh chóng trở thành một đất nước mà chúng ta mơ ước. Chúng tôi tranh đấu cho một nền chính trị cánh tả, một cách điều hành đất nước kiểu khác, và chủ trương xây dựng một cộng đồng Liên Phi là điều xuyên suốt các hoạt động của chúng tôi. Một thế giới khác là có thể, một đất nước Senegal khác là có thể !’’.
‘‘Một thế giới khác là có thể’’ (Un autre monde est possible) cũng là tên một album của Didier Awadi ra đời cách nay gần hai mươi năm.
‘‘Phép lạ’’ dân chủ: Các cội rễ sâu xa và những thách thức thường trựcMột chế độ dân chủ chưa bảo đảm cho một quốc gia có được một sức mạnh kinh tế vượt trội, một uy lực chính trị lớn trên trường quốc tế. Nhưng một chế độ dân chủ rõ ràng có thể giúp cho một đất nước duy trì được hòa bình trong nội bộ, khi những tiếng nói khác biệt được tôn trọng, cho phép xã hội có nhiều khả năng điều chỉnh hướng đi, giảm bớt nguy cơ rơi vào hỗn loạn.
Với hơn nửa thế kỷ độc lập, gần nửa thế kỷ thực thi chế độ dân chủ đa đảng, xã hội Senegal dường như đã hiểu rõ bằng cách nào mà giai đoạn chuyển đổi quyền lực có thể diễn ra trong hòa bình với tổn thất tối thiểu. Câu chuyện về người ra tù 10 ngày đắc cử tổng thống Senegal cho thấy sự dẻo dai của nền dân chủ châu Phi này.
Kinh nghiệm trong cuộc bầu cử tổng thống của Senegal tháng 3/2024 một mặt thể hiện phần dễ tổn thương của một chế độ dân chủ, mặt khác cũng cho thấy sức mạnh kỳ diệu của chế độ dân chủ. Sau hơn nửa thế kỷ thực hành dân chủ, với cuộc bầu cử gay cấn vừa qua, xã hội Senegal một lần nữa đã vượt qua sóng gió. Đất nước Senegal một lần nữa siết chặt đoàn kết, để có thể dồn sức đương đầu với các thách thức mới.
Một trong những thách thức sống còn với nền dân chủ là duy trì đoàn kết xã hội. Để tiếp tục được phép lạ ‘‘dân chủ’’, theo nhiều nhà quan sát, Senegal không chỉ cần tiếp nối các điểm ưu việt của chế độ dân chủ hiện đại, hình thành từ nửa thế kỷ nay, với sự thúc đẩy của cố tổng thống người Công Giáo Léopold Senghor, tại một đất nước mà đa số dân theo đạo Hồi. Mô hình dân chủ đặc sắc của Senegal cũng bám rễ sâu trong các thể chế cộng đồng nhiều thế kỷ. Tân tổng thống Bassirou Diomaye Faye, trong chuyến công cán trong nước đầu tiên, đã chọn gặp đại diện một số cộng đồng Hồi Giáo truyền thống, được nhiều nhà quan sát nhìn nhận như lá chắn giúp đất nước chống lại Hồi Giáo cực đoan.
Ngày 28/03/2024, Nga, thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An, đã phủ quyết việc triển hạn công tác của ủy ban chuyên gia của Liên Hiệp Quốc, có nhiệm vụ giám sát các lệnh trừng phạt Bắc Triều Tiên. Trong cuộc bỏ phiếu này, Trung Quốc đã vắng mặt. Theo nhiều nhà phân tích, sự việc dự báo một tương lai « đen tối » cho việc thực thi các lệnh trừng phạt Bình Nhưỡng.
Chuyện gì đã xảy ra ?Từ năm 2006, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã ban hành các lệnh trừng phạt Bắc Triều Tiên do nước này vẫn tiền hành các chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân. Những biện pháp đó đã được siết chặt hơn vào năm 2016 và 2017. Tuy nhiên, sau khi Bình Nhưỡng thử vũ khí hạt nhân lần thứ hai vào năm 2009, một nhóm chuyên gia đã được thành lập – với sự hỗ trợ từ Nga và Trung Quốc – để giám sát và báo cáo mọi hành động vi phạm lệnh cấm vận của Bắc Triều Tiên.
Theo thông lệ, nhiệm vụ của hội đồng chuyên gia này hết hạn vào cuối tháng Tư hàng năm và năm nay, Nga đã dùng quyền phủ quyết, ngăn chặn việc triển hạn. Trung Quốc, đồng minh quân sự duy nhất và cũng là đối tác thương mại lớn nhất của Bắc Triều Tiên, đã bỏ phiếu trắng. Bắc Kinh và Matxcơva một mặt phủ nhận vi phạm các lệnh trừng phạt, mặt khác ủng hộ việc dỡ bỏ một số lệnh cấm hiện có đối với Bình Nhưỡng, đồng thời đổ lỗi cho phương Tây đã làm trầm trọng thêm các căng thẳng.
Theo AFP, Nga đã hành động như vậy vào lúc, đầu tháng 3/2024, trong một báo cáo dài 600 trang, ủy ban chuyên gia nhấn mạnh rằng Bắc Triều Tiên tiếp tục « vi phạm các lệnh trừng phạt của Hội Đồng Bảo An », khi phát triển chương trình hạt nhân, thử nghiệm tên lửa đạn đạo, vi phạm các biện pháp trừng phạt hàng hải và các hạn chế nhập khẩu dầu lửa. Ngoài ra, ủy ban chuyên gia cho biết họ đang điều tra các cáo buộc về việc chuyển giao vũ khí giữa Matxcơva và Bình Nhưỡng, vi phạm các lệnh cấm vận. Mỹ và Hàn Quốc khẳng định Bắc Triều Tiên đã vận chuyển một lượng lớn vũ khí đến Nga để sử dụng trên chiến trường Ukraina.
Vì sao Nga phủ quyết ?Hành động này của Nga đã bị các nước phương Tây đồng loạt lên án là có nguy cơ gây ra những hệ quả nghiêm trọng cho việc « thực thi các nghị quyết của Hội Đồng Bảo An và đối phó với những hành động gây bất ổn » của Bình Nhưỡng, đồng thời « đe dọa đến cơ chế chống phổ biến hạt nhân » của quốc tế.
Đại sứ Hàn Quốc bên cạnh Liên Hiệp Quốc Hwang Joon Kook đã có những chỉ trích mạnh mẽ, ví quyền phủ quyết của Nga với việc « phá hủy một camera giám sát để tránh bị bắt quả tang ». Sự việc cũng khiến Seoul thất vọng và cảm thấy « toát mồ hôi lạnh, vốn dĩ hy vọng vào khả năng hợp tác nhiều hơn một chút từ phía Matxcơva và Bắc Kinh », theo như quan sát từ nhà địa chính trị học Olivier Guillard với RFI Tiếng Pháp.
Sự việc diễn ra trong bối cảnh những năm gần đây Matxcơva và Bình Nhưỡng tỏ dấu hiệu xích lại gần nhau hơn, nhất là từ khi Nga bị phương Tây trừng phạt vì cuộc chiến xâm lược Ukraina. Một số nhà quan sát cho rằng đây có thể là cách Nga phản đối các biện pháp trừng phạt của phương Tây nhắm vào Nga thông qua Bắc Triều Tiên.
Trước các chỉ trích từ Mỹ và các nước đồng minh, đại sứ Nga bên cạnh Liên Hiệp Quốc Vassily Nebenzia đã phản bác, cáo buộc « công việc của hội đồng này ngày càng bị biến thành một công cụ có lợi cho cách tiếp cận của phương Tây », bằng cách « đưa lại các thông tin sai lệch, phân tích các tiêu đề báo chí cũng như hình ảnh kém chất lượng ».
Thế nhưng, theo những người ủng hộ việc duy trì ủy ban chuyên gia, chính Nga và Trung Quốc đã ngăn chặn hay tìm cách che giấu những phát hiện bất lợi. Một cựu thành viên cấp cao, xin ẩn danh với Reuters vì tính chất nhạy cảm ngoại giao, cho biết :
« Báo cáo mới nhất rất thú vị, bởi vì tuy chúng đi sâu vào một số chi tiết hữu ích về tài chính và lao động ở nước ngoài, Trung Quốc hầu như không được đề cập đến. Nếu quý vị đang nói về việc vi phạm các biện pháp trừng phạt mà không nhắc đến Trung Quốc, thì điều đó thực sự không phải là sự phản ảnh đủ mức chính xác về những gì đang thực sự diễn ra. »
Hồi kết cho cơ chế giám sát trừng phạt ?Cũng theo cựu thành viên này, các báo cáo của ủy ban tuy giống như một bản tóm tắt toàn diện, nhưng chỉ là một phần nhỏ trong một câu đố lớn hơn, thường bị bỏ sót một số phần quan trọng nhất.
Trả lời AFP, Yu Hwan Koh, cựu chủ tịch Viện Thống Nhất Quốc Gia Hàn Quốc, nhận xét : « Có thể nói Nga đã tỏ ra sẵn sàng dành cho Bắc Triều Tiên một số phạm vi hoạt động nhất định khi thực thi quyền phủ quyết về các lệnh trừng phạt ở cấp độ Liên Hiệp Quốc. Nga và Bắc Triều Tiên hợp tác bởi sự cần thiết, bằng cách trao đổi một sự hợp tác quân sự và hỗ trợ kinh tế mà Bắc Triều Tiên đang cần. »
Phải chăng lá phiếu phủ quyết của Nga đã đặt dấu chấm hết cho cơ chế trừng phạt Bắc Triều Tiên ? Nhà địa chính trị học, Olivier Guillard, trả lời RFI Pháp ngữ, tin rằng quyết định này của Nga chưa hẳn là hồi kết cho cơ chế giám sát thực thi lệnh trừng phạt: « Trong một chừng mực nào đó, cơ chế này vẫn sẽ tồn tại, mọi thứ sẽ không bị dỡ bỏ. Ngược lại, điều hiển nhiên là người ta phải chấp nhận một thực tế : Bắc Triều Tiên đã thuyết phục được Nga ít chú ý hơn đến cơ chế này và nhất là đến Bình Nhưỡng ».
Đương nhiên, việc cơ chế giám sát bị giải thể có thể dẫn đến một sự hợp tác ba bên chặt chẽ hơn giữa Mỹ – Nhật – Hàn. Các bằng chứng về vi phạm lệnh trừng phạt vẫn có thể được công bố ra công chúng. Hugh Griffiths, cựu giám đốc ủy ban chuyên gia và hiện là cố vấn về các lệnh trừng phạt, nhận định với Reuters rằng « các ngân hàng và công ty bảo hiểm trên thế giới vẫn dựa vào các báo cáo độc lập để phong tỏa các tài khoản có liên quan đến mạng lưới trốn tránh lệnh trừng phạt của Triều Tiên ở nước ngoài, nên các báo cáo của cơ chế này vẫn tiếp tục được công bố. »
Tương lai « đen tối » cho việc thực thi lệnh trừng phạt ?Vẫn theo Hugh Griffiths, quyền phủ quyết của Nga cho thấy Matxcơva không muốn việc mua trái phép tên lửa đạn đạo và đạn pháo của Bắc Triều Tiên bị một cơ quan của Hội Đồng Bảo An báo cáo. Điều này cũng có nghĩa là « Vladimir Putin sẽ tăng cường hợp tác về tên lửa đạn đạo và phá bỏ lệnh cấm vận đối với chế độ Bình Nhưỡng ».
Hành động này của Nga đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cơ chế trừng phạt Bắc Triều Tiên. Kể từ giờ sẽ không có lệnh trừng phạt mới nào ở cấp độ Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trong môi trường địa chính trị hiện tại. Gánh nặng cũng sẽ gia tăng cho những nước nào phải thực thi lệnh trừng phạt, cụ thể là Mỹ và các nước đồng minh.
Về điểm này, ông Yu Hwan Koh giải thích thêm với AFP: « Các nước khác nhau có nghĩa vụ phải tuân thủ nghị quyết liên quan đến lệnh trừng phạt nhắm vào Bắc Triều Tiên, vì vậy có thể nói rằng bản thân các lệnh trừng phạt vẫn được giữ nguyên. Tuy nhiên, sẽ khó có thể xác nhận những lệnh trừng phạt đó được thực hiện một cách trung thực. »
Quyền phủ quyết của Nga rõ ràng đã mang đến cho Bình Nhưỡng những lợi ích ngoại giao hiếm có, một tín hiệu mạnh mẽ cho lãnh đạo Kim Jong Un, theo như phân tích của chuyên gia Olivier Guillard với RFI Tiếng Pháp :
« Tại Bình Nhưỡng, họ chắc chắn cảm thấy có thể tuyên bố "chúng ta sẽ có thể tiếp tục làm ăn với chế độ Nga", cụ thể là trao đổi hay gởi hàng ngàn, hàng chục ngàn container vũ khí, đạn dược cho quân đội Nga. Đổi lại, họ sẽ có được kỹ nghệ đạn đạo hay những kỹ thuật tiên tiến để mà Bình Nhưỡng có thể tiếp tục theo đuổi cuộc chạy đua điên cuồng về tên lửa đạn đạo và hạt nhân ».
Tập Cận Bình và nỗi lo về quan hệ Nga – TriềuBài phân tích trên trang Nikkei Asia (04/04/2024) còn chỉ ra rằng, mối quan hệ giữa Vladimir Putin và Kim Jong Un không chỉ mang tính chất giao dịch, mà còn là một mệnh lệnh chiến lược rõ ràng để hợp tác cùng nhau. Ở cấp độ vĩ mô, hai quốc gia này cùng với Trung Quốc và Iran tìm cách tạo ra một khối chính trị, kinh tế và an ninh, thay thế cho trật tự tự do, dựa trên những luật lệ, do phương Tây lãnh đạo. Việc Bắc Triều Tiên và Nga nằm trong số những quốc gia bị trừng phạt nặng nề nhất, đã tạo thêm một lô-gic cho sự hợp tác của đôi bên.
Ngoài ra, còn có một số lợi ích địa chiến lược không thể phủ nhận đối với Bắc Triều Tiên trong việc giữ chân Hoa Kỳ sa lầy ở Ukraina, trong khi Bình Nhưỡng thu hút sự chú ý bằng cách chế tạo tên lửa và các chương trình hạt nhân. Tương tự, Matxcơva có lợi trong việc khiến Washington phải lo lắng về tình hình bán đảo Triều Tiên nhằm giảm bớt sự tập trung chặt chẽ của Mỹ tại Ukraina. Có thể nói, quỹ đạo hiện tại của mối quan hệ Nga – Triều là hoàn toàn bất lợi cho Mỹ và các đồng minh.
Dù vậy, Nikkei Asia vẫn có chút lạc quan tin rằng, trong ván cờ này, Washington chưa hẳn là mất tất cả. Trong mối quan hệ phiêu lưu này với Bình Nhưỡng, dường như tổng thống Nga cũng phải cẩn trọng trong việc hỗ trợ chế tạo vũ khí cho chế độ Kim Jong Un, đặc biệt là trong lĩnh vực hạt nhân, e ngại rằng ông có thể vô tình chọc tức Tập Cận Bình, vốn dĩ chỉ muốn hòa bình và ổn định ở Đông Bắc Á.
Điều này giải thích vì sao cho đến nay, Tập Cận Bình vẫn do dự trong việc cung cấp hỗ trợ quân sự đáng kể cho Nga tại Ukraina và tránh ủng hộ các chương trình hạt nhân cũng như tên lửa đạn đạo của Bắc Triều Tiên. Thế nên, theo báo Pháp Le Figaro ngày 02/04/2024, Tập Cận Bình trong chiến lược cường quốc hòa bình của ông đang theo dõi sát mối quan hệ ngoại giao và những lời đồn thổi về cuộc gặp thượng đỉnh Vladimir Putin – Kim Jong Un. Tờ báo đặt câu hỏi : « Liệu Vladimir Putin có sẽ đến Bắc Kinh trước khi đến Bình Nhưỡng hay không ? »
Về phần mình, Kim Jong Un phải phân bổ số đạn dược gởi đến Nga để bảo đảm năng lực quân sự sẵn sàng chiến đấu với Hàn Quốc và Mỹ nếu có xảy ra xung đột.
Do đó, mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Nga và Bắc Triều Tiên khó có thể mang tính quyết định đối với cả hai bên. Tuy nhiên, vào thời điểm này, cùng với quyền phủ quyết của Nga, bất kỳ tiến bộ công nghệ nào trong chương trình quân sự của Bắc Triều Tiên đều gây lo ngại, Nikkei Asia kết luận.
(Nguồn AFP, Reuters, Nikkei Asia và RFI)
Bất chấp những nỗ lực ngoại giao và thái độ hòa hoãn của Washington kể từ sau cuộc đảo chính tháng 7/2023, chính quyền quân sự Niger ngày 16/03/2024 đơn phương thông báo, « có hiệu lực ngay lập tức », hủy bỏ thỏa thuận quân sự với Hoa Kỳ, đồng thời bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác với Nga. Thông báo này phải chăng là dấu hiệu sang trang sự hiện diện của phương Tây tại vùng Sahel của châu Phi?
Thỏa thuận SOFANgược dòng thời gian, ngày 06/07/2012, chính phủ tổng thống Mahamadou Issoufou đã thông qua thỏa thuận hợp tác quân sự, có tên gọi là SOFA, với Mỹ. Chương trình này bao gồm đào tạo và hỗ trợ cho lực lượng Niger trong cuộc chiến chống khủng bố. Trên làn sóng đài phát thanh France Culture ngày 20/03/2024, nhà nghiên cứu Nina Wilèn, giám đốc chương trình châu Phi, Viện Egmont, lưu ý thêm rằng quan hệ hợp tác giữa Mỹ và Niger đã có từ những năm đầu thập niên 2000:
« Giữa Mỹ và Niger đã có một số hình thức hợp tác khác nhau. Đặc biệt là thỏa thuận 2012, cho phép các binh sĩ Mỹ được tự do di chuyển trên lãnh thổ Niger, điều này là thông thường. Nhưng Niger cũng tham gia nhiều sáng kiến trong vùng mà Mỹ khởi xướng từ hơn 20 năm qua. Vào năm 2003, Hoa Kỳ đã bắt đầu sáng kiến gọi là sáng kiến Pan-Sahel, để đào tạo và trang bị vũ khí cho quân đội bốn nước vùng Sahel, trong đó có Niger. »
Hiện tại, hơn 1.000 quân nhân Mỹ, phần lớn là các thành viên lực lượng không quân trú đóng ở căn cứ không quân 201 ở Agadez, cách thủ đô Niamey 1.000 km về phía bắc. Cơ sở này được Mỹ xây dựng từ năm 2016 với một nguồn kinh phí lên đến khoảng hai trăm triệu đô la.
Tại khu phức hợp bao la này, Hoa Kỳ bố trí nhiều drone vũ trang Reaper MQ-9 công nghệ cao, được dùng cho các hoạt động giám sát một phần vùng Sahel cũng như là Libya. Căn cứ này cũng có thể tiếp nhận các loại máy bay vận tải C-17 để vận chuyển quân và trang thiết bị.
Niger trách gì ở Mỹ ?Thông báo hủy bỏ thỏa thuận quân sự được đưa ra hai ngày sau chuyến thăm Niamey của một phái đoàn Mỹ bao gồm trợ lý ngoại trưởng phụ trách các vấn đề châu Phi, Molly Phee, người đồng cấp bộ Quốc phòng Celeste Wallander và người đứng đầu Bộ Tư lệnh Mỹ tại châu Phi (AFRICOM), Michael Langley. Theo bộ Ngoại Giao Mỹ, bộ ba này tới Niamey để thảo luận về việc đưa Niger « quay trở lại con đường dân chủ và tương lai của quan hệ đối tác của đôi bên trong lĩnh vực an ninh và phát triển. »
Nhưng rốt cuộc, chuyến đi này kết thúc trong tủi nhục. Được thủ tướng Niger Lamine Zeine tiếp đón, phái đoàn Mỹ đã phải đợi lâu hơn một ngày so với dự kiến, để rồi bị từ chối gặp người đứng đầu tập đoàn quân sự, tướng Abdourahamane Tiani, mà không được nêu lý do chính thức.
Hai ngày sau, Niamey giáng tiếp cho Washington một đòn, đơn phương thông báo hủy bỏ « có hiệu lực ngay lập tức, thỏa thuận có liên quan đến quy chế quân nhân Mỹ và các nhân viên dân sự của bộ Quốc Phòng Mỹ trên lãnh thổ Niger ». Chính quyền quân sự Niger, qua lời phát ngôn viên, đại tá Amadou Abdramane, mạnh mẽ tố cáo thỏa thuận quân sự này là « không công bằng », chỉ « đơn giản được đưa ra bằng lời », và do Washington « đơn phương áp đặt ».
Theo những lời chỉ trích của Niger, thỏa thuận này buộc họ phải chi trả các khoản chi phí có liên quan đến thuế đối với máy bay Mỹ, tiêu tốn của nước này nhiều tỷ đô la. Niger tố cáo Mỹ « đơn phương hành động », khi không cung cấp thông tin về quân số và các loại thiết bị mà Mỹ triển khai trên lãnh thổ. Hội đồng Quốc gia Bảo vệ Tổ quốc (CNSP) còn cho rằng sự hiện diện của Mỹ trên lãnh thổ Niger là « bất hợp pháp » và « vi phạm mọi quy tắc Hiến pháp và dân chủ ».
Nhưng giới quan sát cho rằng còn có những nguyên nhân khác. Ban châu Phi đài RFI dẫn một nguồn tin từ bộ An Ninh Niger giải thích quyết định trên được đưa ra là do thái độ « không hợp tác » của Mỹ về chống khủng bố. Theo nguồn tin này,« hiện có khoảng 1.000 binh sĩ Mỹ ở Niger. Họ có drone, và nhiều thiết bị tinh vi khác. Nhưng họ lại từ chối chia sẻ thông tin với chúng tôi về các hoạt động di chuyển của quân khủng bố. Thật là quá đáng ! »
Mỹ can thiệp vào chính sách đối ngoại của Niger ?Ngoài việc trách cứ phái đoàn Mỹ có thái độ « bất lịch sự » trong cuộc trao đổi khi hối thúc tập đoàn quân sự « làm mọi cách để thúc đẩy tiến trình chuyển tiếp dân chủ », một điểm khác trong cuộc thảo luận này đã dẫn đến việc cắt đứt quan hệ : Đối tác ngoại giao và chiến lược của Niger.
Trong cuộc trao đổi, phái đoàn Mỹ một mặt đàm phán về việc duy trì căn cứ quân sự Mỹ ở Agadez, nhưng mặt khác Washington bày tỏ quan ngại về đà tiến của Matxcơva tại châu Phi, đặc biệt là tổ chức bán quân sự Wagner. Từ nhiều tháng qua, Mỹ tìm cách thuyết phục Niger không nên đi theo gót chân của Mali.
Hoa Kỳ cảm thấy bất an trước việc Niger hồi tháng 9/2023 xích lại gần với Mali và Burkina Faso, hai nước cũng do tập đoàn quân sự lãnh đạo sau các cuộc đảo chính, và tham gia vào Liên minh các Quốc gia vùng Sahel, rồi trước việc Niger chấm dứt hai thỏa thuận quốc phòng với Liên Hiệp Châu Âu, và nhất là trong cùng giai đoạn này, chính quyền chuyển tiếp Niger đã tiếp một phái đoàn Nga.
Không chỉ với Nga, mối quan hệ mà giới quân sự Niger duy trì với Iran cũng là một điểm gây căng thẳng. Nhà báo Serge Daniel, chuyên gia về vùng Sahel, trả lời ban châu Phi kênh truyền hình quốc tế TV5 Monde nhắc lại thủ tướng Niger hồi cuối tháng 01/2024 dẫn đầu một phái đoàn đến Teheran để thảo luận các vấn đề về năng lượng hiện tại ở Niger.
Nhà báo Serge Daniel giải thích : « Có tin đồn về việc Iran cung cấp các máy phát điện cho Niger để nước này đối phó với khủng hoảng năng lượng. Đổi lại, Iran dường như đã đề nghị Niger cung cấp uranium. Hoa Kỳ đã nêu ra vấn đề này, và điều đó chắc chắn đã không làm họ hài lòng. »
Trong bài phát biểu trên truyền hình, phát ngôn viên chính quyền quân sự Amadou Abdramane đã xem là « dối trá » những cáo buộc của Mỹ rằng Niger đã âm thầm ký kết một thỏa thuận về uranium với Cộng hòa Hồi giáo Iran.
Hệ quả nào cho Mỹ và Niger ?Theo phân tích từ một chuyên gia về Niger xin ẩn danh với kênh truyền hình France 24, giới quân sự cầm quyền và những phe ủng hộ họ dường như đánh giá cao lập trường của Mỹ khi kêu gọi ưu tiên con đường ôn hòa trước kế hoạch can thiệp quân sự của CEDEO. « Nhưng rõ ràng Mỹ đã không hiểu rằng Niamey, cũng như là Bamako và Ouagadougou, kể từ nay không muốn bị ai chỉ bảo, không theo bất cứ ai. »
Một quan điểm cũng được nhà nghiên cứu Nina Wilèn, giáo sư ngành khoa học chính trị trường đại học Lund, đồng chia sẻ trên đài France Culture, khi cho rằng có một xu hướng xoay lưng lại với phương Tây ở vùng Sahel.
« Thật sự có một mong muốn thoát khỏi tất cả các loại thỏa thuận có thể được hiểu là hạn chế quyền tự quyết của họ. Vì vậy, có một mong muốn mãnh liệt chứng tỏ rằng họ có quyền lực, rằng họ có quyền tự quyết và trên hết còn có một mong muốn duy trì quyền lực. Và do vậy, cần phải ở lại, không tiến tới chuyển tiếp hoặc tổ chức bầu cử mà họ có thể thua.
Vì vậy, nếu có bầu cử ở một trong ba nước này, đó sẽ là một cuộc bầu cử bị thao túng rất nhiều ngay từ đầu, nhưng chúng ta cũng có thể nói rằng cho đến lúc này có một bộ phận người dân đang ủng hộ sự thay đổi này. Dù vậy, ý tưởng ở đây là vẫn duy trì quyền lực và đây là những điều mà Nga có thể cung cấp cho phe quân sự, những điều mà phương Tây không thể đưa ra những đề nghị rõ ràng như thế đối với giới quân sự. »
Hệ quả nào cho Niger và Hoa Kỳ ? Nhà nghiên cứu Paul-Simon Handy, giám đốc Viện Nghiên cứu An ninh (ISS) tại Addis-Abeba, thủ đô Ethiopia, trả lời ban châu Phi đài RFI, nhận định, về phía Niger, quân đội nước này có thể mất đi một nguồn hỗ trợ hậu cần quan trọng: « Quân đội Niger được trang bị nhiều phương tiện không vận, các chiếc máy bay C-130 có vai trò quan trọng trong tất cả các chiến dịch quân sự ». Hoa Kỳ cũng có thể có những thái độ cứng rắn và trả đũa kinh tế và chính trị.
Đối với Mỹ, trên bình diện chiến lược, thông báo này của chính quyền quân sự Niamey là một đòn đau cho Bộ Tư Lệnh Châu Phi Hoa Kỳ (AFRICOM), do việc căn cứ Agadez là căn cứ quân sự quan trọng lớn thứ hai của Mỹ tại châu Phi, chỉ sau căn cứ Djibouti.
« Căn cứ drone này đương nhiên giúp Mỹ thu thập thông tin tình báo và những thông tin hữu ích cho cuộc chiến chống các nhóm cực đoan bạo lực, nhưng chắc chắn cũng để chống lại tất cả các đường dây buôn lậu và di dân bất hợp pháp.
Người ta đương nhiên cũng nghĩ đến Lybia. Ở biên giới Niger với Lybia cũng vậy. Niger chắc chắn mất đi một phương tiện quan trọng để có được các thông tin về những gì đang diễn ra ở biên giới với Libya. Còn Mỹ cuối cùng sẽ bị mất đi một nguồn thông tin tình báo to lớn về hoạt động tại Libya và xung quanh Libya. »
Hiện tại chính quyền Biden chưa có phản ứng gì ngoài ý kiến của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Mỹ Matthew Miller trên mạng xã hội X. Ông cho biết Washington đã « lưu ý đến thông cáo báo chí của CNPS và thảo luận thẳng thắn về mối quan ngại của Mỹ » liên quan đến « quỹ đạo » của chính quyền. Ông nói thêm rằng Hoa Kỳ vẫn đang liên lạc với chính quyền và sẽ cung cấp thêm thông tin « nếu cần thiết ».
Nga phục kíchTheo AFP, sự việc cũng cho thấy rõ Nga đang tiến các quân cờ của họ tại châu Phi. Trong thế phục kích, Matxcơva chực chờ chớp lấy thời cơ tại khu vực. Chính sách của Nga đối với châu Phi không những đầy tham vọng, mà ngày càng được thể hiện một cách công khai. Giữa Niamey và Matxcơva dường như đã có một hình thức đồng thuận nào đó. Nếu như tính thích đáng của mối liên minh với Nga đang làm dấy lên các cuộc tranh luận tại Niger, bà Nina Wilèn cho rằng nên đặt sự việc trong một bối cảnh địa chính trị rộng lớn.
« Vì vậy, ở Mali, chúng tôi biết rằng có ít nhất từ 1.000 – 1.500 binh sĩ Wagner, tổ chức bán quân sự có liên quan đến Prigozine, vẫn đang tiếp tục chiến đấu chống các nhóm thánh chiến và quân khủng bố phi nhà nước khác nhau. Gần đây, nhóm Wagner cũng đã sở hữu một mỏ vàng Intahaka ở Mali. Điều này là quan trọng vì chúng có nghĩa là người Nga sẽ ở đó lâu dài. Tương tự ở Burkina Faso. Kể từ tháng 01/2024, đã có ít nhất từ 100 – 200 quân Nga. Bây giờ, họ đổi tên và định dạng lại Wagner, được gọi là Afrika Korps – Quân đoàn Châu Phi.
Cái tên quyến rũ này có từ Đệ Nhị Thế Chiến – Afrika Korps của Đức ở Bắc Phi – nhưng bất kể người ta gọi là gì, những đội quân này có liên hệ trực tiếp đến bộ Quốc Phòng Nga. Họ không còn nói đến lính đánh thuê nữa, người ta nói nhiều đến tầm ảnh hưởng tiềm ẩn. Đây thực sự là một chiến lược rõ ràng nhằm mở rộng ảnh hưởng của Nga tại châu Phi rộng lớn hơn và bây giờ là rõ ràng ở vùng Sahel. »
Để thay cho lời kết luận, tuần báo Pháp Courrier International ngày 18/03/2024, lược dịch bài viết đăng trên trang « Aujourd’hui au Faso », tạm dịch là « Ngày nay ở Faso », có tựa đề « Niger cắt cuống rốn quân sự với Mỹ ». Trên trang mạng Jeune Afrique, đi kèm với bài bình luận có tiêu đề « Niger của Tiani xoay lưng lại với Mỹ » là bức biếm họa : Một bên là ảnh chú Sam năm 2012, cau mày nghiêm mặt chỉ tay nói rằng « You Need Me – Mày cần tao ». Sát cạnh là chú Sam 2024, mười hai năm sau, đôi mắt tròn xoe ngơ ngác, mồ hôi đầm đìa đứng trước một ông tướng Niger thân hình to béo, ngón tay chỉ ngược vào mình run rẩy hỏi « You don’t want me ? – Ông không cần đến tôi à ? ». Có lẽ tấm ảnh này đã nói lên được nhiều điều, xin miễn bình luận !
Nếu cuộc chiến xâm lược Ukraina của Nga làm lộ rõ sự phụ thuộc khí đốt của Đức vào Nga, thì cuộc xung đột này cũng đã « lột trần » một dạng lệ thuộc khác tại Pháp : Nỗi đắm say nước Nga. Sự thay đổi lập trường trong các phát biểu của tổng thống Pháp Emmanuel Macron, từ việc « chớ nên hạ nhục nước Nga » cho đến « Kremlin không nên thắng cuộc chiến này », cho thấy Paris đang nhọc nhằn đoạn tuyệt với Matxcơva như thế nào !
Ngày 14/03/2024, trong cuộc trả lời phỏng vấn trên hai kênh truyền hình TF1 và France 2, tổng thống Pháp Emmanuel Macron tuyên bố, « chúng ta không muốn leo thang, chúng ta không có chiến tranh với Nga, nhưng chúng ta không nên để Nga giành thắng lợi ». Một lần nữa nguyên thủ Pháp nhấn mạnh rằng việc gởi binh sĩ đến Ukraina, « tuy không là điều ông mong muốn », nhưng « tất cả những giải pháp này đều có thể », và điều quan trọng là không nên tỏ ra « yếu thế » trước Matxcơva.
Khác với cách nay gần hai năm, chủ nhân điện Elysée vẫn bày tỏ mong muốn đối thoại với Nga. Câu nói nổi tiếng « chớ nên hạ nhục nước Nga » mà ông phát biểu trước Nghị Viện Châu Âu ở Strasbourg, đông bắc nước Pháp ngày 09/05/2022 đã khiến các nước Đông Âu bị sốc và làm dấy lên nhiều chỉ trích. Tại Pháp, tuần báo L’Express có bài giải mã đề tựa « Vì sao Macron tốt nhất nên im lặng ». Làm thế nào giải thích cho sự « bẻ lái » đột ngột này của nguyên thủ Pháp ?
Paris chọn Matxcơva!Elsa Vidal, trưởng ban biên tập RFI Tiếng Nga, trong cuộc trao đổi dành cho RFI Tiếng Việt, thừa nhận bà không thể giải thích cho sự thay đổi thái độ đột ngột này từ tổng thống Pháp, nhưng động thái này khẳng định xu hướng Emmanuel Macron đang đưa nước Pháp thoát ra khỏi mối quan hệ truyền thống ưu tiên Pháp – Nga.
Elsa Vidal : « Vào tháng 6/2023, tại Bratislava, Emmanuel Macron đã có bài phát biểu lời lẽ cứng rắn hơn đối với Nga. Trong bài phát biểu này, ông ấy nhìn nhận tầm quan trọng những gì mà các nước biên giới với Nga phải trải qua. Đó là những nước hoặc bị Nga chiếm đóng trong suốt thời kỳ Liên Xô, hoặc bị Nga thống trị dưới thời Sa hoàng. »
Liệu đó có là hồi kết cho một chương dài thân Nga ? Bởi vì, từ hơn nửa thế kỷ qua, « Paris đã chọn Matxcơva », Elsa Vidal đã mở đầu như thế trong tập sách « Mê đắm nước Nga. Ba mươi năm chính sách "chiều lòng" Nga của Pháp ». Nga chiếm một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Pháp đến mức đôi khi mù quáng. Từ Emmanuel Macron, cho đến Nicolas Sarkozy, xa hơn nữa là Jacques Chirac, François Mitterand… Paris luôn tìm cách « reset » – làm mới lại – mối quan hệ với Matxcơva. Một chính sách gần như là « bất di bất dịch ».
Elsa Vidal : « Điều làm cho tôi ngạc nhiên khi viết tập sách này, tôi chợt nhận ra rằng, ngoại trừ nhiệm kỳ tổng thống François Hollande, lập trường của tất cả các tổng thống Pháp từ khi Nga tiếp nối Liên Xô là hầu như không thay đổi. Lập trường này xem Nga như là một phương cách để cố gắng cân bằng ảnh hưởng của Mỹ, một sức ảnh hưởng mà Pháp cho là quá mức và nguy hiểm cho quyền tự quyết của Pháp. Đây là một truyền thống mà người ta thường cho là thuộc trường phái De Gaulle – Mitterand. Đây chính là những gì cựu ngoại trưởng Hubert Védrine, thời tổng thống François Mitterand, đã từng nói đến. Hubert Védrine hiện vẫn là một nhân vật rất có ảnh hưởng trong lĩnh vực quan hệ quốc tế. »
« Chớ hạ nhục nước Nga ! »Chính sách này bắt đầu từ ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến và đầu thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Trong mong muốn tìm lại tầm ảnh hưởng, một vị thế trên trường quốc tế và nhất là trong tư tưởng bài Mỹ mạnh mẽ, tướng De Gaulle năm 1966 đã đưa ra một chính sách được thể hiện rõ qua ba thuật ngữ « Lắng nghe, Hòa dịu, Hợp tác », vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho mối quan hệ mà Paris muốn thiết lập với Matxcơva. Di sản này có một sức ảnh hưởng to lớn trong đời sống chính trị, một « kim chỉ nam » cho nền ngoại giao Pháp trong mối quan hệ với Nga, được hầu hết các đảng phái chính trị Pháp bám lấy suốt hơn nửa thế kỷ qua.
François Mitterand có lẽ là người bám chặt nhất tư tưởng này của tướng De Gaulle khi chủ trương một chính sách « Bạn bè, Đồng minh nhưng không Liên kết » với Mỹ. Paris mong muốn là một nước « trung gian tất yếu » giữa Đông và Tây, theo như nhận xét của Marie-Pierre Rey, nhà sử học, chuyên gia về quan hệ Pháp - Nga với Elsa Vidal (trang 45). Nhưng đến thời Jacques Chirac, Paris như một kẻ yêu say đắm Matxcơva. Ưu tiên cho mối quan hệ với Nga, Pháp đôi khi không ngần ngại đi trái ý, gây bất lợi cho các nước đồng minh, mà cuộc chiến tranh tàn khốc ở Chechnya là một ví dụ điển hình.
Nên khi nói rằng « chớ nên hạ nhục nước Nga », Emmanuel Macron chưa phải là người đầu tiên thốt lên câu nói này. Năm 1995, tại thượng đỉnh nhóm G7 tổ chức Halifax, New Scotland, Canada, Jacques Chirac đã cho rằng xung đột ở Chechnya là « chuyện nội bộ » của Nga, và có lời cảnh cáo các đồng nhiệm rằng « hãy cẩn thận đừng bao giờ làm nhục nước Nga ».
Elsa Vidal : « Trong số các lãnh đạo Pháp, người đầu tiên nói về sự hạ nhục này là ông Jacques Chirac, người "yêu say đắm" nước Nga nhất. Ông ấy biểu hiện sự gắn bó này qua văn hóa Nga, vốn là một lá chủ bài thật sự của Nga trên trường quốc tế. Jacques Chirac đã có những phát biểu rất mạnh mẽ như thế trên trường quốc tế khi nói rằng không phải bởi vì Nga đang trải qua một giai đoạn suy yếu mà nước này ngưng là một nước vĩ đại, vì thế không nên hạ nhục Nga. Nói một cách khác, chúng ta có nguy cơ gánh lấy những hệ quả khủng khiếp.
Emmanuel Macron, ông ấy cũng đi theo truyền thống đó. Cũng cần nói thêm rằng phát biểu về sự sỉ nhục này, trước hết là một diễn ngôn do các lãnh đạo Nga tạo ra để giải thích cho mong muốn tìm lại thế mạnh của họ trên trường quốc tế. Chúng ta có thể hiểu được điều này, rằng Nga nuối tiếc thế mạnh mà họ đã có khi Liên Xô từng là một tiếng nói có trọng lượng trong các chương trình nghị sự thế giới và tự xem như là ngang vai ngang vế với cường quốc Mỹ. »
« Reset » và tham vọng cao của Emmanuel MacronElsa Vidal thừa nhận, ao ước tìm lại vị thế cường quốc và sức ảnh hưởng, không chỉ ở giới lãnh đạo Nga, đi đầu là ông Vladimir Putin, mà còn ở một bộ phận lớn cử tri Nga. Điều mà bà phê phán là một bộ phận giới tinh hoa Pháp sử dụng lại lập luận này như thể họ đang sử dụng quan điểm của Nga để giải mã các sự kiện.
Trong chính sách « Reset » này, Emmanuel Macron có lẽ là vị tổng thống năng động nhất. Ngay những ngày đầu nhiệm kỳ năm 2017, vị tổng thống trẻ tuổi nhất của nền Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp, không ngần ngại trải thảm đỏ, long trọng nghinh tiếp đồng nhiệm Nga Vladimir Putin tại cung điện Versailles tráng lệ. Tham vọng là nhằm xây dựng lại quan hệ Pháp – Nga đã bị rạn nứt từ sau vụ sáp nhập bán đảo Crimée, vượt qua những chia rẽ giữa phe mang tư tưởng Đại Tây Dương và bên chủ nghĩa hiện thực, chủ trương tự chủ, cũng như là chia rẽ giữa phe thân Nga và chống Nga.
Elsa Vidal : « Vào thời điểm đó, cách tiếp cận của Emmanuel Macron quả thực là một phần trong truyền thống lâu đời. Đầu tiên, đơn giản nhất là truyền thống của Mỹ. Năm 2013, Barack Obama đã cố gắng tái khởi động quan hệ với Nga nhưng không thành công. Tôi nghĩ rằng ông Macron muốn thành công ở điểm mà Obama đã thất bại.
Rồi trong truyền thống Pháp, trong các nghiên cứu mà tôi thực hiện cho tập sách, tôi phát hiện ra rằng chiến lược « Reset » đầu tiên, ý định tái khởi động quan hệ đầu tiên với Nga đã diễn ra vào năm 1867 ở Paris. Vào thời điểm đó, Pháp và đế chế Sa hoàng lo lắng trước đà gia tăng sức mạnh của Phổ, sau này là nước Đức. Cả hai nước tự nhủ rằng thật là đáng tiếc nếu không liên kết để có thể chống Đức.
Chính ở điểm này mà Nga hay Liên Xô từng được một số nước, đặc biệt là Pháp xem như là một liên minh ngược, nghĩa là để đối trọng với cường quốc Đức, rồi chống lại hay cân bằng cường quốc Mỹ. Truyền thống này đã được hình thành ở Pháp, và là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong chính sách đối ngoại của Pháp mà tôi có dịp nhận thấy qua cuốn sách này. Chủ nghĩa chống Mỹ, tôi không nói là tất cả, nhưng ngự trị một phần lớn trong các chính đảng Pháp. »
Pháp – Nga cùng cảnh ngộ : Nỗi hoài niệm về một đế chế xa xưa ?Cũng giống như nhiều nhà quan sát khác, Elsa Vidal, cho rằng Pháp theo đuổi chính sách « Reset » với Nga còn vì Paris và Matxcơva có một gạch nối chung : Nỗi hoài niệm về một tầm ảnh hưởng đã mất.
Elsa Vidal : « Tại Pháp, việc người ta có thể dễ dàng sử dụng thuật ngữ "hạ nhục" từ phía Nga là bởi vì Pháp cũng là một cựu đế chế, và việc mất đế chế này vẫn bị tiếc nuối bởi nhiều chính khách Pháp cũng như là một số người Pháp, những người sinh ra vào thời điểm mà Pháp vẫn còn đế chế thuộc địa.
Tôi nghĩ đến những người còn biết đến chế độ thuộc địa gần đây nhất, bị tan rã trong những năm 1960 sau những cuộc chiến tranh giành độc lập. Tôi cho rằng chính vì một bộ phận cử trị Pháp và nhiều chính khách Pháp vẫn còn hoài niệm về tầm vĩ đại, thế mạnh và đế chế mà họ có một sự đam mê đối với mô hình Nga bởi vì Nga cũng đã khôi phục được đế chế của mình lần đầu tiên vào năm 1917, sau khi chế độ Sa hoàng biến mất.
Những người Bôn-sê-vich đã tạo dựng lại đế chế dưới hình thức Liên Xô và vào năm 1992, sự biến mất của Liên Xô đã mở ra một giai đoạn mới với việc tìm kiếm một tầm ảnh hưởng mà đế chế thuở xưa đã có. Và người ta đã thấy điều đó qua năm cuộc chiến tranh do Nga tiến hành, không chỉ do ông Putin thực hiện. Do vậy, người Pháo đôi khi cũng rất lắng nghe các phát biểu từ Nga bởi vì Pháp cũng vậy, Pháp có một sức mạnh to lớn và thật khó mà từ bỏ thế mạnh đó. »
Chỉ có điều, đây là một mối tình đơn phương, Paris « say đắm » nhìn Matxcơva, nhưng nước Nga của Vladimir Putin lại có một mục tiêu cao hơn để đeo đuổi. Nếu như Paris xích lại gần Matxcơva để cân bằng quan hệ với Washington thì, Nga chỉ muốn thu hút sự quan tâm của Mỹ. Trang 34, Elsa Vidal viết : « Một điều chắc chắn là Vladimir Putin nỗ lực tìm lại vị thế có thể đối xử ngang vai ngang vế với Mỹ trong nhiều hồ sơ quốc tế. Về phía châu Âu, ông ấy không trông đợi cũng không mong mỏi điều gì nhưng sẽ nắm bắt lấy những cơ hội nào chúng ta trao tặng cho ông. »
Mục tiêu không đạt được Nga chủ động nói lời giã biệt ? Giới quan sát thật sự bị sốc khi nhìn thấy hình ảnh một chiếc bàn dài 4 mét ngăn cách tổng thống Nga Vladimir Putin với đồng nhiệm Pháp Emmanuel Macron tại điện Kremlin vài ngày trước khi Nga quyết định tấn công Ukraina. Cuộc chiến này phải chăng đã bộc lộ thất bại chính sách « Reset » của Pháp ?
Tổng biên tập RFI Tiếng Nga lạc quan đánh giá đấy chưa hẳn là một thất bại hoàn toàn. Nhưng trước sự thay đổi thái độ của Pháp hiện nay vào thời điểm phương Tây đang đối đầu với Nga, theo đúng lô-gic, Elsa Vidal dự đoán, Nga rất có thể sẽ có những hành động trừng phạt. Pháp ngày càng trở thành một mục tiêu tấn công trong chính sách gây bất ổn của Nga. Bà cũng cẩn trọng trước việc cho rằng Pháp đã hoàn toàn thay đổi lập trường. Thời gian sẽ cho biết liệu Paris có lý hay không !
RFI Tiếng Việt xin cảm ơn Elsa Vidal, trưởng ban biên tập RFI Tiếng Nga đã tham gia chương trình.
Nước Đức đang gặp bất ổn. Kinh tế trì trệ do tăng trưởng bị suy giảm. Chính trường Đức bị phân mảnh và phân hóa sâu sắc. Gần đến kỳ bầu cử Nghị Viện Châu Âu và bầu cử vùng tại Đức, AFD, đảng cực hữu dường như đã thu hút được khoảng 20% ý định bỏ phiếu, theo một thăm dò. Liên minh cầm quyền tại Đức bên bờ tan vỡ và vị thế của thủ tướng Olaf Scholz đang bị lung lay. Phải chăng mô hình kinh tế - xã hội Đức đang đến hồi kết ?
Tại Diễn đàn Davos tháng 1/2024, bộ trưởng Tài Chính Đức, Christian Lindner phải thừa nhận « Đức không phải là một người bị bệnh mà là một người mệt mỏi sau giấc ngủ ngắn ». Quả thật, nước Đức thời hậu chiến chưa bao giờ bị căng thẳng như lúc này khi phải đối mặt với ba cuộc khủng hoảng cùng một lúc : Kinh tế, Xã hội và Chính trị.
AFD: Phe cực hữu trên đà tiếnChưa có một thủ tướng Đức nào lại bị mất tín nhiệm nhiều như ông Olaf Scholz. Từ tháng Giêng 2024, chính phủ Đức đối mặt với nhiều cuộc đình công của nhân viên đường sắt, sự bất mãn của giới y sĩ và nhiều cuộc biểu tình quy mô lớn của nông dân và tài xế vận tải đường dài.
Trong khi đó, theo một thăm dò gần đây, đảng AFD ( Con đường khác cho nước Đức ) một đảng cực hữu hoài nghi châu Âu, bài di dân, dường như có được 20% ý định bỏ phiếu, chỉ đứng sau đảng Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo Đức ( 30% ý định bỏ phiếu ). Chính trường Đức còn bị phân mảnh khi có thêm một đảng chính trị bài di dân và thân Kremlin, nhưng thuộc cánh tả.
Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà nghiên cứu Marie Krpata, Ủy ban Quan hệ Pháp – Đức, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI) trước hết nhận định Đức đang đối mặt với nhiều thách thức to lớn.
Marie Krpata : « Đây là lần đầu tiên nước Đức có một liên minh ba đảng cầm quyền ở cấp liên bang gồm đảng Dân chủ Xã hội Đức (SPD), đảng Xanh và đảng Tự do Dân chủ (FDP) – tức những người chủ trương tự do kinh tế. Hiện Đức bị suy giảm tăng trưởng 0,3% và từ năm 2022 đến năm 2023, lạm phát là ở mức 6%. Vì vậy, liên minh ba mầu này, lên cầm quyền năm 2021, trong thỏa thuận liên minh, từng dự trù một chính sách thiên nhiều về xã hội với việc tăng lương tối thiểu lên 12 euro/giờ, cũng như xây thêm 400 ngàn nhà ở, bao gồm cả nhà xã hội.
Nhưng chiến tranh Ukraina đã làm đảo lộn mọi ưu tiên. Tình hình hiện nay không giống như hồi năm 2021 và ngày nay Đức phải đối mặt với tình trạng lạm phát rất cao, giá năng lượng sẽ còn tăng lên và do vậy, có những tác động đến sức mua của các hộ gia đình và người dân buộc phải thắt lưng buộc bụng.
Quả thật, điều đó dẫn đến bất bình xã hội như những gì chúng ta đang thấy hiện nay với việc nông dân không hài lòng vì bị cắt hỗ trợ cho các phương tiện nông nghiệp. Rồi chúng ta còn thấy nhiều cuộc đình công chẳng hạn như của nhân viên đường sắt đòi tăng lương để phù hợp với mức lạm phát, hay đòi giảm giờ làm việc. »
Tăng trưởng giảm : Mô hình kinh tế Đức lỗi thời ?Các số liệu thống kê vừa được công bố gần đây cho thấy, Đức là quốc gia duy nhất trong Liên Hiệp Châu Âu có nền kinh tế bị suy thoái : GDP giảm mất 0,3% trong quý IV/2023. Nguyên nhân là vì, tuy có một nền kinh tế rất cởi mở, tập trung chủ yếu vào xuất khẩu, Đức lại phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu của Đức sang Trung Quốc giai đoạn 2022 – 2023, đã bị giảm mất 9%.
Theo giải thích của Marie Krpata, chiến tranh tại Ukraina đã làm lộ rõ những « khuyết tật » của mô hình kinh tế và công nghiệp Đức.
Marie Krpata : « Quả thực Đức có một nền công nghiệp rất mạnh. Đó là những ngành công nghiệp lớn sử dụng nhiều năng lượng, tạo nên những nét đặc trưng của mô hình kinh tế Đức, cụ thể là công nghiệp hóa học, công nghiệp sản xuất nhôm và thép. Đương nhiên đây là những lĩnh vực bị tác động nhiều nhất do giá năng lượng tăng. Vì buộc phải từ bỏ nguồn năng lượng của Nga, Đức phải tìm kiếm những nguồn cung mới, dù ở Hoa Kỳ, Bắc Âu hay trong Vùng Vịnh. Và đây là những nguồn cung năng lượng đắt đỏ gây khó khăn cho sức cạnh tranh của mô hình kinh tế Đức.
Ngoài ra, Đức còn phải đối mặt với tình trạng các đối tác thương mại nhưng cũng là các đối thủ cạnh tranh chính như Trung Quốc, Hoa Kỳ đang trang bị cho mình các chính sách công nghiệp. Những nước này có xu hướng tự cung tự cấp và do vậy, thông qua Luật Chống Lạm Phát ở Mỹ hay như Made in China 2025 tại Trung Quốc, họ đề nghị một khung pháp lý có thể hấp dẫn đối với một số doanh nghiệp nhất định được thiết lập dựa trên cơ sở công nghiệp Đức. Ở đây, đúng là có một nỗi lo phi công nghiệp hóa, nỗi lo di dời hoạt động sản xuất sang các vùng khác trên thế giới. »
Không chỉ có công nghiệp. Giá năng lượng tăng cũng sẽ ảnh hưởng đến các hộ gia đình. Trong bối cảnh này, chính phủ Đức đã quyết định dành một khoản ngân sách 200 tỷ euro để hỗ trợ người dân đối phó với tình trạng tăng giá năng lượng cũng như lạm phát.
Nhập cư bất hợp pháp: Chủ đề gây căng thẳngTrong chính sách di dân, chính phủ thủ tướng Olaf Scholz cũng đang hứng nhiều lời chỉ trích. Hiện tượng nhập cư bất hợp pháp tăng vọt từ hai năm qua, chủ yếu quả ngỏ Nga, Belarus, Hungary và Slovakia. Năm 2023, tỷ lệ đơn xin tị nạn ở Đức chiếm đến 1/3 trong toàn châu Âu, mà phần đông là người Syria, Thổ Nhĩ Kỳ và Afghanistan. Hệ thống tiếp nhận di dân tại nhiều địa phương ở Đức đã bị quá tải.
Vào năm 2015, thủ tướng Angela Merkel tuyên bố : « Chúng ta có thể làm được điều đó ». Câu nói này biểu tượng cho một xã hội rộng mở đối với di dân. Kể từ giờ, nước Đức siết chặt chính sách nhập cư. Văn hóa tiếp đón bị tan rã, người dân bức bối và di dân đang trở thành một chủ đề gây căng thẳng. Mô hình tiếp nhận dân nhập cư của cựu thủ tướng Đức Angela Merkel đang bị lỗi thời ?
Marie Krpata : « Hiện tại, câu hỏi đặt ra là làm thế nào hội nhập những người dó trên thị trường lao động của Đức ? Hơn nữa, từ năm 2022, với khoảng 1,4 triệu người tị nạn Ukraina, đã có rất nhiều người Ukraina tham gia thị trường lao động. Thế nên, hội nhập số người đó vào thị trường lao động cũng như hội nhập xã hội Đức là một vấn đề đang được đặt ra lúc này.
Như quý đài có nhắc đến đảng AFD ở phía trên, cách nay vài tháng đã xảy ra một vụ tai tiếng liên quan đến đảng này. Theo các tiết lộ, trong một cuộc họp bí mật của AFD ở Postdam, với sự hiện diện của nhiều lãnh đạo đảng cũng như là nhiều nhân vật cực hữu, vấn đề tái di dân đã được đề cập đến, chẳng hạn như tìm cách đẩy những người không phải là người Đức cũng như là những công dân Đức gốc nước ngoài ra khỏi nước Đức.
Vụ việc gây ầm ĩ. Rất nhiều người Đức đã xuống đường biểu tình trên khắp cả nước. Điều đó chứng minh rằng vẫn còn có một sự bền bỉ lớn, một sự năng động lớn của nền dân chủ tại Đức, một xã hội dân sự rất năng động. Nhưng quả thực, chúng ta cũng thấy có một xu hướng giống như của đảng cực hữu AFD, hiện đang thu hút được một ý định bỏ phiếu cao trong các thăm dò. »
Nếu như ở cấp độ liên bang, đảng này được 20% ủng hộ, thì tại các vùng ở phía Đông nước Đức, tỷ lệ này là 30%. Vào mùa thu này, các cuộc bầu cử vùng sẽ diễn ra ở các bang Thuringe, Saxes và Brandebourg, những bang ở phía Đông, nơi mà theo truyền thống các đảng cực hữu và cực tả luôn thu được kết quả cao.
Đầu tàu Đức mệt mỏi : Hậu quả nào cho Liên Âu?Theo nhận định của nữ chuyên gia về quan hệ Pháp – Đức Marie Krpata với RFI Tiếng Việt, đà tiến này của AFD có thể sẽ có những tác động trong cuộc bầu cử Nghị Viện Châu Âu sắp tới. Với một chương trình tranh cử chủ trương giải thể Liên Hiệp Châu Âu, nghĩa là một châu Âu mà ở đó các quốc gia có chủ quyền, AFD thực sự là một mô hình trong số nhiều đảng khác trong khối Liên Âu.
Trong một bối cảnh địa chính trị căng thẳng đầy phức tạp do cuộc chiến tranh tại Ukraina, chính phủ Đức đang chịu nhiều áp lực và nước Đức đang gánh chịu toàn bộ hậu quả của cuộc chiến từ việc tăng giá năng lượng cho đến lạm phát …
Marie Krpata : « Nhiều ưu tiên ở Đức đã bị đảo lộn, nhất là trên phương diện an ninh và quốc phòng, khi đưa ra quyết định tăng ngân sách quốc phòng lên mức 2% của GDP để lập ra một quỹ đặc biệt trị giá 100 tỷ euro nhằm hiện đại hóa quân đội Đức (Bundeswehr). Trên bình diện năng lượng, Đức đã cho thấy sự kiên cường và thích ứng với việc từ bỏ phụ thuộc khí đốt Nga. Về kinh tế, nước Đức cũng phải tiến hành một số thay đổi nhất định nhằm giảm bớt tính chất dễ bị tổn hại trong mối quan hệ với các nước thứ ba.
Quả thật, Đức đang nỗ lực rút ra bài học kinh nghiệm về sự phụ thuộc vào Nga về năng lượng, bởi vì nước này lệ thuộc đến 55% khí đốt Nga khi chiến tranh bùng phát. Và đặc biệt, Đức cũng đang tìm cách rút kinh nghiệm trong mối quan hệ với Trung Quốc, bởi vì kinh tế Đức và kinh tế Trung Quốc có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau. Họ mong muốn đa dạng hóa các nguồn cung cũng như thị trường xuất khẩu, các đầu ra, không phạm lại những sai lầm tương tự như đối với Nga. »
Nhiều thách thức đang đặt ra cho nước nước Đức của ông Olaf Scholz. Nếu đầu tàu kinh tế của khối 27 nước này không thể vận hành tốt, Liên Hiệp Châu Âu có nguy cơ gánh lấy nhiều hệ quả nghiêm trọng, vì có rất nhiều nước trong khối xem Đức như là một đối tác thương mại chính. Và đây là một yếu tố không thể bỏ qua, theo như kết luận từ nữ chuyên gia về quan hệ Pháp – Đức Marie Krpata !
RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà nghiên cứu Marie Krpata, Viện Quan hệ Quốc tế IFRI, đã tham gia chương trình.
Xung đột giữa Israel và phe Hamas. Các cuộc tấn công tàu hàng của phe Houthis ở Hồng Hải. Căn cứ quân sự Mỹ ở Irak, Syria hay Jordani… bị pháo kích. Iran đang mở rộng ảnh hưởng tại Trung Đông và thậm chí xa hơn nữa. Đà bành trướng này được thực hiện thông qua các nhóm lực lượng vũ trang mà Iran đang kiểm soát ở Liban, Irak, Syria và tại Yemen. Làm thế nào Iran đã có thể thiết lập và điều khiển mạng lưới các nhóm vũ trang rộng lớn này ?
« Trục kháng chiến » chống Israel bắt đầu từ Iran, Syria, Hezbollah, tân chính phủ Irak và Hamas đi qua xa lộ Syria… Syria là điểm nút cho chuỗi kháng chiến chống Israel. Vào ngày 06/01/2012, ông Ali Akbar Velayati, cố vấn chính về đối ngoại bên cạnh Lãnh đạo Tối cao Iran, đã tuyên bố như trên.
Ba kẻ thù« Trục kháng chiến » này là một trong những các thành tố cơ bản trong chính sách đối ngoại của Iran tại Trung Đông những năm gần đây. Trong nhãn quan chế độ Teheran thần quyền, « Đại Quỷ » Hoa Kỳ cùng với đồng minh « Tiểu Quỷ » Israel và Hồi Giáo hệ phái Sunni là ba kẻ thù chính. Ngoài ra, Cách mạng Hồi giáo Iran tự cho mình có trách nhiệm truyền bá hệ tư tưởng thần quyền cách mạng và đoàn kết các cộng đồng người Hồi Giáo hệ phái Shia xung quanh chế độ các giáo sĩ.
Nếu như tên gọi « Trục kháng chiến » có vẻ mang tính phòng thủ, trên thực tế, chiến lược của Cộng hòa Hồi giáo chủ yếu dựa vào chủ nghĩa bành trướng khu vực và mong muốn tiêu diệt Nhà nước Do Thái. Lòng căm thù phương Tây là « chất xúc tác » để kết nối các thành viên khác nhau cho « trục kháng chiến », từ Hezbollah Liban, cho đến Houthi ở Yemen, những nhóm vũ trang hệ phái Shia ở Afghanistan, Irak và người Palestine hệ phái Sunni.
Nhà địa chính trị Fabrice Balanche, giảng viên cao cấp trường đại học Lyon 2, chuyên gia về Trung Đông, trả lời phỏng vấn trang mạng Conflit của Pháp, nhận định thêm rằng Iran còn biết cách dựa vào cộng đồng người Shia, bị áp bức gần như ở khắp thế giới Hồi Giáo hệ phái Sunni, để thành lập các lực lượng dân quân vệ tinh của mình:
« Những khó khăn của cộng đồng người Hồi Giáo hệ phái Shia trong thế giới Ả Rập và các cuộc xung đột địa phương đã được Iran sử dụng một cách đáng kinh ngạc để thành lập các lực lượng dân quân phục vụ cho mình. Sự đoàn kết của người Hồi Giáo Shia là động lực chính cho sự bành trướng của Iran ở phía Đông. Những khó khăn đó càng kéo dài, các cộng đồng này càng hòa nhập vào hệ thống Iran và sự chia rẽ với người Hồi Giáo Sunni càng trở nên nghiêm trọng.
Chúng ta đã đạt đến điểm không thể vãn hồi, bởi vì nếu từ chối sự bảo vệ của Iran, cộng đồng người Hồi Giáo Shia sẽ phải chịu sự trả thù từ người Hồi Giáo Sunni, đặc biệt là thông qua các nhóm Hồi Giáo, như chúng ta đã thấy trong cuộc nội chiến ở Syria, nơi cộng đồng người Alawite là mục tiêu bị tấn công trước tiên của phe thánh chiến và phe nổi dậy người Hồi Giáo Sunni nói chung. »
Theo một nghiên cứu của Trung tâm Tư liệu trường Quân sự Pháp, được đăng tải hồi tháng 10/2021, việc hậu thuẫn những phe nhóm dân quân, phe nổi dậy phần lớn theo hệ phái Shia không những giúp Iran tiến các quân chốt trên bàn cờ địa chính trị tại Trung Đông, mà còn giúp chế độ Teheran tránh đối đầu trực diện với kẻ thù vượt trội về mặt quân sự.
Hasni Abidi, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Thế giới Ả Rập và Địa Trung Hải (CERMAM), trên kênh truyền hình Public Senat, nhận định đây là một phần trong chiến lược bảo đảm an ninh mà chế độ Iran tìm kiếm kể từ cuộc xung đột với Irak trong những năm 1980:
« Iran hiểu rằng cách phòng thủ tốt nhất là dịch chuyển biên giới, chứ không đợi kẻ thù đến Iran. Tất nhiên, họ có chương trình tên lửa đạn đạo, rồi chương trình hạt nhân, vì họ hy vọng trong mọi trường hợp sẽ đạt được ngưỡng hạt nhân, nhưng trên hết là phải cung cấp cho khu vực một số lực lượng nhất định, mà một số người gọi là "bên ủy nhiệm", nhưng tôi cho rằng còn hơn thế nữa : Làm thế nào dịch chuyển các cuộc xung đột, một cuộc chiến ra ngoài biên giới Iran. »
Al-Qods và Qassem Soleimani : Những quân cờ chủ lựcHầu như chỉ bao gồm các chủ thể phi nhà nước với năng lực bất cân xứng, « trục kháng chiến » này đã biết lợi dụng tình hình nội bộ bất ổn ở Irak (do cuộc chiến xâm lược của Mỹ, rồi do nội chiến) và tại Syria (nội chiến từ năm 2011) để tạo một hành lang trên bộ nối Iran đến bờ Địa Trung Hải của Liban. Hành lang trên bộ này giúp Iran được mở cửa, thay thế sự cô lập của quốc tế qua việc gia tăng ảnh hưởng trong khu vực.
Trong ván cờ này, lực lượng Al-Qods, được thành lập năm 1990 ngay sau cuộc chiến tranh Iran-Irak, là một quân cờ chủ lực. Đơn vị tinh nhuệ này, chỉ dành để thực hiện các chiến dịch ngoài lãnh thổ, trực thuộc Lực lượng Vệ Binh Cách Mạng, quân đội của Lãnh tụ Tối cao, và chỉ tuân theo mệnh lệnh của giáo chủ Ali Khamenei.
Bài nhận định về « Trục kháng chiến » của trường Quân sự Pháp cho biết lực lượng Al-Qods không hành động quân sự trực tiếp, mà chỉ là một lực lượng yểm trợ và hậu thuẫn cho các phe nhóm dân quân vũ trang nào được coi là đáng tin cậy nhất, để bác bỏ mọi cáo buộc nhắm trực tiếp vào Iran.
Do vậy, « nhiệm vụ của lực lượng này là xuất khẩu Cách mạng Hồi giáo ở Trung Đông, thành lập các lực lượng dân quân đối tác, sự hỗ trợ vật chất và tài chính, đào tạo và tư vấn. Nhấn mạnh vào việc học các kỹ thuật phi quy ước về chiến tranh, về khủng bố và tình báo (…)
Al-Qods đóng vai trò thiết yếu là điều phối các nhánh vũ trang thân Iran. Để thực hiện điều này, lực lượng Al-Qods được chia thành bốn bộ chỉ huy khu vực : Quân đoàn Ramazan (Irak), quân đoàn Rasulallah (Bán đảo Ả Rập), quân đoàn Levant (phụ trách Syria, Liban, Vùng lãnh thổ Palestine, Jordani và Israel) và quân đoàn Ansar (liên quan đến Afghanistan, Pakistan, Trung Á) ».
Nhà xã hội học Adel Bakawan, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Irak của Pháp (CFRI), cho rằng trong chiến lược này, cần phải kể đến vai trò quan trọng của trung tướng Qassem Soleimani, bị quân đội Mỹ ám sát vào tháng 1/2020 ở Bagdad, Irak, khi đang bí mật lên kế hoạch cho một cuộc tấn công vào đại sứ quán Mỹ ở Irak. Trên đài France Culture, chuyên gia về Trung Đông giải thích :
« Qassem Soleimani chắc chắn là nhân vật thứ hai sau giáo chủ Ali Khamenei ở Cộng hòa Hồi Giáo Iran. Ông là người xây dựng điều mà tôi gọi là một mô hình nhà nước Iran mới, Nhà nước Dân quân trên khắp Trung Đông, ở Syria, Iraq, Liban và Yemen. Đây thực sự là mô hình xuất khẩu, do Cộng hòa Hồi Giáo Iran và chính Qassem Soleimani phát minh ra.
(…) Đó là hiện tượng dân quân hóa nhà nước và xã hội. Nói một cách khác, tổ chức dân quân không nằm ngoài nhà nước, mà là một phần của Nhà nước, thậm chí là toàn bộ nhà nước. Việc quản lý nhà nước được thực hiện có tính hợp lý, có phương thức hoạt động, hệ thống tiêu chí, ý thức hệ và tổ chức dân quân. »
Hezbollah : Đồng minh không thể thiếuBên cạnh đó, cần phải nhắc vai trò có tính quyết định của Hezbollah ở Liban, đồng minh ưu tiên của Iran do vị trí chiến lược (lối ra Địa Trung Hải). Được Vệ Binh Cách Mạng Iran thành lập năm 1982 trong bối cảnh cuộc chiến chống sự hiện diện của Israel ở miền nam Liban, lực lượng dân quân Hezbollah ở Liban là một ví dụ điển hình cho mục đích sâu xa của « trục kháng chiến». Khi thừa nhận các nguyên lý của hệ tư tưởng thần quyền cách mạng, Hezbollah trở thành tổ chức đầu tiên không thuộc Iran cam kết trung thành với các nguyên tắc cách mạng theo tư tưởng Khomeyni.
Lực lượng này đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một tổ chức quân sự thành công về mặt hậu cần và đã xây dựng cho mình một đội quân có các kỹ năng phối hợp quân sự thực sự. Với một hỏa lực đáng kể, sở hữu từ 100 - 150 ngàn tên lửa và rốc-kết, Hezbollah đã cho thấy rõ sự khác biệt với nhiều nhóm dân quân khác khi trở thành một tác nhân phi chính phủ được trang bị vũ khí nhiều nhất trên thế giới.
Theo phân tích từ nhà nghiên cứu Jean-Loup Samaan được bài nghiên cứu của Trung tâm Tư liệu trường Quân sự Pháp trích dẫn, đây thực sự là một mối đe dọa cho Nhà nước Do Thái do lãnh thổ Israel hoàn toàn nằm trong tầm hoạt động của tên lửa Hezbollah. Theo đó, « việc phát triển kho tên lửa cùng với việc cải thiện độ chính xác của chúng (chương trình "tên lửa dẫn đường chính xác") giúp Hezbollah thiết lập "thế cân bằng khủng bố" với nước láng giềng Israel ».
Việc lực lượng dân quân Hezbollah từ năm 2005 tham gia vào nhiều chính phủ liên tiếp đã biến tổ chức này thành một tác nhân không thể thiếu trên chính trường Liban. Theo cách đó, Hezbollah đã có thể trực tiếp tác động đến các quyết định theo hướng có lợi cho những lợi ích của tổ chức này, cũng như Cộng hòa Hồi giáo Iran. Phe Hezbollah còn tự chủ được về mặt kinh tế, nên phần nào giảm nhẹ gánh nặng cho Teheran, vẫn đang hứng chịu các lệnh trừng phạt của quốc tế.
Sức mạnh răn đe của lực lượng dân quân Hezbollah với việc hàng ngàn tên lửa được Hezbollah bố trí tại nhiều khu dân cư đông đúc ở Beyrouth, nhắm vào Nhà nước Do Thái, được xem như là một thắng lợi của Iran. Đây cũng chính là mô hình « bên ủy nhiệm » mà Iran muốn tái lập ở Syria và Irak nhưng không mấy thành công do sự phân tán của nhiều nhóm dân quân vũ trang hệ phái Shia.
Các mục tiêuDù vậy, xung đột giữa Israel và Hamas bùng phát phần nào cho thấy rõ, Teheran đã đạt được các mục tiêu trong chiến lược « trục kháng chiến », qua việc kiểm soát được bốn thủ đô ở Trung Đông là Bagdad, Beyrouth, Damas và Sanaa, cũng như là gây khó khăn cho Mỹ và các đồng minh của nước này trong khu vực.
Nhà nghiên cứu Fabrice Balanche, trả lời phỏng vấn Conflit, đã tóm lược như sau :
« Ngày nay, việc xuất khẩu cuộc cách mạng Hồi Giáo đã kết thúc. Iran trên thực tế đã trở thành một cường quốc, nhưng vẫn tiếp tục đưa ra một diễn ngôn về ý thức hệ. Điều này che giấu mục tiêu đế quốc của họ được hiện thực hóa bởi trục Liban-Syria-Irak-Iran. Các phe ủy nhiệm cũng có thể gián tiếp đối đầu với Mỹ và đặt trách nhiệm về các hành động lên Hezbollah hoặc Houthi. Trên báo chí Ả Rập, người ta chế nhạo Iran vì đã để cho đồng minh Hamas của họ bị thảm sát.
Iran buộc phải đáp trả bằng cách chứng minh rằng họ đang tích cực quấy rối quân đội Mỹ ở Syria và Irak nói riêng. Họ hy vọng Lầu Năm Góc phản ứng quá mức đối với lực lượng dân quân hệ phái Shia ở Irak, để rồi chính phủ Irak yêu cầu Mỹ phải rút quân, và điều này đã xảy ra. Tuy nhiên, nếu Mỹ rời Irak, thì họ cũng phải sơ tán khỏi miền Đông Syria.
Tehran cũng đe dọa các chế độ quân chủ xứ dầu mỏ của người Hồi Giáo hệ phái Sunni từ Yemen, đã bị biến thành bệ phóng tên lửa trong khu vực. Tình hình này gây khó khăn sự phát triển kinh tế của Ả Rập Xê Út, quốc gia thỉnh thoảng bị nã tên lửa, tương tự như với Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Điều này không thuận lợi cho môi trường kinh doanh. Rõ ràng, Iran có khả năng gây hại thông qua các đồng minh của họ trong khu vực.
Trong mối quan hệ với Israel, mục tiêu của Iran là đe dọa Nhà nước Do Thái để không bị tấn công đáp trả. Nếu Mỹ quyết định tấn công trực tiếp vào lãnh thổ Iran, Teheran sẽ trả đũa bằng cách phóng vài nghìn tên lửa vào Israel từ Nam Liban và Syria. Hezbollah tạo thành lực lượng răn đe, trong khi chờ đợi Iran có vũ khí hạt nhân. »
Gói viện trợ quân sự cho Ukraina vẫn bị chặn tại Quốc Hội Mỹ. Việc Hoa Kỳ rút khỏi châu Âu dường như có thể xảy ra trước khả năng Donald Trump tái đắc cử. Nhận thức được rằng phải đầu tư nhiều hơn cho an ninh của chính mình, ngày 05/03/2024, Ủy Ban Châu Âu đã đề xuất một chiến lược mới cho ngành công nghiệp quốc phòng, nhằm trang bị tốt hơn trước mối đe dọa đến từ Nga, cũng như giảm bớt phần nào sự phụ thuộc vào Mỹ.
Tham vọng này có dễ thực hiện ? Một điều chắc chắn là các nước thành viên của khối Liên minh Bắc Đại Tây Dương, phần lớn cũng là thành viên của Liên Hiệp Châu Âu, một lần nữa đã bị « dội gáo nước lạnh » trước các phát biểu của Donald Trump. Đầu tháng 2/2024, trong cuộc vận động bầu cử sơ bộ đảng Cộng Hòa tại bang South Carolina, cựu tổng thống Mỹ tuyên bố nếu tái đắc cử, ông có thể sẽ không bảo vệ những đồng minh nào của khối NATO không đóng góp tài chính đầy đủ, trong trường hợp nước này bị Nga tấn công.
Phòng thủ : Châu Âu dưới chiếc ô của MỹLời đe dọa này của ông Donald Trump làm dấy lên nỗi lo lắng về khả năng Washington rút khỏi một tổ chức quân sự luôn « dưới sự tiếp sức của Mỹ ». Chi tiêu quân sự của các nước thành viên Liên Âu, Anh Quốc và Canada gộp lại chỉ chiếm khoảng 30% nguồn tài chính của liên minh, phần còn lại là do Mỹ bảo đảm. Các số liệu do Cơ quan Quốc phòng Châu Âu cung cấp cho thấy chỉ có 5 nước thành viên NATO, gồm Hy Lạp, Ba Lan, Estonia, Litva và Latva, là đã vượt mức quy định đóng góp đặt ra là 2% của GDP.
Michel Goya, đại tá và là nhà sử học quân sự, trên tờ Le Parisien mỉa mai đánh giá : « Chỉ khi nước biển rút thì người ta mới thấy những ai trần trụi. Tại Pháp, chúng ta đã mất 25 năm (từ năm 1990 đến năm 2015) để phá dỡ các phương tiện quốc phòng, thì bây giờ chúng ta cũng sẽ cần đến ngần ấy năm để xây dựng lại một nền tảng vững chắc ».
Tình trạng này cũng được ghi nhận tại nhiều nước châu Âu, ngoại trừ các nước Đông Âu, những quốc gia bị đe dọa nhiều nhất trước mối nguy xâm lược từ Nga. Thứ Hai, 26/02/2024, trong cuộc hội thảo tại Paris với sự tham dự của nhiều lãnh đạo các nước đồng minh, tổng thống Pháp Emmanuel Macron thừa nhận mục tiêu cung cấp một triệu quả đạn pháo cho Ukraina là sẽ không bao giờ đạt được. Hiện tại, châu Âu chỉ có 30% số đạn dược đã được trao cho Zelensky.
Chiến tranh Ukraina còn làm lộ rõ những yếu kém về nguồn dự trữ vũ khí đạn dược của quân đội các nước châu Âu sau nhiều thập niên giải trừ vũ khí. Do thiếu nguồn dự trữ, khoảng 75% trang thiết bị quân sự mới được mua sắm đã mang lại lợi nhuận cho nhiều nhà công nghiệp ngoài châu Âu, trong đó khoảng 68% là cho ngành sản xuất vũ khí của Mỹ.
Trong trường hợp Donald Trump tái đắc cử, an ninh châu Âu có nguy cơ bị đe dọa. Việc Hoa Kỳ thoái lui không chỉ sẽ gây thiếu hụt đạn dược, mà Washington còn có vai trò thiết yếu về thu thập tin tình báo cho liên minh, là quốc gia kết cấu, điều phối và tổ chức các đội quân. Châu Âu còn phụ thuộc vào Mỹ trong nhiều lĩnh vực chiến lược khác, như « khả năng vận chuyển quân sự, năng lực vệ tinh, giám sát hải và không quân và cả về hậu cần chung »
Tự chủ công nghiệp để tự chủ chiến lượcTrong năm 2022, chi tiêu quân sự của cả khối Liên Hiệp Châu Âu là 240 tỷ đô la, thấp hơn rất nhiều so với Mỹ ( 794 tỷ ), nhưng cao gấp hai lần ngân sách của Nga (92 tỷ) và gần như tương đương với Trung Quốc (273 tỷ). Chỉ có điều « châu Âu có tiền, nhưng vấn đề là số tiền này, tuy không thể phủ nhận, lại không phản ảnh một chính sách phòng thủ châu Âu liên kết chặt chẽ. Nghĩa là các nước không cùng nhau bắt tay, chỉ là những hợp tác song phương thay vì hợp sức 27 nước thành viên », bà Alexandra de Hoop Scheffer, chuyên gia địa chính trị, phó chủ tịch trung tâm cố vấn Quỹ German Marshall của Mỹ, nhận xét trên đài phát thanh France Inter.
Trong toàn cảnh này, Ủy Ban Châu Âu hôm 05/03/2024 đã đề xuất một kế hoạch mới nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp quốc phòng, giúp châu Âu tự chủ hơn trên phương diện quân sự, giảm bớt phụ thuộc vào Mỹ. Theo đề xuất của Thierry Breton, ủy viên châu Âu về thị trường nội địa, Liên Hiệp Châu Âu nên hợp nhất hai công cụ, một để mua chung vũ khí thông qua các hợp đồng đầu tư công và một để hỗ trợ sản xuất đạn dược, đã được triển khai từ năm năm 2022, chủ yếu nhằm giúp các nước trong Liên Âu hậu thuẫn cho Ukraina.
Ủy Ban Châu Âu cho rằng 27 nước thành viên nên có một chiến lược lâu dài, và sửa chữa những khiếm khuyết trong ngành công nghiệp quốc phòng của Liên Âu do 30 năm ảo tưởng về nền hòa bình sau khi Liên Xô sụp đổ hồi đầu những năm 1990. Và do vậy, Liên Âu « cần phải chuyển qua nền kinh tế chiến tranh, một phần để giúp Ukraina, một phần để bảo đảm an ninh cho khối », theo lời ông Thierry Breton, ủy viên Châu Âu phụ trách chương trình.
Ngoài ra, Liên Âu cần khoảng một trăm tỷ euro trong 5 năm tới với mục tiêu đạt 40% các khoản mua sắm vũ khí chung. Phải bảo đảm cho các nhà công nghiệp chế tạo vũ khí rằng các đơn hàng sẽ có đủ cho nhiều thập kỷ tới. Tuy nhiên, theo nhiều nhà quan sát, các dự án mua sắm chung có nguy cơ vấp phải sự do dự của nhiều nước tùy theo lợi ích chiến lược của từng quốc gia. Lĩnh vực vũ khí luôn là một chủ đề, theo định nghĩa, thuộc phạm trù quyền tự quyết của một quốc gia.
Đây chính là điều dẫn đến hiện tượng phân mảnh thị trường vũ khí tại châu Âu, gây khó khăn cho việc thiết lập một nguồn dự trữ bất kỳ. Ngược lại, Hoa Kỳ lúc nào cũng đặt mua nhiều hơn so với nhu cầu của quân đội, nên có sẵn một nguồn dự trữ trang thiết bị để có thể xuất khẩu thông qua cơ chế được gọi là Foreign Military Sales.
Trên làn sóng RFI Pháp ngữ, trung tướng Jean-Paul Perruche, nguyên tổng giám đốc bộ Tham mưu Liên Hiệp Châu Âu, cựu chủ tịch EuroDefense France, giải thích.
« Chính sách phòng thủ luôn thuộc về đặc quyền quốc gia. Việc tham vấn trong một cơ chế cạnh tranh không phải lúc nào cũng dễ dàng. Trên thực tế, các nước có xu hướng giấu bản sao của mình hơn là chia sẻ. Khi tôi còn tại chức ở bộ Tham mưu trong những năm 2000, chúng tôi nhận thấy có đến 21 chương trình phát triển xe bọc thép trong số 28 nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu vào thời điểm đó. Quý vị có thể hình dung ra đây thật sự là một sự lãng phí ! »
Đức : Mắt xích yếu cho chiến lược tự chủ phòng thủ ?Điểm đáng chú ý là trong chiến lược mới này, Liên Âu tìm cách thỏa mãn hai quan điểm đối lập về phòng thủ : Một bên, được Pháp hậu thuẫn, chủ trương tự chủ chiến lược châu Âu, bảo vệ ý tưởng mua sắm trang thiết bị quân sự châu Âu (đương nhiên là Pháp) và bên kia, thân Mỹ, cho rằng không nên chỉ khép mình trong khu vực châu Âu, « chúng ta cần có Mỹ, cần NATO và do vậy, hãy để ngỏ cánh cửa cho vũ khí Mỹ », theo như giải thích của ông Guillaume Lagane, chuyên gia về quốc phòng, giảng viên trường đại học Khoa học Chính trị (Sciences Po) Paris, với trang mạng La Tribune.
Ngoài việc dung hòa hai trường phái, đề xuất của Ủy Nan Châu Âu còn nhằm mục đích phòng ngừa khả năng bị Hoa Kỳ bỏ rơi, Liên Âu vẫn có thể có những năng lực về vũ khí và phòng thủ. Trong xu hướng này, trung tướng Jean-Paul Perruche cho rằng để có được một nền tự chủ chiến lược, châu Âu phải hợp sức thay vì hành động đơn lẻ:
« Do vậy, để có được tự chủ về chiến lược tác chiến, chúng ta cần phải có tự chủ về chiến lược, công nghiệp, phòng thủ. Bởi vì nếu chúng ta phụ thuộc vào bên ngoài về nguồn cung vũ khí, hệ thống hỗ trợ vũ khí, chúng ta sẽ gặp khó khăn. Như ông Thierry Breton đã nói, song song đó còn có mong muốn thúc đẩy ngành công nghiệp quốc phòng châu Âu và do vậy, các quyết định này đã được đưa ra với mong muốn khôi phục sự cân bằng trong các đơn đặt hàng thiết bị quốc phòng ở bên ngoài. Năm 2023, có đến 75% số trang thiết bị này được mua ở bên ngoài, chỉ có 25% là ở châu Âu. Ủy viên Châu Âu mong muốn hướng tới một sự cân bằng, 50 – 50 chẳng hạn. Để thực hiện điều này, cần phải thông qua một loạt quy định nhằm cải thiện sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp châu Âu ».
Nếu như những phát biểu gây sốc của ông Donald Trump là « cú hích » để Liên Hiệp Châu Âu đẩy nhanh tiến trình phát triển công nghiệp quốc phòng, thì những dự án được đề xuất cũng đối mặt với nhiều thử thách. Giới quan sát dự báo, trước khi các biện pháp này được thông qua, các cuộc đàm phán thương lượng sẽ là gay gắt. Ai sẽ là người « cầm trịch » để lèo lái nỗ lực quân sự này : Ủy Ban Châu Âu hay là một cơ chế liên chính phủ ? Ai sẽ là bên tài trợ dù biết rằng ông Thierry Breton có nhắc đến việc lập một quỹ trị giá 100 tỷ euro theo mô hình quỹ phòng ngừa chống Covid-19 ?
Ngần ấy câu hỏi vẫn chưa có lời giải. Nữ chuyên gia về các vấn đề địa chính trị Alexandra de Hoop Scheffer, trên làn sóng France Inter lưu ý thêm rằng, trong chiến lược này, Đức còn là một mắt xích then chốt, có nguy cơ cản trở đà tiến của chiến lược phòng thủ chung châu Âu:
« Hiện tại những gì chúng ta nhận thấy đó là một nước Đức hoàn toàn hoảng sợ trước một kịch bản Trump bis. Do vậy, thay vì nghĩ đến châu Âu như Paris, vốn không ngừng kêu gọi tự chủ chiến lược, và cần phải có một tầm nhìn kinh tế chiến tranh, thì nước Đức nghĩ đến việc tìm kiếm sự bảo đảm an ninh từ Mỹ và mua tất từ Mỹ. Ở đây, tôi muốn nói đến một dạng giảm cam kết của Đức đối với dự án châu Âu trong bối cảnh hoảng sợ. Theo quan điểm của tôi, chừng nào chúng ta chưa giải quyết được vấn đề này, thì chúng ta sẽ chẳng thể làm việc cả trong hợp tác song phương Pháp – Đức cũng như là trên bình diện châu Âu ».
Ngày 13/09/2023, lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un đã đến Vladivostok, miền Viễn Đông của Nga, gặp đồng nhiệm Vladimir Putin. Đôi bên được cho là đã ký kết một thỏa thuận về hợp tác quân sự. Một cơ hội để Bình Nhưỡng tiếp cận, cải thiện công nghệ phát triển tên lửa và hạt nhân, khôi phục nền kinh tế và nhất là, trong chừng mực nào đó, giảm bớt tầm ảnh hưởng chính trị từ Bắc Kinh.
Hãng tin Yonhap của Hàn Quốc dẫn lời bộ trưởng Quốc Phòng Shin Won Sik trong cuộc gặp với giới báo chí hôm thứ Hai 26/02/2024, khẳng định nhiều nhà máy của Bắc Triều Tiên đang hoạt động hết công suất để sản xuất vũ khí và đạn pháo cung cấp cho Nga.
Thỏa thuận vũ khí : « Phao cứu hộ » kinh tếLãnh đạo Quốc Phòng Hàn Quốc thẩm định Bắc Triều Tiên dường như đã xuất khẩu hơn 6.700 container sang Nga từ sau cuộc gặp thượng đỉnh Nga – Triều tháng 9/2023. Con số này ước tính tương đương với khoảng ba triệu đạn pháo loại 155 ly hay 500 ngàn đạn 122 ly. Trước đó, Cơ quan Tình báo Hàn Quốc còn cho rằng Bình Nhưỡng đã chuyển giao tên lửa đạn đạo cho quân đội Nga, theo các hình ảnh vệ tinh do Mỹ cung cấp.
Đổi lại, Bình Nhưỡng dường như nhận được lương thực và nhiều mặt hàng thiết yếu khác, cũng như các loại nguyên liệu và linh kiện rời để sản xuất vũ khí. Hàn Quốc ước tính toàn bộ khối lượng container gởi từ Nga sang Bắc Triều Tiên cao hơn mức xuất đi theo chiều ngược lại là 30% tính từ tháng 7 hay tháng 8/2023. Ngoài ra, Matxcơva dường như đã cung cấp cho Bình Nhưỡng nhiều công nghệ để phát triển vệ tinh.
Theo nhiều nhà quan sát, thỏa thuận vũ khí với Nga thật sự là « món lộc trời ban » cho nền kinh tế Bắc Triều Tiên, đang bị bóp nghẹt vì các lệnh trừng phạt quốc tế và hậu quả của những biện pháp phòng chống dịch Covid-19 khắt khe, đẩy hơn 60% dân số Bắc Triều Tiên xuống dưới ngưỡng nghèo khổ.
Kinh tế gia Anwita Basu, phụ trách mảng Châu Âu, chuyên về các rủi ro, thuộc Fitch Solutions, dự phóng, sau 5 năm bị suy giảm mạnh (khoảng 4,5%), kinh tế Bắc Triều Tiên năm 2024 sẽ tăng trưởng trở lại 1%, mức cao nhất trong gần một thập niên nhờ vào thỏa thuận bán tên lửa đạn đạo và hàng triệu đạn pháo cho cỗ máy chiến tranh của Nga.
Giảm phụ thuộc vào Bắc KinhHãng tin Bloomberg của Mỹ trong tuần cuối tháng 1 đầu tháng 2/2024 đưa tin nhà nước Bắc Triều Tiên dự kiến sẽ thu được ít nhất một tỷ đô la từ việc bán đạn pháo cho Nga, trong khi tên lửa đạn đạo do Matxcơva đặt hàng thường có giá vài triệu đô la.
Trên kênh truyền hình Deutsche Welle của Đức, nhà kinh tế học lưu ý ngành công nghiệp quốc phòng cùng với nông nghiệp là những lĩnh vực có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Bắc Triều Tiên : « Nền công nghiệp quốc phòng của Bắc Triều Tiên khá tiên tiến. Họ đã đầu tư và phát triển lĩnh vực này từ những năm 1950 và kho dự trữ được cho là đủ lớn để đáp ứng nhu cầu hiện nay của Nga, vì họ hiện chỉ cung cấp loại đạn pháo khá thô sơ để Nga tiếp tục các đợt nã pháo hạng nặng mà Nga hy vọng sẽ thực hiện được trong suốt 12 tháng tới hoặc lâu hơn. »
Cũng theo nữ chuyên gia này, thỏa thuận vũ khí với Nga giúp củng cố hai điều mà Bắc Triều Tiên mong muốn từ lâu : « Thứ nhất là tính chính đáng với tư cách là một quốc gia, điều mà họ vẫn chưa có được vì Chiến Tranh Triều Tiên (1950 – 1953) vẫn chưa kết thúc. Thứ hai là một nền quốc phòng và quân sự bền vững, những công cụ giúp bảo vệ chủ quyền của họ. »
Việc Bình Nhưỡng ký kết hợp tác quân sự với Matxcơva đang làm dấy lên lo ngại về một trục tam giác Nga – Trung – Triều, nhằm đối kháng với liên minh quân sự ba bên Mỹ – Nhật – Hàn. Nhưng theo ông Pascal Dayez – Burgeon, nhà sử học, chuyên gia về Triều Tiên và nhà cựu ngoại giao ở Seoul, việc Nga bất ngờ đến « gõ cửa » cầu viện lại là dịp để Bắc Triều Tiên giảm bớt phần nào tầm ảnh hưởng kinh tế - chính trị từ Trung Quốc. Trên kênh truyền hình France 24, ông phân tích :
« Đây là một cơ hội cho Bắc Triều Tiên, vốn luôn chơi trò cân bằng giữa Nga và Trung Quốc. Matxcơva đang cầu viện đến Bình Nhưỡng và do vậy, đây là thời điểm để Bắc Triều Tiên có được những thứ họ thật sự cần, chẳng hạn như dầu hỏa, mà họ đã không được nhận trong một thời gian dài do Nga ngừng cung cấp vì dịch Covid-19 ; rồi có được các hợp đồng kinh tế, cả hai nước cũng có một đường biên giới chung ; và sau cùng là không còn phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, bởi vì Bắc Triều Tiên nhìn chung vẫn bị xem là quốc gia vệ tinh của Trung Quốc. Do vậy, khi chơi lá bài Nga, Bắc Triều Tiên đang tránh xa phần nào Trung Quốc. »
Quan hệ Trung - Triều và những thăng trầmQuả thật, mối quan hệ Trung - Triều chưa bao giờ phẳng lặng, khi thì tồi tệ trong suốt cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), lúc thì nguy hiểm như trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, và có khi gặp khó khăn trong giai đoạn Chiến Tranh Lạnh.
Bắc Triều Tiên luôn bảo vệ nền độc lập và quyền tự quyết của mình vì trước hết, quốc gia khép kín nhất hành tinh này hiểu rõ là quyền tự quyết đó trong thời gian dài đã bị đặt dưới sự giám hộ hay bị đe dọa bởi quân đội Mỹ và liên quân Liên Hiệp Quốc trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên, bởi đế quốc Nhật Bản trong suốt nửa đầu thế kỷ XX, nhưng đầu tiên là bởi đế chế Trung Hoa trong quá khứ.
Trung Quốc, một cường quốc đang trỗi dậy, vốn rất lo lắng cho sự bất ổn trong vùng ngoại vi sát cạnh, từ lâu đã tìm cách can dự vào chuyện nội bộ của nước láng giềng có diện tích chỉ bằng một tỉnh của mình. Chế độ Bình Nhưỡng có lẽ sẽ không bao giờ quên việc Bắc Kinh ngang nhiên xen vào chuyện thanh lọc bộ máy nhân sự trong nội bộ Đảng Lao Động Triều Tiên năm 1956.
Théo Clément, nhà nghiên cứu về quan hệ Trung – Triều, thuộc trường đại học Lyon, trong một bài viết đăng trên tạp chí Diplomatie số ra cho năm 2017, nêu ra ít nhất hai giai thoại thật sự gây căng thẳng cho mối quan hệ giữa hai nước, mà bề ngoài luôn chứng tỏ là đồng minh : Thứ nhất là khi Trung Quốc và Liên Xô gạt Triều Tiên ra khỏi bộ chỉ huy tác chiến trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), một giai đoạn mà Bình Nhưỡng xem như là một sự sỉ nhục.
Lần thứ hai là việc Bắc Kinh từ năm 1992 không ngừng hối thúc đối tác Bình Nhưỡng thanh toán hàng nhập khẩu bằng ngoại tệ và bằng tiền mặt hơn là thông qua một cơ chế hàng đổi hàng. Sự thay đổi thái độ này của Trung Quốc đã bị ông Kim Jong Il, thân phụ của lãnh đạo Kim Jong Un hiện nay, khi ấy đang sắp trở thành « Lãnh tụ đáng kính » xem như là một sự phản bội. Cách hành xử này của Bắc Kinh ít nhiều cũng góp phần dẫn đến nạn đói kéo dài từ năm 1994-1997, khiến từ 600 ngàn đến hơn hai triệu người chết, tùy theo các ước tính khác nhau, như nhận định của nhà nghiên cứu Théo Clément.
Nô lệ kinh tếTrái lại nước Nga thời Vladimir Putin, dưới áp lực của lệnh trừng phạt quốc tế sau vụ sáp nhập bán đảo Crimée năm 2014, vì muốn tìm cách thoát khỏi thế cô lập và thắt chặt lại bang giao với Bắc Triều Tiên, nên đã xóa đến 90% nợ cho Bình Nhưỡng. Điều này có lẽ giải thích cho sự trọng thị mà Bắc Triều Tiên dành cho ngoại trưởng Nga Serguei Lavrov khi ông đến Bình Nhưỡng hồi mùa hè 2023.
Đích thân lãnh đạo Kim Jong Un đã hướng dẫn ngoại trưởng Nga tham quan nhiều nhà máy sản xuất vũ khí, theo như ghi nhận từ nhà sử học Juliette Morillot, chuyên gia về Bắc Triều Tiên, trên kênh truyền hình France 24 ngày 07/02/2024 :
« Nước Nga chưa bao giờ vắng bóng trong quan hệ ngoại giao và xích lại gần với Bắc Triều Tiên. Thông thường khi nói đến Bắc Triều Tiên, người ta nghĩ ngay đến Trung Quốc mà quên mất Nga. Theo tôi, về truyền thống và có phần nghịch lý, Bắc Triều Tiên luôn tin tưởng vào Matxcơva hơn là Bắc Kinh và Bắc Triều Tiên chưa bao giờ vâng lời Trung Quốc cả ! »
Ngoài ra, nếu Bắc Triều Tiên vẫn xem Trung Quốc như là một chất xúc tác cho sự phát triển kinh tế, cũng như là nguồn hậu thuẫn tiềm tàng trong trường hợp bán đảo Triều Tiên có căng thẳng hay xung đột, thì những hợp tác về đầu tư – kinh tế với Trung Quốc không đạt được những kết quả như ông Kim Jong Un mong đợi.
Hoàn toàn tương phản với chiến lược kinh tế của Trung Quốc với phần còn lại ở châu Á và thậm chí trên thế giới, và bất chấp hàng chục đặc khu kinh tế được thiết lập ở Bắc Triều Tiên, Bắc Kinh ít can dự vào mà chỉ để cho các chính quyền địa phương và các doanh nghiệp tư nhân tự do hoạt động, chủ yếu tập trung khai thác và nhập khẩu nguyên nhiên liệu thô giá trị thấp và xuất khẩu các mặt hàng do Trung Quốc sản xuất sang Bắc Triều Tiên. Tình trạng này khoét sâu cán cân thâm hụt thương mại và để lại rất ít triển vọng phát triển kinh tế mà Bắc Kinh từng hứa hẹn, như phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển giao công nghệ.
Nhà cựu ngoại giao Pascal Dayez – Burgeon kết luận, việc ký kết thỏa thuận vũ khí với Nga rõ ràng đang mang lại chút làn gió mới cho nền kinh tế Bắc Triều Tiên.
« Trung Quốc không muốn có quan hệ thương mại. Trung Quốc chỉ đang biến Triều Tiên thành thuộc địa bóc lột sơ cấp. Điều Bắc Kinh quan tâm là than đá, đất hiếm, nhân công mà họ có thể tuyển dụng với giá nô lệ. Đây là điều Bắc Triều Tiên muốn tránh, nhưng Trung Quốc đang làm. Trên thực tế, Bắc Triều Tiên là một thuộc địa kinh tế và thực sự theo kiểu chế độ phong kiến của Trung Quốc, do đó, khả năng hợp tác với Nga là điều kỳ diệu mới. Tuy đó chỉ là những hợp tác nhỏ, nhưng có thể mang đến chút dưỡng khí.
Đây cũng là điều mà Kim Jong Un từng hy vọng trong cuộc gặp với Donald Trump, tức là chơi trò cởi mở một chút với phương Tây để được nới lỏng các biện pháp trừng phạt. Nhưng điều đó đã không xảy ra và do vậy, ông ấy đang chơi đến cùng quân bài chiến tranh, hay chí ít ông Kim Jong Un đang nỗ làm lực làm cho chúng ta tin như vậy, nhưng mối quan hệ thương mại, sự bình đẳng giữa Trung Quốc và Triều Tiên là hoàn toàn không có ».
Nỗi lo của Bắc KinhDù vậy, việc Nga và Bắc Triều Tiên thắt chặt quan hệ quân sự, cùng với thông báo tổng thống Vladimir Putin sẽ đến thăm Bình Nhưỡng, lần đầu tiên sau chuyến thăm thứ nhất cách nay 23 năm, cũng đã khiến Trung Quốc lo lắng. Vào lúc cuộc chiến Ukraina bước sang năm thứ ba, tổng thống Nga rất có thể có mưu đồ tạo ra những điểm nóng mới nhằm chuyển hướng chú ý của phương Tây trong hồ sơ Ukraina và giảm áp lực cho Matxcơva.
Theo trang mạng thông tin L’Opinion, nguy cơ này đã được ông Fang Ning, giáo sư trường đại học Tứ Xuyên, cựu giám đốc Viện Khoa học Chính trị, thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, đánh động trong một cuộc hội thảo do đại học Nhân dân Bắc Kinh tổ chức. Theo ông, « cần phải lưu ý đến sự hiện hữu những xu hướng theo đó Nga có thể thực hiện một chiến lược như thế ở Đông Bắc Á trong năm 2024, khu vực cận kề với Trung Quốc. Điều này cần phải được quan tâm và xử lý một cách cẩn trọng ».
Dường như lời báo động này đã được Bắc Kinh lắng nghe. Chính phủ Trung Quốc thời gian gần đây đã liên tiếp có những cuộc tiếp xúc với chính quyền Bình Nhưỡng vào lúc Bắc Triều Tiên tăng cường thử nghiệm tên lửa, bắn đạn thật về phía Hàn Quốc và có những phát biểu dọa dẫm. Ngày 26/01/2024, lần thứ hai trong chưa đầy một tháng, thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Tôn Vệ Đông đã đến Bình Nhưỡng gặp người đồng cấp Pak Myong Ho !
From the publisher's feed
Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

1,811 Listeners

42 Listeners

29 Listeners

222 Listeners

15 Listeners

3 Listeners

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

6 Listeners