Tạp chí tiêu điểm

Tạp chí tiêu điểm

By RFI Tiếng Việt
Download on the App Store

Tạp chí tiêu điểm episodes

  • Quan hệ Ý - Trung sau khi Roma rời bỏ « Con Đường Tơ Lụa Mới »

    Ngày 22/10/2022, Giorgia Meloni đã được chỉ định để thành lập chính phủ mới sau khi thủ tướng Mario Draghi từ chức. Meloni thuộc cánh trung hữu theo khuynh hướng Phát-xít, nhưng không quá cực đoan đòi tách khỏi Liên Hiệp Châu Âu (EU) như Matteo Salvini. Đối với Trung Quốc, bà đã tỏ thái độ dứt khoát với Con đường tơ lụa mới, nhưng phải đến cuối năm 2023 mới tuyên bố quay lưng với sáng kiến Vành Đai và Con Đường (BRI) của Tập Cận Bình. Linh mục Phạm Hoàng Dũng từ Liège, Bỉ có bài nhận định.

    Con Đường Tơ Lụa Mới ? 

    Đối với người Ý, họ vẫn gọi sáng kiến của Tập Cận Bình là Con đường tơ lụa, có chăng là thêm vào từ « mới », vì đây là con đường mà Marco Polo, một người Ý, đã từng đi trong quá khứ.  

    Con đường tơ lụa mới, hay sáng kiến Vành Đai và Con Đường, là một thoả thuận kinh tế xuyên quốc gia do Tập Cận Bình đưa ra vào năm 2013 để củng cố vị thế kinh tế và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới. Kế hoạch dự kiến một loạt trao đổi thương mại và tạo ra cơ sở hạ tầng chiến lược trên phạm vi toàn cầu.  

    Ý là quốc gia duy nhất trong EU và G7 gia nhập dự án này dưới thời thủ tướng Giuseppe Conte vào năm 2019. Đến cuối năm 2023, chính phủ của bà Meloni phải quyết định gia hạn hay rút khỏi dự án.

    Niềm hy vọng của Ý

    Cách nay 5 năm, khi chính phủ của thủ tướng Conte ký thỏa thuận gia nhập sáng kiến Vành Đai và Con Đường của Bắc kinh, hy vọng sẽ có sự gia tăng đột biến về đầu tư tài chính trên đất Ý và về giao thương giữa hai nước. Trieste sẽ là một trong những cảng biển được chọn làm nơi đầu tư cơ sở hạ tầng của dự án, cũng như nhiều dự án khác trong các lãnh vực xây dựng, tài chính, v.v… ước tính lên tới 20 tỷ đô la. 

    Nhưng sau 5 năm, bản tổng kết cho thấy một sự thất vọng hoàn toàn. Ngay cả Tập Cận Bình cũng đã sửa đổi cấu trúc kế hoạch của ông, từ bỏ các dự án lớn để chuyển sang những dự án có mục tiêu cụ thể hơn, sau 10 năm thực hiện, nhất là Trung Quốc đang trong giai đoạn khủng hoảng sau thời gian đóng cửa vì Covid.  

    Về phần nước Ý, sau khi đã thay 3 chính phủ trong vòng 5 năm, bản tổng kết thoả thuận này cho thấy kết quả quá ít ỏi và sự mất lòng tin vào Bắc Kinh, cũng như sự phản đối gia tăng trong chính phủ Ý.  

    Ngày 23/03/2019, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đến Ý để ký bản ghi nhớ với Giuseppe Conte. Ngoại trưởng Ý lúc đó, Luigi Di Maio, cũng là kiến trúc sư của việc tham gia này, đã tổ chức những hội nghị xúc tiến thương mại nhằm khuyếch trương thương hiệu « Made in Italy » tại Trung Quốc và qua đó trên thế giới. Nhưng đó là một kết quả tiêu cực. 

    Những con số cụ thể 

    Trong năm 2019, theo Văn phòng quan sát chính trị quốc tế của Quốc hội Ý (Istat), giá trị của các lô hàng cam Ý, đặc biệt là loại cam huyết, đặc sản của miền Nam nước Ý, xuất khẩu sang Trung Quốc chỉ là 162.460 euro. Trong các năm 2020, 2021 và 2022, con số này là 0 ; ghi nhận được từ việc « xuất khẩu trái cây họ cam quýt, tươi hoặc xấy khô » từ Ý sang Trung Quốc. 

    Nhưng không chỉ có cam. Quan hệ thương mại Ý-Trung Quốc vẫn chưa khởi sắc. Xuất khẩu của Ý sang Trung Quốc tăng trưởng, nhưng chưa bao giờ có được mức tăng như mong đợi từ Roma : 13 tỷ euro năm 2019 ; 12,8 tỷ năm 2020, 15,7 tỷ năm 2021, 16,4 tỷ năm 2023. Trong khi đó, nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc vào Ý lại bùng nổ mãnh liệt : từ 31,7 tỷ euro năm 2019 lên đến 57,5 ​​tỷ vào năm 2022 (đặc biệt là hàng điện tử, quần áo, máy móc). Trung Quốc ngày nay là nhà cung cấp lớn thứ hai cho Ý, và trên thực tế Ý vẫn là đối tác thương mại thứ cấp của Bắc Kinh vì chỉ là nhà cung cấp thứ 24 và khách hàng thứ 22. 

    Ngay cả đối với các công ty Ý, Trung Quốc cũng không phải là trọng tâm : Đây chỉ là thị trường tiêu thụ thứ 10, chiếm 2,6% doanh số « Made in Italy ». Kể từ năm 2019, thái độ của châu Âu đối với Trung Quốc đã thay đổi toàn diện hơn. Dịch Covid-19 xuất phát từ Vũ Hán góp phần làm xấu đi mối quan hệ vốn đã xuống cấp. Thêm vào đó, cuộc tấn công của Nga vào Ukraina đã làm giảm mức độ tin cậy đối với các cường quốc phi dân chủ. 

    Sự dè dặt và phòng ngừa trước làn sóng Trung Quốc 

    Sau những bài học kinh nghiệm rút ra từ các nơi khác trong dự án BRI, khối 27 nước thành viên đã can thiệp mạnh vào những dự án của Trung Quốc ở Châu Âu nhằm hạn chế tầm ảnh hưởng của Bắc Kinh.  

    Dưới thời chính phủ Draghi, Ý là quốc gia nhận đầu tư lớn thứ ba từ Trung Quốc ở châu Âu trong khoảng thời gian từ 2020 đến 2021 (tổng cộng 16 tỷ USD) sau Anh và Đức. Nhưng nước này đã ngăn chặn việc bán cho Trung Quốc công ty hạt giống Romagna Verisem, công ty chip LPE ở Milan và công ty Friulian của tập đoàn Alpi Aviation, chuyên sản xuất máy bay không người lái. 

    Tiến độ đầu tư của Trung Quốc đối với cơ sở hạ tầng châu Âu, cửa ngõ vào Con đường Tơ lụa, không còn tiếp tục diễn ra nhanh chóng như trước nữa. Bắc Kinh đã chiếm phần lớn cảng Piraeus ở Hy Lạp và khoảng 10% năng lực vận tải đường biển của châu Âu (chìa khóa thực sự của thương mại quốc tế), nhưng hiện chỉ được chấp nhận như một đối tác thiểu số. 

    Trong dự án cảng Trieste, tập đoàn Cosco của Trung Quốc tham gia thông qua một công ty kiểm soát cảng Hamburg, Hamburger Hafen und Logistik (Hhla). Công ty Đức kiểm soát 50,1% nền tảng hậu cần Trieste. Dường như số mệnh cuối cùng của dự án sẽ nằm dưới sự kiểm soát của China Merchants Marine. Mặc cho sự can thiệp của chính phủ Đức tại Hhla, nơi người Trung Quốc chỉ có nắm giữ 24,9% cổ phần để không có quyền phủ quyết.  

    Quyết định khó của chính phủ Meloni

    Đây là một sự lựa chọn chính trị và kinh tế. Quyết định này đã được chờ đợi từ mùa hè, khi thủ tướng Giorgia Meloni và tổng thống Mỹ Joe Biden có cuộc thảo luận về chủ đề này trong chuyến thăm Mỹ của bà hồi tháng 7/2023. Ngoại trưởng Antonio Tajani giải thích rằng thỏa thuận đã không mang lại kết quả như Ý mong đợi, trong khi bộ trưởng Kinh tế Giancarlo Giorgetti đã nhiều lần nhấn mạnh ông không đồng ý với tư cách thành viên chính phủ.  

    Trước hành động đó là chuyến thăm Trung Quốc của thứ trưởng Ngoại Giao Riccardo Guariglia cũng vào mùa hè 2023 và tiếp theo là chuyến thăm của ngoại trưởng Antonio Tajani. Trong các cuộc họp đó, ý định phát triển quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước đã được xác nhận.

    Quyết định của Ý 

    Hiệp ước hết hạn vào cuối năm 2023 đã khiến Ý phải đưa ra quyết định rời bỏ nó, điều này chắc chắn sẽ gây ra sự khó chịu từ phía Trung Quốc. Quyết định này được đưa ra ngay sau chuyến đi của Giorgia Meloni tới Hoa Kỳ gặp tổng thống Joe Biden. Dù thủ tướng Meloni không nêu rõ lý do của sự lựa chọn này, nhưng vì lợi ích chính trị, chính quyền Mỹ đã làm rõ quan điểm của họ : « Ý sẽ quyết định xem có nên rời bỏ nước này hay không và khi nào. Tuy nhiên, rõ ràng là ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới đi đến kết luận rằng các thỏa thuận với Trung Quốc là nguy hiểm ». 

    Điều này cho thấy cuộc gặp với tổng thống Biden có thể đã ảnh hưởng đến quyết định của Ý, khi chính quyền Mỹ nêu bật những lo ngại về các thỏa thuận với Trung Quốc. Có khả năng chính phủ Ý đã cân nhắc cẩn thận những rủi ro và tác động có thể xảy ra khi tiếp tục duy trì thỏa thuận Con đường tơ lụa, và cuối cùng đã chọn quan điểm phù hợp hơn với các quan ngại quốc tế về thương mại và quan hệ chiến lược với Trung Quốc. 

    Tuy nhiên, lựa chọn rút khỏi thỏa thuận có thể đã làm gia tăng căng thẳng với Trung Quốc, xét đến sự tham gia của nước này vào Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường, cũng như lợi ích của nước này trong việc duy trì mối quan hệ chặt chẽ với các quốc gia châu Âu. Cử chỉ này của Ý có thể được coi là một hành động chính trị tế nhị, có thể gây ra hậu quả trong quan hệ song phương với Trung Quốc. 

    Quan hệ giữa Ý và Trung Quốc 

    Chương trình nghị sự tại hội nghị G20 tại Ấn Độ của Giorgia Meloni cũng bao gồm cuộc gặp song phương với thủ tướng Trung Quốc Lý Cường để xác nhận « mục đích chung » là « củng cố và làm sâu sắc thêm cuộc đối thoại giữa Roma và Bắc Kinh về các vấn đề song phương và quốc tế ». « Cả hai nước đều vững mạnh trong lịch sử hàng nghìn năm – Phủ thủ tướng Ý viết trong một ghi chú – Ý và Trung Quốc chia sẻ Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn cầu mà năm tới sẽ kỷ niệm 20 năm và sẽ là ngọn hải đăng cho sự phát triển của tình hữu nghị và sự hợp tác giữa hai bên các quốc gia trong mọi lĩnh vực có lợi ích chung ». 

    Mối quan hệ với Trung Quốc giảm bớt, nhưng không bị cắt đứt hoàn toàn: Ý và Trung Quốc nhắc lại mong muốn phát triển quan hệ đối tác chiến lược, như đã được xác nhận trong các chuyến công tác của Thứ trưởng Ngoại Giao Riccardo Guariglia và của Ngoại trưởng, Antonio Tajani. 

    Và không chỉ vậy : Tổng thống Sergio Mattarella dự kiến ​​​​đến thăm Trung Quốc trong năm 2024 để tái khẳng định tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và tầm quan trọng của quan hệ thương mại song phương. 

    Hành lang kinh tế Ấn Độ-Trung Đông-Châu Âu 

    Khi dự hội nghị G20 tại New Delhi, thủ tướng Giorgia Meloni đã ký thỏa thuận về hành lang kinh tế Ấn Độ-Trung Đông-Châu Âu, dự án mà tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden ủng hộ, và khẳng định rằng đây là « một khoản đầu tư lớn ». Như vậy, trọng tâm chính trị-kinh tế của Ý đã chuyển sang các vị trí dễ chấp nhận hơn đối với Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu. Theo Biden, hành lang này « sẽ tạo việc làm và tăng cường an ninh lương thực. Đó là một khoản đầu tư đại diện cho một bước ngoặt. Hãy cùng nhau đoàn kết làm việc. » 

    Trên thực tế, đằng sau việc ngừng tham gia Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường không chỉ có lý do kinh tế thuần túy, mà còn có bàn tay của Hoa Kỳ nhằm giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới. Con đường Tơ lụa Mới sẽ được thay thế bằng Hành lang Kinh tế Ấn Độ-Trung Đông-Châu Âu.  

    Đối với chính phủ Meloni, vốn đi theo chủ nghĩa Đại Tây Dương rõ ràng và không thể thay đổi, việc gia nhập trung tâm kinh tế mới là điều hiển nhiên. Bên lề hội nghị G20 ở New Delhi, thủ tướng Giorgia Meloni đã ký cam kết với đường lối mới. Ngoài Ý và Mỹ, thỏa thuận mới còn có sự tham gia của Ả Rập Xê Út, Liên Hiệp Châu Âu, Ấn Độ, Đức, Pháp và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất.

    10 min
  • Huy động binh sĩ Ukraina: Kiev đối mặt khó khăn nhân khẩu và kinh tế

    Ngày 07/02/2024, Quốc Hội Ukraina đã tạm thời thông qua dự luật động viên binh sĩ hạ thấp tuổi tòng quân từ 27 xuống 25. Văn bản này còn phải được đưa ra tranh luận lần hai trước khi được chính thức thông qua. Ngoài việc cần có thêm nhiều binh sĩ cho chiến trường, Kiev còn phải cân đối các mối bận tâm liên quan đến kinh tế, thuế khóa và đạo đức.

    Vào tháng 12/2023, tổng thống Volodymyr Zelensky cho biết quân đội muốn huy động thêm 500 ngàn người. Thông báo này đưa ra vào lúc các lực lượng chiến đấu của Ukraina đang hứng chịu nhiều tổn thất mà tầm mức vẫn được giữ bí mật.

    Lệnh động viên : Một đạo luật cần thiết !

    Một dự luật đầu tiên được trình ở Nghị Viện trong mùa lễ Noel đã làm dấy lên nhiều tranh cãi dữ dội. Văn bản dự trù hạ thấp tuổi tòng quân từ 27 xuống 25, hạn chế hoãn nhập ngũ đối với những người khuyết tật nhẹ và tăng hình phạt đối với những người trốn quân dịch. Nhưng nhiều người nghị sĩ khẳng định văn bản này không được xây dựng rõ ràng và bao gồm cả những vi phạm nhân quyền.

    Sau nhiều tuần tranh luận gay gắt, ngày 11/01, Nghị Viện Ukraina đã rút dự thảo luật. Bộ trưởng Quốc Phòng Rustem Umerov tuyên bố dự luật sẽ được tu chỉnh và trình lên chính phủ để phê duyệt. Trên mạng xã hội Facebook, ông khẳng định « dự luật này là cần thiết cho việc bảo vệ quốc gia và mỗi binh sĩ chiến đấu trên chiến trường. Văn bản này phải được thông qua nhanh nhất có thể ».

    Như vậy, văn bản được thông qua hôm 07/02 là một phiên bản đã có sửa đổi. Nhà báo Alla Lazaréva, phó tổng biên tập trang mạng thông tin The Ukrainian Week, trả lời RFI Tiếng Việt, giải thích một số điểm chính của dự luật động viên mới.

    « Trước tiên, đợt huy động binh sĩ lần này là để có thể thay thế những người chiến đấu trên mặt trận từ đầu cuộc xâm lược của Nga. Có rất nhiều người bị gọi nhập ngũ ngay từ tháng 02/2022 vẫn chưa được thay thế từ hai năm qua và bắt đầu cảm thấy mệt mỏi. Chủ yếu vì lý do này mà Ukraina muốn huy động bổ sung một lượng lớn quân.

    Chính quyền Kiev có thể gọi nhập ngũ từ 27 cho đến 60 tuổi với điều kiện đó là những người có sức khỏe tốt và không có chống chỉ định y tế. Dự luật chưa được thông qua, đây chỉ là lần bỏ phiếu thứ nhất. Lần thứ hai vẫn biết ngày nào sẽ tranh luận. Nhưng quả thật có nhiều điểm bất đồng liên quan đến vấn đề số người phải huy động, những vùng có liên quan hay vấn đề người Ukraina ở nước ngoài : Họ có thể được huy động hay không ? Nếu có thì trong điều kiện nào ? Vẫn còn tất cả những cuộc tranh luận này ! »

    Theo Trung tâm Truyền thông Quân sự Nhà nước và Global Firepower Index, quân đội Ukraina hiện có đến 850 ngàn lính. Với việc huy động quân bổ sung,  số binh sĩ chiến đấu trên tuyến đầu từ hai năm qua đã kiệt sức sẽ có thể về nhà mà quân Ukraina vẫn chống cự được với 617 ngàn quân Nga được triển khai dọc theo các đường chiến tuyến.

    Sai lầm chiến lược !

    Tuy nhiên, nếu như trong những tuần đầu tiên của cuộc chiến, bùng nổ vào tháng 02/2022, người dân Ukraina sôi sục nhập ngũ, thì sau nhiều tháng chiến sự đẫm máu, tiếp tục cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người, tinh thần hăng hái ban đầu đó cũng đã biến mất, theo như ghi nhận của nhà báo Alla Lazaréva:

    « Phải nói rằng những ai muốn ra đi chiến đấu thì họ đã đi rồi. Còn đối với những ai giờ mới bị gọi nhập ngũ, họ hiểu rằng đó là nghĩa vụ, nhưng đôi khi họ không còn động lực như trong đợt động viên đầu tiên. Nhưng đa số người dân hiểu rằng đất nước đang gặp nguy hiểm và sự tồn vong của quốc gia cũng đang gặp nguy hiểm. Đúng vậy, họ có thể đón nhận điều đó không phải với một sự nhiệt tình cao độ, mà đúng hơn là như một nghĩa vụ. »

    Trả lời báo Pháp Le Figaro, chuyên gia quân sự Yevhen Dykyy, cựu chỉ huy binh đoàn Aidar, chỉ trích rằng dự luật này lẽ ra phải được đưa ra từ mùa thu 2022:

    « Ngay từ đầu cuộc động viên ồ ạt ở Nga, đợt huy động quân lớn nhất kể từ năm 1945, rõ ràng sớm hay muộn Ukraina cũng sẽ phải làm tương tự. Nga đã huy động 450 ngàn người vào năm 2022 và bổ sung nửa triệu quân vào năm 2023. Nhưng chính quyền Kiev lúc đó vẫn nuôi ảo tưởng rằng chiến tranh sẽ sớm kết thúc và muốn tránh đưa ra một quyết định có thể trả giá đắt về mặt chính trị. Chính phủ cũng như các chính trị khách đều sai lầm trong việc phân cấp mức độ sợ hãi. Nỗi sợ mất cử tri mạnh hơn nỗi lo bị Nga chiếm đóng ! »

    Về điểm này, nhà báo Alla Lazaréva thừa nhận phần nào thế bị động của chính quyền Kiev:

    « Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã không chuẩn bị chu đáo để đối phó với cuộc chiến xâm lược này, dù rằng Ukraina đã được các cơ quan tình báo nhiều nước phương Tây cảnh báo rằng cuộc xâm lược này đang được chuẩn bị, và sắp xảy ra. Đúng là việc chuẩn bị có thể phải được thực hiện một cách chín chắn và có tổ chức hơn. Nhưng tôi cho rằng các nhà lãnh đạo của chúng tôi, cho đến tận giây phút cuối cùng, đã không thể hình dung rằng Nga lại dám tấn công chúng tôi bằng máy bay, bằng bom, với rất nhiều thường dân thiệt mạng như vậy ! »

    Thách thức nhân khẩu

    Nếu như văn bản này vẫn còn mơ hồ về vấn đề giải ngũ cho những người đã đi chiến trường từ hai năm qua theo như đòi hỏi của nhiều người dân, phần đông là các bà mẹ, vợ và chị em các quân nhân, thì Ukraina phải đối mặt với vấn đề nguồn nhân lực hạn hẹp. Đất nước rộng hơn 603 ngàn cây số vuông chỉ có khoảng 43,5 triệu dân, ít hơn gấp ba lần so với dân số của Nga, có đến hơn 145 triệu người.

    Theo Le Figaro, lệnh động viên mới này có nguy cơ làm xói mòn hơn nữa tình hình nhân khẩu. Chính quyền Kiev đối mặt với thách thức phải tuyển mộ những người trẻ tuổi hơn. Liệu dự án này có thể thực hiện vào lúc có nhiều dự phóng dân số Ukraina sẽ bị suy giảm ? Phó tổng biên tập trang mạng The Ukrainian Week lạc quan tin là Ukraina có đủ nguồn lực để bảo vệ đất nước.

    « Chiến tranh đã làm cho tình hình nhân khẩu của Ukraina thêm tồi tệ, vì có nhiều triệu người đã bỏ xứ ra đi, phần đông là phụ nữ với trẻ em. Giờ có những đứa trẻ đã lớn lên ở nước ngoài. Chiến tranh kéo dài tại Ukraina từ 10 năm qua. Nga bắt đầu gây hấn từ năm 2014 bằng việc sáp nhập bán đảo Crimée và xâm lược Donbass. Quả thật là có rất nhiều người đã ra đi. Rồi nhiều đứa trẻ, trai hay gái đã trưởng thành. Nhiều phụ nữ tham gia quân đội, tôi nghĩ là có khoảng 1/3. Đúng là tình hình nhân khẩu đáng lo ngại và đang đặt ra nhiều vấn đề. Nhưng dẫu sao Ukraina cũng là một đất nước rộng lớn có hơn 40 triệu dân, vì vậy, chúng tôi vẫn có một nguồn lực để bảo vệ đất nước. »

    Cân đối nhu cầu quân sự và kinh tế : Bài toán khó

    Theo trang mạng Politico, bên cạnh vấn đề nhân lực, dự luật huy động quân của Ukraina còn phải đối mặt với một áp lực to lớn khác. Có tổng sản phẩm quốc nội khoảng 214 tỷ đô la, Ukraina phải dành ra hơn 1/5 của GDP, tức khoảng 46 tỷ đô la, cho nỗ lực chiến tranh.

    Phân nửa trong khoản ngân sách này được dùng để trả lương cho binh lính và một phần tư là cho ngành công nghiệp quốc phòng. Một cách đơn giản, toàn bộ ngân sách chính phủ Ukraina là dành cho chiến tranh. Còn hàng tỷ tiền viện trợ từ Liên Hiệp Châu Âu và từ Mỹ là để góp phần tài trợ cho phần còn lại của nền kinh tế.

    Tuy nhiên, nguồn hỗ trợ tài chính này hiện đang bị Washington chặn lại do vấp phải sự phản đối từ nhiều nghị sĩ đảng Cộng Hòa. Điều đó buộc Kiev phải tìm cách cân đối giữa việc tìm đủ số binh lính mới để tiếp tục cuộc chiến, đồng thời đảm bảo vẫn có đủ người nộp thuế và công nhân để duy trì nền kinh tế và cỗ máy công nghiệp chiến tranh.

    Nỗi lo này đã được tổng thống Volodymyr Zelensky thể hiện hồi tháng 12/2023. « Việc huy động thêm từ 450 ngàn đến 500 ngàn người sẽ tiêu tốn của đất nước khoảng 12 tỷ euro và tôi muốn biết số tiền đó sẽ đến từ đâu. Xét rằng phải cần đến sáu thường dân lao động Ukraina đóng thuế để trả lương cho một người lính, tôi sẽ phải cần thêm ba triệu người lao động đâu đó để có thể trả lương cho số quân bổ sung này ».

    Nghĩa vụ và đạo đức công dân

    Ngày 11/01, từ Estonia, tổng thống Ukraina đã kêu gọi tất cả những công dân nào, nếu không ra trận thì có thể làm việc đóng thuế cho đất nước, cử chỉ này cũng là hành động bảo vệ quốc gia. Tổng thống Ukraina nói thêm những người Ukraina đã chạy khỏi đất nước, không chiến đấu và không nộp thuế phải đối mặt với vấn đề đạo đức.

    Nhà phân tích chính trị Ukraine Volodymyr Fesenko cho biết dự luật huy động binh lính rất không được lòng dân, nên các chính trị gia ngại tự đề xuất. Làm thế nào cân bằng lợi ích tối ưu giữa việc thỏa mãn các nhu cầu quân sự, các năng lực và nhu cầu tài chính – kinh tế của quốc gia ; giữa tiền tuyến và hậu phương, đây sẽ là một bài toán khó cho ông Zelensky.

    Nhiều mối lo ngại cho rằng viết rút đàn ông ra khỏi văn phòng, nhà xưởng và bắt họ mặc đồng phục có thể sẽ làm tổn hại đến nền kinh tế. Với Kazarin, một binh sĩ Ukraina, mối lo này có lẽ đã bị thổi phồng quá mức.

    Ông kết luận : « Họ chỉ quên rằng trong trường hợp động viên thành công, tất cả những người đã cầm vũ khí trong vài năm qua sẽ được giải ngũ sau một năm nữa. Nhiều người phục vụ trong quân đội hiện nay là những doanh nhân, chuyên gia và chuyên viên công nghệ thông tin khá thành đạt trước chiến tranh. Họ đã giữ mặt trận trong hai năm để lại hậu phương cho quý vị. Và giờ thì đến lượt quý vị ! »

    Đây cũng là lời kêu gọi của nhật báo Lviv tại Ukraina !

    11 min
  • Quan hệ Vatican - Đài Loan trong tương quan với Trung Quốc

    Ngày 08/01/2024, giáo hoàng Phanxicô đã có buổi gặp gỡ đầu năm với những đại diện ngoại giao của các nước có quan hệ chính thức với Tòa thánh Vatican. Một ngày trước đó, một báo cáo tổng kết về các mối quan hệ ngoại giao của Tòa Thánh cũng đã được công bố. Từ Liège, Bỉ, linh mục Phạm Hoàng Dũng có bài nhận định.

    Theo báo cáo nói trên, quốc gia nhỏ bé này có quan hệ chính thức với 184 quốc gia và hai tổ chức là Liên Hiệp Châu Âu và Dòng Malta. Tòa Thánh chưa có quan hệ với 11 quốc gia. Bảy quốc gia trong số này không có đặc sứ Vatican hiện diện (Afghanistan, Ả Rập Xê Út, Bhutan, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Maldives, Tuvalu). Các nước còn lại đều đã có sự hiện diện của vị đại diện thường trú của Tòa Thánh, mà mới nhất là Việt Nam.  

    Trong số các quốc gia mà Tòa thánh có quan hệ ngoại giao, còn có Trung Hoa Dân Quốc hay Đài Loan. Tuy nhiên, kể từ năm 1972, không còn có sự hiện diện của vị Sứ thần Tòa Thánh tai hòn đảo này nữa, mà chỉ có một « đại biện lâm thời ».  

    Trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc dẫn đến Thỏa thuận tạm thời và một phần lịch sử về việc bổ nhiệm giám mục vào tháng 9 năm 2018, được gia hạn thêm hai năm nữa vào năm 2020 và sau đó một lần nữa vào tháng 10 năm 2022, vấn đề quan hệ ngoại giao dường như vẫn chưa được giải quyết.  

    Về phía Đài Loan, tòa đại sứ duy nhất của họ còn lại trên đất châu Âu là bên cạnh Tòa Thánh. Nhưng trong niên giám ngoại giao của Tòa Thánh Vatican, Đài Loan hay Trung Hoa Dân Quốc vẫn được ghi dưới danh mục Trung Quốc.  

    Tương quan giữa Vatican và « HAI » Trung Quốc ?  

    Trước tiên, khi nói đến Tòa Thánh, chúng ta liên tưởng ngay đến một tổ chức của Giáo hội Công Giáo. Tổ chức này không giới hạn về mặt địa lý ở 40 ha giữa lòng thủ đô Roma của nước Ý, mà đó là một mối liên hệ thiêng liêng của người đứng đầu Giáo Hội, hiện là Đức giáo hoàng Phanxicô, với hơn một triệu tín hữu Công Giáo trên khắp thế giới bao gồm cả Trung Quốc và Đài Loan. Cho dù có sự ngăn cản về mặt chính trị, như ta thấy ở Trung Quốc lục địa, không giới hạn hay cản trở đức tin của những tín hữu này.  

    Khi ta nói đến « HAI » nước Trung Quốc, điều này không chỉ có nghĩa là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), mà chúng ta cũng nói đến sự hiện hữu song song ngay tại Trung Quốc Lục Địa, hai giáo hội Công Giáo, một của Nhà Nước (gọi là Hội Công Giáo Yêu Nước) và một giáo hội quen gọi là "thầm lặng", không được nhà nước Trung Quốc công nhận.  

    Sự tồn tại song song của hai thực thể này đã có thể được giải quyết sau thỏa thuận giữa Tòa Thánh và Bắc Kinh năm 2018 và được tái ký kết vào tháng 10/2022. Theo thỏa thuận, Vatican sẽ là bên quyết định quyền bổ nhiệm các giám mục mà nhà nước Trung Quốc không có quyền can thiệp vào. Nhưng gần đây, Bắc Kinh lại can thiệp vào việc bổ nhiệm giám mục Thượng Hải và Hồng Kông, cũng như bắt bớ giám mục Peter Shao Zhumin của giáo phận Ôn Châu, chỉ được thả ra khỏi nơi giam giữ vài ngày trước lễ Giáng sinh.

    Vatican và Trung Quốc 

    Về mặt chính thức là một quốc gia vô thần, Trung Quốc cho phép nhiều tôn giáo tồn tại, mặc dù mỗi tôn giáo đều chịu sự giám sát chặt chẽ của Cục Tôn giáo Nhà nước, và các tín đồ tôn giáo phải « phụ thuộc và phục vụ lợi ích chung của quốc gia và nhân dân Trung Quốc… và ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. » 

    Đối với Giáo hội Công Giáo, điều này có nghĩa là các giám mục Công Giáo phải được bổ nhiệm bởi Hội Công Giáo Yêu nước Trung Quốc do nhà nước kiểm soát, thay vì Vatican. Chính sách này đã dẫn đến việc Vatican đã từng rút phép thông công bảy giám mục Trung Quốc được Bắc Kinh bổ nhiệm mà không có sự chấp thuận của Vatican. 

    Theo thỏa thuận giữa Trung Quốc và Tòa Thánh năm 2018, Bắc Kinh công nhận giáo hoàng Phanxicô là người đứng đầu Giáo hội Công Giáo ở Trung Quốc, trong đó giáo hoàng có tiếng nói cuối cùng trong việc bổ nhiệm các giám mục và Vatican cuối cùng đã công nhận bảy giám mục « bất hợp pháp ». Thỏa thuận này đã được tái ký hai lần vào những năm 2020 và 2022. Theo lịch trình thì vào tháng 10 tới, hai bên sẽ xem xét việc tái ký kết. 

    Theo trang The Pillar của Hoa Kỳ, không chỉ có các giám mục ở Hồng Kông và Thượng Hải được bổ nhiệm không có sự đồng ý từ Toà Thánh, mà ở nhiều nơi, Bắc Kinh đang cho vẽ lại bản đồ các giáo phận và qua đó đưa các linh mục của Hội Công Giáo yêu nước vào nắm giữ điều hành các giáo xứ và các giáo phận. Như trường hợp của giáo phận Ôn Châu. Và như thế khi vào thương thảo với Vatican thì mọi chuyện coi như đã rồi.

    Vatican và Đài Loan 

    Năm 1949, Tưởng Giới Thạch rút lui ra đảo Đài Loan để lập nên Trung Hoa Dân Quốc. Đi theo ông có khoảng 800.000 binh sĩ và một triệu người dân, trong đó có đông người Công Giáo. Trong mười năm, từ 1950-1960, Đài Loan đã chứng kiến sự gia tăng vượt bực về số lượng linh mục tu sĩ Công Giáo và những hoạt động sinh hoạt tôn giáo do giới Công Giáo điều hành, như trường học, bệnh viện, v.v… Đài Loan từ đó là điểm đến lý tưởng cho những nhà truyền giáo và các dòng tu Công Giáo, với hy vọng một ngày nào đó sẽ từ đây bước chân sang Trung Hoa Lục Địa. 

    Tưởng Giới Thạch và sau này là con trai đã thiết lập nên chế độ cai trị quân sự trong suốt nhiều thập niên, gây nên nhiều chia rẽ trong sinh hoạt chính trị và đời sống xã hội của người dân Đài Loan, giữa người Hoa đến từ lục địa và người Đài địa phương. Giáo hội Đài Loan tuy hoạt động mạnh mẽ và độc lập với chính phủ Quốc Dân Đảng dưới thời Tưởng Giới Thạch, nhưng đôi lúc cũng bị kết án là ủng hộ Quốc Dân Đảng, điều không thể tránh khỏi nếu những linh mục tu sĩ có nguồn gốc gia đình ở Trung Quốc. Mặt khác, Giáo hội Đài Loan đã được truyền giáo từ thế kỷ XVII bởi các nhà truyền giáo Dòng Đa Minh Tây Ban Nha.  

    Nhưng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã phủ bóng đen lâu dài. Chính trị, các mối quan hệ gia đình và các ưu tiên của Giáo hội đều bị ảnh hưởng bởi câu hỏi: Mối quan hệ giữa « HAI » nước Trung Quốc sẽ tiến triển như thế nào? Chính phủ hiện tại tuyên bố độc lập trên thực tế, nhưng Trung Quốc vẫn coi Đài Loan là một tỉnh "bất hảo" và thực hiện các chính sách công khai để đặt hòn đảo này dưới sự kiểm soát của mình. 

    Có một trò chơi kéo co trên đảo giữa hội nhập và độc lập, tác động đến cuộc tranh luận trong công chúng ở mọi cấp độ. Tòa Thánh, quốc gia châu Âu duy nhất công nhận Đài Loan về mặt ngoại giao, cũng có liên quan. 

    Trong khi đó, Giáo hội địa phương cố gắng giữ vững lập trường của mình. Vì nhiều lý do, Giáo hội này đã không phát triển. Số thành viên dao động trên dưới 300.000, mặc dù dân số đã tăng gấp ba lần kể từ năm 1950 lên 23,6 triệu. 

    Dưới thời Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, Giáo hội Đài Loan được xem là nơi đào tạo các linh mục tu sĩ không chỉ cho Trung Quốc và chuẩn bị cho việc Trung Quốc mở cửa về mặt chính trị và tôn giáo sau việc mở cửa kinh tế. Đại học Phụ Nhân là một ví dụ. Đại học này vốn được thành lập ở Trung Quốc từ những năm 1920, nhưng sau khi Mao Trạch Đông lên nắm quyền thì Đại học này chuyển sang Đài Loan và được điều hành bởi các tu sĩ Dòng Tên và Dòng Ngôi Lời, dưới sự bảo trợ của Tòa Thánh. Và hiện nay, đại học này đã có những chi nhánh ở Trung Quốc. 

    Tuy vẫn giữ vị thế độc lập bên cạnh các chế độ chính trị của Đài Loan, vì tự chủ về tài chính, Giáo hội Công giáo đôi khi bị cho là không quan tâm đến những người dân Đài Loan, mà chỉ chú trọng vào Trung Hoa Lục Địa, chẳng hạn số lượng linh mục tu sĩ người Đài sinh ra và lớn lên tại hòn đảo này vẫn là thiểu số so với các linh mục tu sĩ đến từ Trung quốc, hay có mối liên hệ gia đình từ lục địa, hay như vị giám mục duy nhất người Đài mới chỉ được truyền chức vào năm 1985. Hay dưới chính quyền quân phiệt, nhiều linh mục tu sĩ bị coi là ủng hộ chế độ quân sự của tổng thống Tưởng Giới Thạch.     

    Đài Loan trong thế bao vây ngoại giao của Trung Quốc 

    Trung Quốc vốn xem Đài Loan như một tỉnh nổi loạn cần phải được hợp nhất, nên Bắc Kinh đã thực hiện chính sách ngoại giao bao vây đối với Đài Loan trên bình diện quốc tế, nhằm thực hiện chính sách một nước Trung Hoa duy nhất. Mặt khác, Đài Loan cũng phải cố duy trì những mối tương giao của mình với các nước và các tổ chức quốc tế, để có được một không gian quốc tế nhằm củng cố vị thế của mình. 

    Trong nhiệm kỳ của tổng thống Mã Anh Cửu, không gian quốc tế của Đài Loan đã được duy trì ổn định nhờ vào một « thoả thuận đình chiến ngoại giao ngầm » với Bắc Kinh: Trung Quốc sẽ không tìm cách thuyết phục bất kỳ đối tác ngoại giao trong 23 nước vẫn giữ quan hệ với Đài Bắc chuyển sang phía Bắc Kinh. Chỉ có ngoại lệ là Gambia, nhưng nước này không được Trung Quốc chấp nhận dù đã cắt đứt quan hệ với Đài Loan. 

    Khi duy trì những mối quan hệ quốc tế này, Đài Loan không thu được nhiều lợi ích về mặt kinh tế, nếu không muốn nói là những quan hệ đó trở thành gánh nặng tài chính và nguyên nhân bất ổn chính trị cho chính phủ Đài Loan. Nhưng việc duy trì và bảo vệ những mối quan hệ chính thức này là vấn đề quan trọng cho Đài Loan nhằm giữ được vị thế của nước này trên bình diện quốc tế, điều mà Bắc Kinh hoàn toàn không mong muốn. 

    Vì thế, trong hai nhiệm kỳ tổng thống của bà Thái Anh Văn, Đài Bắc đã mất đi phân nửa số đối tác ngoại giao chính thức của mình. Gần đây nhất là đảo quốc Nauru ở Thái Bình Dương đã quy hàng về Bắc Kinh hôm 15/01/2024, chỉ hai ngày sau thắng lợi của ứng cử viên tổng thống Lại Thanh Đức. Ông là người theo đường lối của tổng thống mãn nhiệm chống lại Bắc Kinh. Đó cũng là dấu hiệu của Bắc Kinh dành cho tổng thống tân cử. Như đã từng xảy ra khi bà Thái Anh Văn lên nắm quyền, hàng loạt các đối tác ngoại giao chính thức của Đài Bắc tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao để bắt tay với Bắc Kinh. 

    Ngày càng có nhiều lo ngại rằng Bắc Kinh sẽ nhắm vào Vatican, nơi Trung Quốc có đòn bẩy vì hàng triệu người Công Giáo Trung Quốc có thể được hưởng lợi từ mối quan hệ được cải thiện giữa Tòa Thánh và CHND Trung Hoa. Mất Vatican sẽ là một đòn rất đau đối với yếu tố dựa trên quan hệ ngoại giao trong tuyên bố của Đài Loan về không gian quốc tế. Với vai trò của giáo hoàng là nhà lãnh đạo tinh thần của hơn một tỷ người Công Giáo, Vatican có ý nghĩa chính trị quốc tế vượt xa quy mô nhỏ bé của mình.  

    Mối quan hệ chính thức của Đài Loan với Vatican cũng cộng hưởng với một thành phần quan trọng của nhân quyền quốc tế: tự do tôn giáo, một lĩnh vực mà những thành tựu trong nước của Đài Loan là chủ đề quan trọng trong nỗ lực tìm kiếm vị thế quốc tế của Đài Loan, được đề cập cụ thể trong bài diễn văn nhậm chức lần thứ hai của bà Thái Anh Văn.  

    Vatican cũng là đối tác ngoại giao cuối cùng  của Đài Loan ở châu Âu và bên ngoài thế giới đang phát triển. Đối mặt với những lo lắng này, chính phủ của bà Thái Anh Văn đã nỗ lực duy trì mối quan hệ với Vatican. Điều này đã được Vatican đảm bảo trong những lần ký kết và tái ký thoả hiệp với Trung Quốc vào những năm 2018, 2020, 2022 và có thể vào tháng 10 này.  

    Đài Loan dưới thời bà Thái Anh Văn đã giành được chiến thắng trong việc xây dựng mối quan hệ không chính thức với Mỹ, Nhật Bản và các nước khác. Nhưng sự tiến bộ còn hạn chế, không đồng đều, mong manh và mang tính ngẫu nhiên. Dưới sự lãnh đạo của tổng thống Thái Anh Văn, như trước đây, Đài Loan đã chơi tốt ở thế yếu, áp dụng chiến lược đa phương nhằm theo đuổi những cơ hội tương đối hứa hẹn và phát huy thế mạnh tương đối của Đài Loan. Hoàn cảnh đã thay đổi, trong đó có nhiều bất lợi cho Đài Loan trong những năm gần đây. Nhưng những thay đổi này không hoàn toàn xấu đối với Đài Loan, cũng như các xu hướng tiêu cực chưa chuyển biến về chất hoặc chưa nhất thiết không thể đảo ngược. 

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn Linh mục Phạm Hoàng Dũng.

    12 min
  • Toàn cầu hóa thúc đẩy cuộc đua tái trang bị hải quân giữa các đại cường

    Từ hơn một thập niên qua, cuộc đua tăng cường sức mạnh hải quân được tăng tốc với mục tiêu là nhằm khẳng định vị thế và bảo vệ các lợi ích quốc gia. Hoa Kỳ và Trung Quốc, hai nước dẫn đầu cuộc đua, đang đối đầu nhau ở vùng Đông Á và đang tranh vị thế siêu cường hải quân hàng đầu thế giới. Theo nhiều chuyên gia, sau nhiều thập kỷ có vẻ yên bình, nguy cơ xảy ra trận bão hải chiến một lần nữa là một giả thuyết hợp lý !

    Nhờ vào khả năng bảo đảm khối hàng hóa lớn, đáng tin cậy và chi phí thấp, vận tải đường biển đang trở thành cột sống hậu cần cho chuỗi giá trị toàn cầu. Từ khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc và cho đến khi xảy ra khủng hoảng tài chính năm 2008, tăng trưởng trong ngành thương mại quốc tế tăng nhanh hơn là mức tăng trưởng của sản xuất. Hơn 80% khối lượng giao thương quốc tế được thực hiện bằng đường biển. Số liệu thống kê năm 2019 cho thấy tổng khối lượng hàng hóa giao thương là 11 tỷ tấn, tăng gấp 20 lần so với năm 1950, chỉ đạt mức 550 triệu tấn.

    Làm chủ biển cả, thống lĩnh thương mại

    Toàn cầu hóa cũng làm thay đổi các lộ trình vận chuyển. Cho đến những năm 1970, đó là một thế giới của « Đại Tây Dương ». Các tuyến đường vận tải biển quan trọng nhất tập trung chủ yếu giữa những cảng biển Bắc Âu và vùng duyên hải phía đông của Bắc Mỹ. Nhưng việc chấm dứt các chế độ thuộc địa, sự trỗi dậy của các nước Đông Á trên trường kinh tế quốc tế đã dần dịch chuyển trọng lực kinh tế hàng hải thế giới sang vùng Đông Á.

    Sự thay đổi này còn diễn ra toàn diện với việc Trung Quốc ngày càng khẳng định là một cường quốc hàng đầu kể từ những năm 2000. Nếu như lúc ban đầu, con đường hàng hải lớn nhất ở Đông Á chủ yếu là trục Tokyo – Singapore, sau này có thêm các cảng biển Busan của Hàn Quốc, Cao Hùng ở Đài Loan và Hồng Kông trong những năm 1990, thì những trục vận chuyển đường biển này đã bị di dời về phía tây, Trung Hoa Lục Địa.

    Bên cạnh đó, các cường quốc Đông Á này còn vướng phải một điểm yếu lớn : Sự phụ thuộc đến hơn 80% vào nguồn dầu lửa Trung Đông. Do vậy, con đường vận tải biển lớn vẫn là châu Á, đi từ Vịnh Ba Tư đến Trung Quốc, băng qua các eo biển Hormuz và Malacca. Đảo quốc Singapore nằm trên tuyến đường hàng hải lý tưởng này, cùng với Rotterdam (Hà Lan) và Houston (bang Texas của Mỹ) là một trong ba điểm tinh lọc và trung chuyển dầu hỏa lớn nhất thế giới.

    Nhưng người xưa có câu : « Ai muốn kiểm soát thương mại phải làm chủ biển cả ». Sự toàn cầu hóa « hạnh phúc » này làm lộ rõ một tình trạng « cực kỳ » phụ thuộc vào biển cả. Và hiện tượng « hàng hải hóa » này, theo như cách nói của ông Cyrille Coutansais, giám đốc nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Hải quân, giảng viên trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po, trên đài RFI, đã buộc một số nước nhất định phải đầu tư cho lực lượng Hải quân để bảo vệ các dòng hàng hóa vận chuyển, cũng như là bảo vệ chủ quyền vùng không gian lãnh hải của mình.

    Cũng theo ông Cyrille Coutansais, điều này đã dẫn đến việc « xáo lại » các quân bài quan trọng ở cấp độ cường quốc hải quân: « Quá trình toàn cầu hóa này đã tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của một số nước có đủ nguồn lực để đầu tư cho hải quân. Điều đáng lưu ý là đầu tư cho Hải quân tốn rất nhiều tiền, hơi giống một câu lạc bộ các nước giàu. Điều này giải thích vì sao cho đến gần đây, đó chỉ là một câu lạc bộ gần như độc quyền cho các nước phương Tây. Bây giờ với toàn cầu hóa, người ta nhìn thấy một số quốc gia phát triển như Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ… những nước có khả năng đầu tư cho Hải quân. »

    Biên giới biển mới và thế « tiến thoái lưỡng nan về an ninh »

    Một nguyên nhân khác giải thích cho việc phát triển trở lại các năng lực hải quân là nhiều quốc gia có xu hướng tìm kiếm các nguồn tài nguyên biển ở những nơi khác để bù đắp cho những thiếu hụt ở trong nước. Đô đốc Bernard Rogel, cựu tham mưu trưởng Hải quân, nguyên tham mưu trưởng đặc biệt của các tổng thống François Hollande và Emmanuel Macron, trong chương trình Địa Chính Trị của RFI Tiếng Pháp, cho rằng điều đó gây ra những căng thẳng về tranh chấp lãnh hải đang diễn ra trên toàn cầu từ Đông sang Tây, từ Á đến Âu:

    « Chúng ta nên biết là tình trạng này đang tạo ra những biên giới mới trên biển, bởi vì các quốc gia có nhu cầu tìm kiếm những gì họ thiếu chẳng hạn như các nguồn cá biển, vốn dĩ rất quan trọng đối với nhiều nước, cũng như các nguồn khí đốt, khoáng sản, dược thảo dồi dào ở biển. Rồi còn có vấn đề công nghệ nữa. Ở đây tôi muốn nói đến quá trình dân chủ hóa công nghệ, tức là phương Tây không còn độc quyền về công nghệ nữa. Người ta sẽ đi tìm ở biển những gì mà họ thiếu. Vì vậy, tình trạng này đang tạo ra điều mà tôi gọi là Những Biên Giới Mới, tức những vùng tranh chấp mới. »

    Trung Quốc với vị thế là « công xưởng lớn nhất thế giới », phụ thuộc nhiều vào biển cả cho nhập khẩu nguyên nhiên liệu, lương thực – thực phẩm cũng như là xuất khẩu hàng hóa thành phẩm. Điều hiển nhiên và hợp lý là Bắc Kinh phải trang bị cho mình một lực lượng hải quân để tự bảo đảm nhu cầu an ninh. Nếu như Trung Quốc không thể và cũng không muốn ủy thác trách nhiệm này cho Hải quân Mỹ, thì điều nghịch lý là chính sách tăng cường năng lực hải quân của Trung Quốc cũng như nhiều cường quốc mới trỗi dậy khác phải đối mặt với « thế lưỡng nan an ninh ».

    Trên làn sóng RFI Pháp ngữ, Maxence Brischoux, giảng viên ngành Quan hệ Quốc tế, trường đại học Paris II Panthéon Assas, giải thích :

    « Nhìn từ điểm này trong lý thuyết quan hệ quốc tế, chúng ta đang đi đến điều được gọi là "tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh". Sự xuất hiện của nhiều cường quốc mới cùng với việc họ tự trang bị các phương tiện để bảo đảm an ninh cho mình đã có những tác động gây bất ổn. Đối với nhiều nước khác, lô-gic tái vũ trang này, một lần nữa, cho dù có tính chính đáng nhất định, có thể mang tính gây rối, nhất là khi điều đó đi kèm với những hành động được cho là hung hăng. Đó chính là những gì chúng ta quan sát được ở Biển Đông. Ta đang phải đối mặt với những hiện tượng lâu dài, đôi khi có thể bùng phát thành khủng hoảng, thậm chí là đi đến chiến tranh. Đây cũng là những gì chúng ta quan sát thấy hiện nay trong cuộc xung đột Nga - Ukraina, bởi vì khía cạnh hải quân có một tầm quan trọng đáng kể. »

    Bốn tiêu chí cho cường quốc hải quân

    Vậy đâu là các tiêu chí để đánh giá một cường quốc hải quân ? Về điểm này, Cyrille Coutansais cho biết:

    « Xét về sức mạnh hải quân, tôi nghĩ điều quan trọng đầu tiên là tải trọng. Trên thực tế, chúng ta cộng toàn bộ khối lượng mỗi con tàu và như vậy chúng ta sẽ có được một tầm nhìn về sức mạnh hải quân dựa theo trọng tải. Quả thật, nếu nhìn vào trọng tải, Hoa Kỳ đang ở vị trí hàng đầu. Khía cạnh thứ hai là số lượng tàu. Trung Quốc có nhiều tàu hơn Mỹ, nhưng nếu xét về trọng tải, tức là về sức mạnh, thì Mỹ vẫn dẫn đầu.

    Tiếp đến, chúng ta phải xem xét các khả năng mà hải quân một nước có thể triển khai. Ví dụ, nếu chúng ta nhìn vào hải quân Pháp, về mặt trọng tải Pháp thua xa Mỹ, kém hơn Trung Quốc, nhưng vẫn nằm trong phạm vi có khả năng triển khai. Chúng ta có thể triển khai tầu ngầm mang tên lửa đạn đạo (SSBN), tầu ngầm tấn công hạt nhân (SSN), nhóm tác chiến tàu sân bay. Có thể nói, chúng ta có đầy đủ các lãnh vực và điều này rất quan trọng để phát huy sức mạnh hải quân.

    Một yếu tố khác cũng nên đề cập đến đó là khả năng có các điểm neo, tức là các cơ sở để chúng ta có thể cập cảng. Việc tiếp tế, các thuyền viên có điều kiện nghỉ ngơi vì nhiều lý do là điều cần thiết. Về điểm này, Pháp có thể trông cậy vào một số điểm neo đậu nhờ vào các vùng lãnh thổ hải ngoại.

    Nhiều lực lượng hải quân khác không có cho nên đang tìm cách có được năng lực này, trong đó có Trung Quốc. Điều này có nghĩa là, khi quý vị muốn triển khai hải quân ở khắp các đại dương trên toàn thế giới, quý vị cần phải có khả năng trông cậy vào những điểm neo đậu ở hầu hết mọi nơi, và đó cũng là một phần của sức mạnh hải quân. »

    Chỉ có điều sự trỗi dậy mạnh mẽ của hải quân Trung Quốc chỉ trong hơn hai thập niên khiến Hoa Kỳ và nhiều nước khác trong khu vực lo lắng. Năm 1988, Trung Quốc không có tên trong bảng sắp hạng năm cường quốc hải quân hàng đầu thế giới. Hơn ba thập kỷ sau, Trung Quốc vươn lên chiếm vị trí thứ hai, và đang trên đà qua mặt Mỹ. Lãnh đạo Hải quân Mỹ năm vừa qua báo động Trung Quốc hiện có tổng cộng hơn 350 tầu chiến và tầu ngầm, vượt qua Mỹ về mặt số lượng, vì Mỹ chỉ có hơn 290 chiếc.

    Theo một báo cáo được bộ Quốc Phòng Mỹ công bố năm 2020, chỉ trong giai đoạn 2015-2019, Trung Quốc có lẽ đã tự mình xây dựng một lượng tầu tương đương với tải trọng do Mỹ và châu Âu gộp lại. Mục tiêu của ông Tập Cận Bình đề ra là từ đây đến năm 2030, Trung Quốc phải chiếm vị thế hải quân hàng đầu thế giới khi có đến 13 chiếc tầu ngầm trong khu vực.

    Để đối phó với Bắc Kinh, năm 2020, Washington đề ra chiến lược mới mang tên « Thế ưu việt trên biển », khẳng định Hoa Kỳ phải làm chủ biển cả để đánh bại sức mạnh kẻ thù, bảo vệ tổ quốc và bảo vệ các đồng minh. Hoa Kỳ phải tiến hành một chương trình hiện đại hóa táo bạo và cần thiết cho lực lượng hải quân, để duy trì khả năng răn đe và bảo đảm lợi thế trên biển. Và lợi thế này phải được bắt đầu bằng sự vượt trội về số lượng cũng như chất lượng.

    Trong cuộc đua này, Hoa Kỳ chưa phải là quốc gia đơn độc. Việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh hải quân khiến nhiều nước châu Á trong khu vực cũng phải điều chỉnh chính sách quốc phòng. Hàn Quốc, Nhật Bản hay Ấn Độ đầu tư ồ ạt phát triển các loại tàu phóng tên lửa hay tầu ngầm. Nhiều quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia cũng tăng cường hạm đội tầu chiến và trang bị nhiều vũ khí tân tiến hơn, để đối phó với các tham vọng biển cả và những đòi hỏi chủ quyền lãnh hải quá đáng của Trung Quốc.

    Việc tăng cường số lượng trang thiết bị hải quân cũng đi kèm với việc phát triển và đổi mới kho vũ khí bằng loạt công nghệ mới. Hiện tại, xu hướng phát triển các loại drone biển được cho là mốt thời thượng do chi phí sản xuất thấp, phương thức hoạt động kín đáo và hiệu quả cao hơn nhờ vào việc có thể kéo dài thời gian hoạt động sâu dưới biển cho các nhiệm vụ trinh sát, thậm chí là tấn công.

    Và trong trường vũ khí mới này, hệ thống hướng dẫn bằng trí tuệ nhân tạo đang được phổ biến nhất là trên phương diện ngăn chặn và khả năng phòng thủ tên lửa. Chiến tranh Ukraina hẳn là một chiến trường thực nghiệm cung cấp nhiều điều bổ ích cho các đại cường !

    11 min
  • Viện trợ vũ khí cho Ukraina : Pháp có thể đóng góp nhiều hơn ?

    Ngày 16/01/2024, tổng thống Pháp Emmanuel  thông báo giao thêm 40 tên lửa hành trình địa đối không Scalp và 500 quả bom dẫn đường AASM cho Ukraina. Hai ngày sau, ngày 18/01, bộ trưởng Quân Lực Pháp Sebastien Lecornu chính thức ra mắt « liên minh pháo binh », nhằm tài trợ và cung cấp 78 khẩu đại bác Caesar cho Ukraina trong năm 2024. Liệu Paris có đủ phương tiện để thực hiện các cam kết vào lúc khả năng sản xuất vũ khí của Pháp thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu của Ukraina ?  

    Những thông báo này được đưa ra vào lúc một báo cáo của Ủy ban Đối ngoại và Quốc phòng Thượng Viện Pháp, được công bố ngày 17/01, kêu gọi nước Pháp tăng tốc càng nhanh càng tốt hậu thuẫn quân sự cho Ukraina. Chủ tịch ủy ban Cedric Perrin cùng với ba thượng nghị sĩ khác, sau chuyến thăm Kiev hồi cuối tháng 12/2023, đã lấy làm tiếc là hậu thuẫn của phương Tây dành cho Ukraina đã suy giảm mạnh.

    Báo cáo của Thượng Viện Pháp nêu rõ : « Trợ giúp của phương Tây đang hụt hơi và tình hình ở Ukraina ngày càng trở nên phức tạp. Trong giai đoạn tháng 5 đến 12/2023, Nga vẫn chiếm ưu thế. Quân số Nga trên mặt trận dường như đã được tăng thêm 20% và số lượng xe tăng, khẩu đại pháo tăng 60% ».

    Bốn thượng nghị sĩ Pháp cảnh báo : « Nga rất có thể mở lại chiến dịch trên bộ quy mô lớn trước thềm bầu cử tổng thống Mỹ. Một cuộc tấn công mới của Nga nhắm vào Kiev là không thể loại trừ trong trung hạn nếu nguồn hậu thuẫn của phương Tây bị thất bại ».

    Pháp : Nhà hảo tâm xếp thứ 15 ?

    Theo số liệu chính thức, tính từ đầu cuộc xung đột, Paris đã giao cho Kiev nhiều trăm đơn vị, đủ loại vũ khí, từ đại bác Caesar, pháo kéo TRF1, hệ thống pháo phản lực đơn nòng (LRU), nhiều loại xe bọc thép, rồi còn có tên lửa hành trình không đối địa Scalp, các loại hệ thống phòng không SAMP/T và Crotal NG, hệ thống radar Ground Master 200, tên lửa Mistral, Milan và Akeron MP, cũng như drone trinh sát, nhiều thiết bị thăm dò phát hiện tấn công mạng hiệu quả…

    Dù vậy, Pháp chỉ là nhà hảo tâm xếp thứ 15 về trợ giúp quân sự cho Kiev. Báo cáo mang tên Ukraine Support Tracker do Viện Kiel, một trung tâm nghiên cứu của Đức, công bố gần đây, cho thấy đến cuối tháng 10/2023, nguồn hậu thuẫn của Paris được ước tính ở mức 500 triệu euro, thua xa Mỹ (43, 9 tỷ), Đức (17,1 tỷ), Vương Quốc Anh (6,6 tỷ), Na Uy (3,6 tỷ) và Đan Mạch (3,5 tỷ). Pháp thậm chí còn bị Slovakia, Cộng hòa Séc và Litva qua mặt trong bảng tổng sắp.

    Phương pháp thống kê này của Viện Kiel đã bị Pháp phản đối, cho là chỉ tính đến những cam kết đóng góp mà không xét đến thực tế đã giao. Bộ trưởng Quân Lực Pháp, khi trả lời phỏng vấn đài phát thanh France Inter ngày 18/01, chỉ trích bảng xếp hạng này là không đáng tin cậy, khi « trộn lẫn bắp cải và cà rốt », và « chỉ dựa trên các tuyên bố ».

    Nhưng Paris cũng chưa bao giờ đưa ra được những con số thay thế khả tín, trang mạng Challenges lưu ý. Một báo cáo do Quốc Hội Pháp công bố hồi tháng 11/2023 đưa ra con số 3,2 tỷ euro viện trợ quân sự dành cho Ukraina, nhưng phương pháp thống kê này cũng có thể gây tranh cãi, nếu không muốn nói là mù mờ.

    Bất kể ra sao, nguồn hậu thuẫn này của Pháp rõ ràng là chưa đủ. Báo cáo của các nghị sĩ đánh giá, « việc chuyển qua nền kinh tế chiến tranh, như yêu cầu, đã không diễn ra ». Thượng nghị sĩ Cedric Perrin còn cho rằng cụm từ « kinh tế chiến tranh » mà tổng thống Macron sử dụng là không phù hợp. Trên kênh truyền hình Public Senat, chủ tịch Ủy ban Đối ngoại và Quốc phòng Thượng Viện Pháp giải thích :

    « Trong một nền kinh tế chiến tranh giống như trong nền kinh tế mà chúng ta không may đã trải qua sau Đệ Nhị Thế Chiến, ngân sách dành cho quốc phòng chiếm đến 28% của GDP. Tỷ lệ này là 5% trong những năm 1960 và hiện nay gần như chưa tới 2%. Đó là thời kỳ mà  người ta trưng dụng vật tư, trưng dụng nhân lực và trưng dụng nhà xưởng.

    Hiện chúng ta chưa rơi vào trong tình trạng đó. Một nền kinh tế chiến tranh nghĩa là phải có phương tiện để sản xuất nhanh hơn, sản xuất nhiều hơn. Nước Pháp hiện không trong tình trạng chiến tranh. Do vậy, theo tôi, khi nói  chúng ta đang trong nền kinh tế chiến tranh, thì tuyên bố này chỉ mang tính chất truyền thông ! »

    Nòng pháo Caesar : Điểm hạn chế của Pháp ?

    Liệu Pháp có khả năng tăng thêm mức viện trợ quân sự cho Kiev như thông báo ? Cũng trên đài France Inter, bộ trưởng Quân Lực Sebastien Lecornu nêu rõ chi tiết cách thức chi viện 78 khẩu đại bác Caesar cho Ukraina trong khuôn khổ « liên minh pháo binh »: Sáu khẩu đầu tiên do Ukraina chi trả sẽ được giao trong những tuần sắp tới, 12 khẩu tiếp theo là do Pháp tài trợ với tổng trị giá là 50 triệu euro và 60 chiếc còn lại sẽ do các nước khác đóng góp. Vậy những nước nào sẽ gánh vác phần còn lại đó ? Đây vẫn là một câu hỏi lớn.

    Giới quan sát cũng tỏ ra hoài nghi về khả năng thực hiện cam kết của Paris. Lãnh đạo bộ quốc phòng Pháp khẳng định, hãng Nexter có thể sản xuất 72 khẩu đại bác đó trong năm nay cho Ukraina. Theo phóng sự của kênh truyền hình quốc tế Pháp France 24, lãnh đạo Nexter cho biết hiện tại hãng này có thể cung cấp 6 khẩu đại bác mỗi tháng. Con số này sẽ tăng lên thành 8 trong năm 2024.

    Mức tăng đó có được là nhờ vào những khoản đầu tư được dự trù trước khi có xung đột. Ông Stephane Ferandon, phụ trách bộ phận sản xuất nòng pháo của hãng ở vùng Bourges, cho biết, trong tương lai, những cỗ máy mới của Nexter còn có thể sản xuất các loại nòng đại bác dài 12 mét, calip 62 thay vì nòng 155 ly, dài 9 mét, calip 52 như hiện nay.

    Tuy nhiên, trên làn sóng Sud Radio, Jean-Baptiste Noé tổng biên tập trang mạng Conflit, chuyên về địa chính trị, lưu ý thêm một chi tiết :

    « Rắc rối của đại bác Caesar là ở nòng pháo. Loại đại bác này phải được sử dụng tương đối ít, nhưng trong cuộc chiến tranh này, chúng được sử dụng quá mức, điều đó có nghĩa là nòng pháo bị hao mòn rất nhanh. Vì vậy, chúng phải được thay thường xuyên, tốn nhiều tiền hơn, kim loại sử dụng để sản xuất cũng hiếm. Thế nên, rủi ro ở đây là dù có đại bác Caesar, nhưng nếu bị sử dụng quá nhiều, chúng sẽ trở nên không sử dụng được. »

    Pháo 155 ly : Cung không đáp ứng đủ cầu

    Bên cạnh việc cung cấp đại bác, Pháp cũng thông báo chi viện đạn 155 ly cho Ukraina. Trang mạng Challenges ngày 18/01/2024 nhắc lại một báo cáo khác của Thượng Viện công bố hồi tháng 11/2023 do hai thượng nghị sĩ Hugues Saury và Hélène Conway-Mouret đồng ký tên, từng nhận định trong năm 2024, việc cung cấp đạn pháo 155 ly do Pháp sản xuất phải đạt mức 20 ngàn quả.

    Nhưng sản lượng này chỉ đủ để Ukraina tiêu thụ trong vòng từ 3-4 ngày chiến sự. Trong báo cáo mới nhất của bốn thượng nghị sĩ Pháp, mỗi ngày Ukraina sử dụng từ 5-8 ngàn quả đạn pháo, phía Nga là từ 10-15 ngàn. Ngay cả khi Pháp có tăng sản lượng từ 2.000 quả đạn pháo lên thành 3.000 mỗi ngày như thông báo của bộ trưởng Quân Lực Pháp, thì con số này chỉ tương ứng với hai ngày chiến sự bên phía Nga.  

    Giải thích với kênh truyền hình France 24, Anthony Cesbron, phó giám đốc nhà máy Forges de Tarbes, xưởng vũ khí duy nhất nằm ở tây nam nước Pháp có thể sản xuất loại pháo đại bác 155 ly, cho biết hãng có kế hoạch tăng gấp ba sản lượng, đi từ 55 ngàn quả pháo trong năm 2024 lên thành 160 ngàn từ đây đến năm 2026. Nhưng điều này đòi hỏi phải gia tăng nhân sự.

    « Một trong những khó khăn của chúng tôi là tuyển dụng được những người có trình độ. Chúng tôi không tìm được người và hầu hết các vị trí ở hãng chúng tôi, quá trình đào tạo kéo dài từ sáu tháng đến một năm. Điều này có nghĩa là chúng tôi buộc phải có kế hoạch trước. »

    Xung đột ở Ukraina đã làm lộ rõ những điểm yếu của phương Tây về sản xuất vũ khí đạn dược. Chiến tranh lạnh kết thúc, bức tường Berlin sụp đổ, cỗ máy công nghiệp quốc phòng của Pháp giảm mạnh nhịp độ hoạt động. Giờ mục tiêu đặt ra là nâng cao trở lại nguồn dự trữ và khuyến khích các ngành công nghiệp quốc phòng sản xuất nhiều hơn, nhanh hơn.

    Nhưng mong mỏi này không thể thực hiện trong một sớm một chiều, theo như giải thích của Renaud Bellais, đồng giám đốc Đài Quan sát Quốc phòng ORION với kênh truyền hình France 24 :

    « Chúng ta gần với sản xuất thủ công hơn là đại trà. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà ở họ có cảm giác rằng tất cả mọi thứ đều có thể là tức thì. Người ta có thể được cung cấp hàng hóa một cách cực kỳ nhanh chóng. Thế giới kỹ thuật số là một thế giới của tốc độ, nhưng họ cũng chợt nhận ra rằng trong thế giới cụ thể, việc chế tạo một cỗ máy đòi hỏi nhiều thời gian. Bất kỳ hoạt động công nghiệp nào đều phải được chuẩn bị, ngay cả khi chúng ta tăng mức sản xuất xe ô tô trong lĩnh vực dân dụng hay nơi khác thì cũng phải lên kế hoạch cho nhiều năm. »

    Điểm yếu nhưng cũng là thế mạnh của Pháp

    Trước nhu cầu lớn từ phía Ukraina, trước sự cấp thiết tái lập lại kho dự trữ của quân đội Pháp và trước những hạn chế của ngành công nghiệp quốc phòng hiện nay, báo cáo của các thượng nghị sĩ đề nghị Pháp « tăng tốc sản xuất vũ khí tại Ukraina cùng với doanh nghiệp Pháp », như trường hợp nòng đại bác Caesar chẳng hạn.

    Nhu cầu của Ukraina là rất rõ ràng : Từ đại bác Caesar, cùng với đạn pháo và các loại nòng pháo thay thế, pháo 155 ly, tên lửa hành trình Scalp, vốn đã chứng tỏ tính hiệu quả khi phá hủy tầu ngầm, tầu chiến và tầu đổ bộ của Nga tại bán đảo Crimée, cho đến các loại bom dẫn đường AASM Hammer, hệ thống phòng không SAMP/T và Crotale và tên lửa tầm ngắn Mistral…

    Tuy nhiên, các báo cáo viên lại không đề cập đến tiêm kích Mirage 2000 của Pháp. Loại chiến đấu cơ, phiên bản Mirage 2000D (dành để yểm trợ tấn công trên bộ), do hãng Dassault sản xuất, đã được lãnh đạo không quân Ukraina Mykola Oleshchuk ngày 14/01 nhắc đến trên mạng Telegram. « Nếu có thể, năng lực oanh tạc cơ Su-24M cũng nên được tăng cường bằng Mirage 2000D và máy bay tấn công Su-25 bằng chiếc A-10 Thunderbolt II (Thần sấm II của Mỹ). »

    Cuộc đua sản xuất vũ khí đã được khởi động. Mục tiêu là làm sao đáp ứng cùng lúc nhu cầu to lớn của Ukraina và nhu cầu thiết yếu cho quân đội Pháp. Nếu chiến tranh Ukraina đã phơi bày những hạn chế công nghiệp quốc phòng phương Tây nói chung và Pháp nói riêng, thì điều an ủi là, cuộc xung đột này khẳng định rõ tầm nhìn đúng đắn của Pháp từ nhiều thập niên qua : Quyết tâm duy trì thế mạnh công nghiệp bất chấp chiến tranh lạnh kết thúc.

    Điều này giải thích vì sao Pháp vẫn có thể đáp ứng mức cầu tăng, dù là hạn chế, theo như nhận xét của Renaud Bellais với France 24 : « Tại Pháp, chúng ta vẫn có khái niệm về tự chủ chiến lược. Quả thật, chúng ta cố gắng có toàn bộ mọi lĩnh vực. Vì vậy, chúng ta đã chọn giữ lại hầu hết các năng lực bởi vì chúng ta muốn có thể tự mình phát triển chúng, sản xuất chúng tại Pháp và đôi khi với các đối tác. Và vì vậy, chúng ta đã chọn giảm toàn bộ các hoạt động sản xuất xuống mức tối thiểu thay vì hy sinh các ngành sản xuất này. »

    (Theo Challenges, France 24, Sud Radio, France Inter)

    13 min
  • Chiến tranh Ukraina : Putin và chiến lược « làm kiệt quệ » đối phương

    Trong những ngày cuối năm 2023 và đầu năm 2024, Nga ồ ạt tấn công nhiều thành phố lớn của Ukraina bằng tên lửa và drone với quy mô lớn chưa từng có. Giới chuyên gia cho rằng Nga thay đổi chiến thuật nhằm « phá mật mã » phòng không và làm kiệt quệ nguồn dự trữ đạn dược của Ukraina.

    Ukraina đã có một khởi đầu khó khăn cho năm 2024. Đất nước kiệt quệ sau hai năm chiến đấu, nhiệt độ ngoài trời xuống -15°C , các cuộc phản công chiếm lại những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng gần như bị đóng băng, chỉ trong vòng hơn một tuần đầu năm mới, Ukraina liên tiếp hứng chịu những đợt oanh kích có quy mô lớn.

    Chỉ riêng trong giai đoạn từ ngày 29/12/2023 đến 02/01/2024, Nga dùng hơn 500 drone và tên lửa bắn phá các thành phố lớn của Ukraina. Tuy nhiên, theo các quan chức và nhà phân tích quân sự, quy mô và mức độ phức tạp của các cuộc không kích vừa qua của Nga có trật tự hơn so với các cuộc tấn công vào mùa đông năm 2023.

    Chiến lược tiêu hao

    Thay vì nhắm vào thường dân và các cơ sở năng lượng, các mục tiêu chính lần này dường như là ngành công nghiệp quốc phòng của Ukraina như vụ Artem, nhà máy vũ khí ở Kiev bị bắn phá hư hại. Bộ Quốc Phòng Ukraina cho biết thêm, trong loạt tấn công ngày 13/01, Nga đã dùng đến 40 drone và tên lửa, bao gồm cả tên lửa đạn đạo nhằm vào khu « tổ hợp công nghiệp – quân sự của Ukraina ».

    Các cuộc tấn công đã được lên kế hoạch cẩn thận, với các đợt drone và tên lửa được thiết kế xen kẽ nhằm áp đảo hệ thống phòng không của Ukraina. Tướng Dominique Trinquand, cựu trưởng đoàn phái bộ quân sự Pháp tại Liên Hiệp Quốc, trong một chương trình truyền hình của báo Le Figaro phân tích :

    « Trên thực tế, đây là những cuộc tấn công làm bão hòa, tức là họ bắn đi nhiều drone và tên lửa nhắm vào các mục tiêu sao cho, một mặt, một số tên lửa có thể vượt qua, hệ thống phòng không của Ukraina đã không thể nào bắn chặn được, và mặt khác, làm tiêu hao một lượng lớn tên lửa bắn chặn của Ukraina đến mức làm cạn kiệt chúng. Mục tiêu chính ở đây là làm cạn nguồn đạn dược dự trữ của Ukraina. »

    Về điểm này, cựu đại tá thủy quân lục chiến Pháp Michel Goya, trên đài phát thanh France Culture, giải thích thêm rằng « nếu có 100 chiếc tên lửa đạn đạo hay hành trình bắn vào Ukraina, thì ta cần khoảng 2 tên lửa phòng không để đánh chặn mỗi tên lửa, như vậy tổng cộng phải có khoảng 200 tên lửa. Đây cũng chính là số tên lửa mà Anh Quốc thông báo chi viện. Nhưng 200 tên lửa này chỉ đủ cho một ngày chiến đấu. Đây thật sự là một thách thức lớn. »

    Patriot vs Tên lửa đạn đạo của Nga

    Điểm đáng chú ý là đợt tấn công ngày 08/01, Ukraina chỉ bắn chặn được 18 trong số 51 tên lửa do Nga bắn đi so với tỷ lệ bắn chặn thành công thông thường là 80%. Theo nhận định từ nhiều nhà phân tích quân sự được Financial Times trích dẫn, dường như Nga đang tìm cách phá mã phòng không của Ukraina và đã vạch ra được những điểm yếu của hệ thống phòng không của nước này sau nhiều ngày oanh kích.

    Chuyên gia Dara Massicot, thành viên cao cấp thuộc trung tâm cố vấn Carnegie Endowment tại Washington cảnh báo « nếu Nga thành công và Ukraina không thể bảo vệ không phận của mình, thì đó sẽ là một vấn đề lớn, mở ra cơ hội cho Nga điều máy bay ném bom hạng nặng đến Ukraina. »

    Để phá vỡ hàng phòng thủ Ukraina, quân Nga thường phóng drone bay chậm, sau đó là tên lửa hành trình cận âm bay thấp và cuối cùng là tên lửa đạn đạo được phóng thẳng đến mục tiêu với tốc độ nhanh gấp nhiều lần vận tốc âm thanh khiến chúng khó bị bắn hạ. Giới quan sát cho rằng, Nga dường như đã sử dụng 6 tên lửa đạn đạo Iskander và 8 tên lửa đạn đạo Kinjal, loại tên lửa nguy hiểm nhất mà tổng thống Nga Vladimir Putin không ngớt lời ca ngợi là « siêu vũ khí ».

    Theo phân tích của Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW, một tổ chức tư vấn có trụ sở ở Washington, được trang mạng Al Jazeeara của Qatar trích dẫn, tên lửa đạn đạo tầm ngắn có vẻ có hiệu quả hơn trong việc xuyên thủng hoặc tránh hệ thống phòng không của Ukraina. « Lực lượng phòng không Ukraina đã đánh chặn 149 trong số 166 tên lửa hành trình của Nga trong các cuộc tấn công tăng cường kể từ ngày 29/12/2023, nhưng họ chỉ bắn chặn được một số tên lửa đạn đạo mà Nga đã bắn vào Ukraina trong cùng thời gian ».

    Quả thật, chiến lược « kết hợp vũ khí siêu thanh và cận âm » của Nga đã khiến cho hệ thống phòng thủ của Ukraina, được mệnh danh là « Franken SAM » và được thiết kế dựa trên sự kết hợp giữa các hệ thống phòng không và tên lửa địa đối không phải vật lộn đối phó. Phát ngôn viên lực lượng không quân Ukraina, đại tá Yuriy Ignat cho biết chỉ có hệ thống Patriot do Mỹ sản xuất mới có thể bắn hạ được tên lửa đạn đạo.

    Ukraina chỉ có vài khẩu đội, trong khi nguồn cung lại đắt đỏ và tương đối ít do phải chia sẻ nhu cầu với Israel. Đây thật sự là một thách thức lớn cho Ukraina và cả phương Tây, theo như lưu ý từ ông Ian Lesser, thuộc Quỹ Marshall của Đức, trên kênh truyền hình Euronews :

    « Người ta e sợ là Ukraina thiếu nguồn đạn dược thiết yếu, nhưng cần phải có thời gian để tích trữ lượng nguồn vũ khí này. Thậm chí còn có một vấn đề khác nghiêm trọng hơn đối với loại vũ khí này, nhất là trên phương diện phòng không. Chúng được sử dụng với một tốc độ đến mức làm cạn kiệt cả nguồn dự trữ của phương Tây. Trong khi các tên lửa Patriot có giá rất đắt, từ hai đến bốn triệu đô la mỗi chiếc. »

    Sự việc cũng làm lộ ra những khó khăn của phương Tây hiện tại. Châu Âu không thể sản xuất một triệu đạn pháo như họ đã cam kết với quân đội Ukraina. Từ đây đến năm 2024, châu Âu chỉ sẽ giao được tổng cộng 300 ngàn đạn dược. Trong khi đó tại Mỹ, phe Cộng Hòa ngăn chặn khoản viện trợ bổ sung hơn 61 tỷ đô la mà tổng thống Joe Biden đề xuất.

    Đổi lại ở phía Nga, các nhà máy sản xuất drone và tên lửa đã hoạt động hết công suất và sản xuất nhiều hơn bất chấp các lệnh cấm vận của phương Tây. Theo chuyên gia về Nga Tatiana Kastouéva-Jean, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp, trên đài France Culture, cỗ máy chiến tranh Nga vận hành tốt còn nhờ vào việc « họ không bị thiếu hụt công nhân tay nghề như các đối thủ. Người dân Nga tình nguyện tham gia vì mức lương trong lĩnh vực này đã được tăng lên và bởi vì phần lớn các doanh nghiệp này cũng đề nghị tạm hoãn đi quân dịch, không phải ra thẳng chiến trường. »

    Iran, Bắc Triều Tiên : Nguồn chi viện dồi dào cho Nga

    Với một nền kinh tế chiến tranh và ngân sách quốc phòng tăng thêm 70% cho năm 2024, Nga hiện sản xuất hơn 100 tên lửa tầm xa mỗi tháng, so với khoảng 40 tên lửa khi bắt đầu cuộc xâm lược và khoảng 300 chiếc drone. Tuy nhiên, theo ước tính của ISW, Nga chỉ có thể sản xuất khoảng 42 tên lửa Iskander và 4 tên lửa Kinjal mỗi tháng. Lượng sản xuất đạn pháo của Nga cũng không đủ bù đắp cho nhu cầu chiến trường. Nga muốn sản xuất ba triệu đạn pháo mỗi năm, nhưng lại tiêu thụ đến khoảng một triệu đạn pháo mỗi tháng.

    Sự thiếu hụt này dường như Nga đã tìm được nguồn cung để bù đắp. John Kirby, phát ngôn viên Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, trong cuộc họp báo tại Nhà Trắng hôm 04/01 cảnh báo khả năng Nga sử dụng tên lửa đạn đạo của Bắc Triều Tiên. Theo ước tính, lượng dự trữ tên lửa KN-23 của Bình Nhưỡng có thể lên tới 100 chiếc, và phần lớn trong số này có thể được chuyển giao cho Nga với mức giá phù hợp.

     « Chúng tôi dự đoán  Nga sẽ sử dụng thêm tên lửa của Bắc Triều Tiên để bắn vào các cơ sở hạ tầng dân sự của Ukraina và giết hại thường dân Ukraina vô tội. Tên lửa đạn đạo của Triều Tiên có tầm bắn xấp xỉ 900 km, tức là khoảng 550 dặm. Đây là bước leo thang đáng kể và đáng lo ngại về sự hỗ trợ của Bắc Triều Tiên dành cho Nga ».

    Phát ngôn viên Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ còn bày tỏ lo ngại về việc Nga đang « tích cực » đàm phán mua tên lửa đạn đạo tầm ngắn từ Iran. « Tại thời điểm này, chúng tôi nghĩ rằng Iran vẫn chưa chuyển giao tên lửa đạn đạo tầm ngắn cho Nga. Tuy nhiên, Hoa Kỳ e ngại rằng các cuộc đàm phán của Nga về việc mua tên lửa đạn đạo tầm ngắn đang có những tiến triển tích cực ».

    Tóm lại, Nga đang sử dụng « bất cứ điều gì có thể để làm hao mòn Ukraina ». Nhưng nhiều nhà phân tích quân sự cho rằng tình hình của Ukraina không đến nỗi vô vọng. Nhật Bản gần đây cho biết sẽ nới lỏng các hạn chế xuất khẩu vũ khí để tên lửa Patriot do Nhật sản xuất có thể được vận chuyển sang Mỹ, như vậy Washington gởi thêm kho vũ khí của mình đến Ukraina.

    Nhưng có lẽ mục tiêu sau cùng của những cuộc tấn công này là nhằm buộc Ukraina ngồi vào bàn đàm phán theo những điều kiện có lợi cho Nga, theo đó Ukraina có lẽ sẽ phải nhượng bộ khoảng 20% lãnh thổ đã bị chiếm đóng cho Nga.

    Đương nhiên, với kết quả này, Nga đã thất bại trong việc lôi kéo Ukraina trở về vùng ảnh hưởng của mình, ngược lại, Kiev sẽ còn bám chặt hơn vào phe dân chủ phương Tây. Nhưng đổi lại, Hoa Kỳ và châu Âu sẽ bị mất uy tín, vì không có khả năng bảo vệ nền dân chủ.

    Một bên thua là Nga chống lại hai kẻ đại bại là Ukraina và Phương Tây. Đối với tổng thống Nga, đây mới thực sự là một thắng lợi lớn.  Một cuộc cá cược lớn « được ăn cả, ngã về không » của ông Putin, Le Point kết luận !

    11 min
  • Ấn Độ - Thái Bình Dương : Những thách thức quốc phòng cho Trung Quốc

    Thế giới những năm gần đây nói nhiều về khái niệm Ấn Độ - Thái Bình Dương, nhưng thuật ngữ này dường như chưa bao giờ được Trung Quốc đề cập đến. Tại một khu vực từ lâu do Mỹ thống trị, đâu là vị thế của Trung Quốc ? Liệu Bắc Kinh có một tầm nhìn và một chiến lược đặc biệt cho vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương ?

    Đối với nhiều nhà quan sát đây là một điểm thú vị. Nghiên cứu các phiên bản Sách Trắng Quốc phòng của các năm 2017 và 2019, người ta nhận thấy không một lần nào Bắc Kinh đề cập đến « Ấn Độ - Thái Bình Dương »1. Không những thế, Bắc Kinh thường xuyên chỉ trích mạnh mẽ khái niệm này, cho rằng đây là một hình thức phương Tây, đi đầu là Mỹ, vây hãm Trung Quốc.

    Ấn Độ - Thái Bình Dương…  

    Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Bắc Kinh không có chính sách Ấn Độ – Thái Bình Dương. Theo Tanguy Struye de Swielande2, giáo sư ngành Quan hệ Quốc tế, trường đại học Công giáo Louvain (Bỉ), trên thực tế, Trung Quốc đã dùng lại lô-gic của khái niệm này qua việc xây dựng một tầm nhìn chiến lược, kết nối hai vùng Châu Á – Thái Bình Dương, khu vực ưu tiên, vùng ảnh hưởng tự nhiên và Ấn Độ Dương, khu vực Trung Quốc tìm cách gia tăng sự hiện diện như tại Maldives, Seychelles, Sri Lanka.

    Vùng châu Á – Thái Bình Dương, xuất phát từ Hoàng Hải, băng qua biển Hoa Đông và eo biển Đài Loan, để rồi đi xuống Biển Đông, là khu vực mà Bắc Kinh có yêu sách chủ quyền nhiều nhất. Từ góc nhìn quân sự, khu vực này tạo thành tuyến phòng thủ đầu tiên. Chính sách này của Trung Quốc được thể hiện rõ qua việc xây dựng và quân sự hóa nhiều đảo nhân tạo hay tự nhiên (như tại quần đảo Trường Sa, bãi cạn Scarborough, Hoàng Sa).

    Trong một mục tiêu dài hạn đến năm 2049, từ tuyến phòng thủ đầu tiên này, Trung Quốc có thể triển khai đến chuỗi đảo thứ hai (quần đảo Ogasawara, Saipan và Guam) và thậm chí có thể thiết lập tuyến phòng thủ thứ ba gần Hawai. Trong khuôn khổ tham vọng này, Bắc Kinh phát triển một chiến lược chống xâm nhập và vô hiệu hóa các căn cứ quân sự tiền tuyến của Mỹ nhằm ngăn chặn mọi ý đồ triển khai sức mạnh của quân đội Mỹ.

    … Và chiếc cầu nối Đông Nam Á

    Liên quan đến Ấn Độ Dương, ở Trung Quốc, những người theo trường phái Alfred Mahan – một sĩ quan hải quân, nhà sử học và chiến lược gia hải quân người Mỹ thế kỷ XIX – tỏ lập trường rất rõ ràng : « Ai kiểm soát được Ấn Độ Dương sẽ làm chủ được châu Á. Ấn Độ Dương là lối thông ra bảy vùng biển trên thế giới. Vận mệnh của thế giới trong thế kỷ XXI sẽ do Ấn Độ Dương định đoạt ».

    Thế nên, đối với Trung Quốc, việc hiện diện tại Ấn Độ Dương trở nên thiết yếu, do đó là những tuyến hàng hải đến châu Phi và Trung Đông để nhập khẩu nguyên nhiên liệu, và đi đến châu Âu để xuất khẩu hàng gia công. Hệ quả là Trung Quốc tăng cường hiện diện quân sự, như mở căn cứ quân sự ở Djibouti, hay hiện diện quân sự ở cảng Gwadar, Pakistan.

    Trong chiến lược này, khu vực Đông Nam Á giữ vai trò địa chính trị quan trọng đối với Trung Quốc. Điều này được thể hiện rõ qua việc phát triển chính sách Những Con Đường Tơ Lụa Mới của Bắc Kinh. Kiểm soát được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng tiến ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

    Một điểm khác cho thấy tầm quan trọng của khu vực là eo biển Malacca. Nút thắt « yết hầu » này có thể đẩy Trung Quốc rơi vào thế yếu nếu hạm đội Mỹ phong tỏa vùng biển chặn đường tiếp nhiên liệu cho Bắc Kinh, trong trường hợp xảy ra xung đột với Washington.

    Để giảm thiểu nguy cơ này, Trung Quốc phải tăng cường hiện diện trong khu vực và nhắm đến việc hộ tống các tầu hàng. Tuy nhiên, điều này có nguy cơ dẫn đến phản ứng quân sự từ một số nước Đông Nam Á, xem chính sách này của Bắc Kinh như là một mối đe dọa cho an ninh quốc gia.

    Khủng hoảng eo biển Đài Loan 1995-1996 : Cột mốc!

    Nhưng ngoài việc tìm cách mở rộng ảnh hưởng, bảo đảm an toàn giao thương hàng hải, mục tiêu sau cùng của Trung Quốc là làm thế nào « xua đuổi » được Hoa Kỳ ra khỏi vùng ảnh hưởng trực tiếp để có thể áp đặt các ý muốn của mình tại khu vực.

    Trả lời phỏng vấn tạp chí DSI, số đặc biệt tháng 10-11/2023, nhà địa chính trị Valérie Niquet, chuyên gia về Trung Quốc và Đông Nam Á, từng nhận định đây sẽ là một thắng lợi cho Trung Quốc nếu nước này « thuyết phục được các quốc gia trong khu vực rằng Hoa Kỳ không có chỗ trong vùng, và làm cho Mỹ nhận thấy rằng việc quyết định phiêu lưu xung đột với Trung Quốc sẽ trả một cái giá rất đắt. »

    Do đó, mọi nỗ lực của Trung Quốc là tập trung cho cuộc chiến thông tin, cuộc chiến gây ảnh hưởng và nhất là phát triển một đội quân hùng mạnh nhất thế giới từ đây đến năm 2049, theo như mục tiêu mà chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề ra. Chuyên gia quân sự Mathieu Duchatel3, giám đốc chương trình châu Á, Viện Montaigne, cho rằng, để hiểu rõ những tham vọng quân sự này của Trung Quốc, cần phải lồng sự việc trong vấn đề Đài Loan.

    Cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ ba năm 1995-1996 là động lực thúc đẩy chương trình hiện đại hóa Quân Đội Giải phóng Nhân dân (PLA) trong nhiều lĩnh vực. Mục tiêu là nhằm có được khả năng đánh gục Đài Loan bằng vũ lực, đồng thời có thể ngăn chặn Mỹ can thiệp, tiếp cận các chuỗi đảo đầu tiên.

    Trong một kịch bản tốt nhất, khả năng chống xâm nhập của Bắc Kinh đủ ngăn cản Hoa Kỳ can thiệp. Nhưng trong kịch bản tồi tệ, đối đầu trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc có thể xảy ra. Do vậy, Tập Cận Bình nhân kỳ đại hội đảng lần thứ 19 đã tuyên bố rằng Trung Quốc phải có một « đội quân tầm cỡ thế giới từ đây đến năm 2050 ». Điều đó cũng đồng nghĩa với việc Trung Quốc phải có một quân đội chiến lược « ngang vai, ngang vế » với Hoa Kỳ.

    Năm 2023, Trung Quốc dành đến 225 tỷ đô la cho quốc phòng, tăng hơn 7%, một mức tăng cao nhất tính từ năm 2019. Đương nhiên, Hoa Kỳ vẫn là cường quốc quân sự hàng đầu thế giới với mức ngân sách quốc phòng hàng năm dành ra là gần 800 tỷ đô la, chiếm đến 39% tổng chi tiêu quân sự toàn cầu.

    Lột xác !

    Nhưng từ năm 2010, Trung Quốc đã có mức ngân sách quốc phòng đứng hàng thứ hai trên thế giới. Theo nhà địa chính trị Fabrice Ravel4, điều thật sự thú vị là « từ 26 năm qua, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng đều đặn. Đây là điều không thể tưởng. Chưa có một nước nào trên thế giới có một sự tăng trưởng trong một quãng thời gian dài như thế. Nhất là mức tăng này chiếm đến gần 500% ngân sách. Đây thật sự là điều đáng quan tâm. »

    Trong quá trình hiện đại hóa quân đội, Trung Quốc dành ưu tiên cho hai thành tố chính. Thứ nhất là lực lượng hải quân. Từ một lực lượng bảo vệ bờ biển, phòng thủ, hải quân Trung Quốc biến thành một lực lượng hải dương có thể triển khai xa bờ và làm chủ nhiều loại tầu chiến tân tiến, mang tính biểu tượng cao. Chuyên gia Fabrice Ravel nhận định tiếp :

    « Lần đầu tiên hải quân Hoa Kỳ cho rằng Trung Quốc đang qua mặt Mỹ về số lượng. Họ ước tính rằng Trung Quốc có hơn 360 tầu chiến so với con số 297 của hải quân Mỹ. Đáng chú ý hơn nữa là khả năng sản xuất và lắp ráp các loại tầu chiến lớn có tính biểu tượng cao. Đầu tiên là tầu ngầm hạt nhân.

    Người ta ước tính Trung Quốc có khả năng cho xuất xưởng một chiếc mỗi 15 tháng. Nếu tiếp tục lắp ráp theo nhịp độ này, từ đây đến năm 2030, Trung Quốc sẽ có 13 chiếc tầu ngầm hạt nhân. Điều đó có nghĩa là Bắc Kinh sẽ có nhiều tầu ngầm hạt nhân trong vùng hơn Mỹ.

    Thứ đến là hàng không mẫu hạm. Trung Quốc đã mua một chiếc từ Ukraina năm 1998 và đã cho cải tạo, trang bị lại. Tiếp đến Trung Quốc cho hạ thủy hai chiếc khác, trong đó chiếc Sơn Đông đã chính thức đi vào hoạt động. Cùng lúc Bắc Kinh gia tăng số hàng không mẫu hạm, trang bị thêm chiến đấu cơ (…)

    Điều thú vị là Trung Quốc dành đến 5,5 tỷ đô la cho việc thiết kế và lắp ráp hàng không mẫu hạm. Trong triển vọng này, Trung Quốc sẽ có thêm bốn chiếc trong thời gian sắp tới. Giới chuyên gia Canada cho rằng mục tiêu của Trung Quốc là có khoảng một chục chiếc hàng không mẫu hạm. »

    Lĩnh vực thứ hai được Trung Quốc ưu tiên đầu tư nhiều là hạt nhân. Trung Quốc xây dựng 250 xi-lô để cất trữ tên lửa đạn đạo liên lục địa. Theo ước tính, lực lượng hạt nhân Trung Quốc có khoảng từ 300-400 đầu đạn nguyên tử. Con số này có thể sẽ tăng lên vào khoảng 1000 trong thời gian sắp tới.

    Emmanuel Veron, chuyên gia về Trung Quốc đương đại, trên đài France Culture ngày 29/12/2023, giải thích thêm rằng cùng với Nga và Mỹ, Trung Quốc là quốc gia duy nhất sở hữu bộ ba hạt nhân chiến thuật.

    « Thứ nhất là bộ phận không quân với các loại máy bay ném bom chiến lược, vốn đã trải qua quá trình hiện đại hóa rất đáng kể, từ 15 - 20 năm qua với các chương trình trang bị vũ khí, có khả năng mang bom hạt nhân. Đặc biệt là loại máy bay ném bom chiến lược H6 nổi tiếng có tầm hoạt động xa, từ Biển Đông và vượt ra ngoài Đài Loan. Đây thật sự là một vấn đề chiến thuật, đòi hỏi sự kết hợp các chiến lược ở Châu Á Thái Bình Dương với thành phần này.

    Thứ hai là thành phần trên bộ thông qua các xi-lô nằm ở vùng phía Tây rộng lớn của Trung Quốc, rồi ở nhiều địa điểm khác được “xếp diện bí mật”.

    Cuối cùng, có lẽ phức tạp hơn, khó khăn hơn, là răn đe hạt nhân trên biển, tức là bằng tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo hạt nhân, tương đương với SSBN của Pháp đóng tại căn cứ Long Island ở Brest. Thành phần này phức tạp hơn, tinh vi hơn, bởi vì nó đòi hỏi cả khả năng chuyên chở, khả năng tàng hình của tàu ngầm và do vậy, đòi hỏi các công nghệ đặc biệt tiên tiến, cũng như khả năng trang bị một tên lửa trên tàu có hiệu quả, độ chính xác cao và có tất cả sự tinh tế, của một tên lửa hạt nhân có thể mang nhiều đầu đạn, v.v. Đây là một trong những vật thể phức tạp nhất trong hệ thống vũ khí.

    Ngoài ra, Trung Quốc đang nghiên cứu sâu rộng vấn đề này cùng với các hệ thống tàu ngầm AIP động cơ đẩy kỵ khí khác, vốn dĩ nằm trong mục tiêu chiến lược về Đài Loan và ở Thái Bình Dương. »

    Những hạn chế

    Một điểm khác cũng gây ngạc nhiên cho giới quan sát : Trung Quốc là quốc gia duy nhất trên thế giới có một nền công nghiệp vũ khí có thể sản xuất tất cả các loại hệ thống vũ khí cùng một lúc. Rõ ràng Bắc Kinh đang trong lô-gic tăng cường năng lực quân sự trong tất cả các lĩnh vực. Mục tiêu là nhằm có được thế ưu tuyệt đối ngay trong lòng chuỗi đảo phòng thủ đầu tiên. Nhưng đồng thời Trung Quốc cũng phát triển các khả năng triển khai bên ngoài nhằm bảo vệ các lợi ích ngoài vùng Đông Á.

    Nhìn chung, Bắc Kinh đã thiết lập một số điểm « thiện chiến », có thể gây khó khăn cho Mỹ trong trường hợp xảy ra xung đột. Mathieu Duchatel,dẫn ví dụ năng lực chống tầu chiến tầm xa của Bắc Kinh. Đây thực sự là một mối đe dọa nghiêm trọng cho các chiến dịch quân sự của hải quân Mỹ trong vùng. Ngoài ra, nếu nhìn trên một không gian rộng, toàn vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, với sự hợp tác của các đồng minh và đối tác khu vực, hiện tại Hoa Kỳ đã xây dựng được một không gian thống lĩnh đối phó với các năng lực quân sự của Trung Quốc.

    Dù vậy, giới chuyên gia cũng có chung một nhận định: một trong số các điểm yếu quan trọng của quân đội Trung Quốc hiện nay là thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Cuộc chiến sau cùng Trung Quốc tham gia là cuộc chiến biên giới Việt Nam năm 1979. Giới quan sát đặt nhiều nghi vấn về khả năng phối hợp tác chiến liên quân của Trung Quốc. Và nhất là việc đảng Cộng sản Trung Quốc tập trung kiểm soát chính trị có thể là một rào cản lớn gây trở ngại cho quá trình ra quyết định, do ai cũng sợ phạm phải sai lầm và gánh lấy nhiều rủi ro !

    ---------- ********** ----------

    Ghi chú :

    1. Khái niệm « Ấn Độ - Thái Bình Dương » được nhà địa chính trị học người Đức Haushofer dùng lần đầu tiên vào năm 1920. Nhưng thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe là người đầu tiên dùng thuật ngữ này vào mục đích chính trị năm 2007 trong khuôn khổ Đối thoại An ninh Bốn bên (Nhật Bản, Hoa Kỳ, Úc và Ấn Độ).

    2. Tạp chí Les Grands Dossiers de Diplomatie n°53, « La démographie : un enjeu géopolitique majeur », số ra tháng 6-7/2019.

    3. Tạp chí Les Grands Dossiers de Diplomatie n°73, « Géopolitique de la Chine », số ra tháng 4-5/2023.

    4. L'Armée chinoise, quels objectifs ? – ESCE – International Business School, ngày 18/10/2023.

    13 min
  • Nếu Trump tái đắc cử: Những hệ quả đối với xung đột ở Gaza và Ukraina

    Bầu cử tổng thống Mỹ chưa diễn ra, đảng Cộng Hòa vẫn chưa có ứng viên chính thức, nhưng chiếc bóng của Donald Trump đã phủ lên nhiều hồ sơ quốc tế lớn. Tại châu Á, các nước đồng minh của Mỹ phập phồng lo sợ Donald Trump trở lại cầm quyền. Ngược lại, thủ tướng Israel Benyamin Netanyahu và tổng thống Nga Vladimir Putin lại đặt cược nhiều vào chiến thắng của nhà tỷ phú địa ốc. Nhưng kịch bản này, nếu xảy ra, sẽ là một thảm họa cho Liên Hiệp Châu Âu.

    Năm 2024 vừa mới bắt đầu, nhưng « Donald Trump đã là nhân vật của năm 2024 », trang mạng France Inter ngày 02/01/2024 đã viết như thế ! Hiện tại, Donald Trump chưa phải là ứng viên chính thức, vì vòng bầu cử sơ bộ của đảng Cộng Hòa sẽ chỉ bắt đầu vào ngày 15/01/2024 từ bang Iowa. Nhưng các cuộc thăm dò hiện tại cho thấy ông Trump có nhiều lợi thế không chỉ với các đối thủ trong đảng mà cả với ông Joe Biden.

    Theo Bernard Guetta1, nghị sĩ Châu Âu, thuộc nhóm nghị sĩ Renew, và là thành viên Ủy ban Đối ngoại Nghị Viện Châu Âu, viễn cảnh Donald Trump trở lại cầm quyền là một mối đe dọa to lớn.

    « Nếu nhân vật này vào được Nhà Trắng, trước hết ông ấy sẽ làm suy yếu hơn nữa nền dân chủ Mỹ. Đừng quên rằng, vào cuối nhiệm kỳ đầu tiên, ông ấy đã tiến hành một cuộc tấn công nhằm vào tòa nhà Quốc Hội. Nhưng ngoài tấn bi kịch chính trị nội bộ của Mỹ, Donald Trump còn muốn phá vỡ Liên minh Quân sự Bắc Đại Tây Dương, phá vỡ Liên Hiệp Châu Âu. Ông ấy muốn đúc kết một thỏa thuận với Vladimir Putin, sau lưng người dân Ukraina, sau lưng chúng ta, 27 nước thành viên Liên Âu. Đó thực sự không phải là một viễn cảnh vui vẻ chút nào ! »

    Chiến sự ở Gaza : Cuộc chiến sinh tồn cho thủ tướng Israel ?

    Nhưng rủi thay, « trên thế giới, có hai người điên cuồng đang trông đợi Trump trở lại Nhà Trắng : Benjamin Netanyahu ở Israel và Vladimir Putin ở Matxcơva », vị nghị sĩ Châu Âu này bình luận tiếp. Bất chấp con số nạn nhân cao, chưa có dấu hiệu nào cho thấy hai tấn bi kịch, một ở dải Gaza và một tại Ukraina sẽ có ngày chấm dứt. Thủ tướng Israel và tổng thống Nga chỉ được lợi khi kéo dài thêm cuộc xung đột với hy vọng Donald Trump tái đắc cử.

    Đối với nhân vật thứ nhất, nghị sĩ châu Âu giải thích : « Đương nhiên là Netanyahu phải tiếp tục cuộc chiến và thậm chí có thể mở rộng cuộc xung đột, bởi vì đối với ông ấy, đây là một sự bảo đảm cho sự sống còn, tôi muốn nói về mặt chính trị ». Kéo dài vô tận cuộc xung đột còn là cách tốt nhất để ông giữ được quyền miễn trừ tư pháp với tư cách người đứng đầu chính phủ.

    Thủ tướng Israel hiện đang đối mặt với ba thủ tục tố tụng, được mở ra từ năm 2019 về tội tham nhũng, gian lận và lạm dụng lòng tin, những tội danh có thể dẫn đến án tù. Thế nên, theo nhà sử học Jean-Pierre Filiu2, giáo sư trường đại học Khoa học Chính trị, mục tiêu « xóa sổ » phe Hamas mà ông Netanyahu đề ra, ít có cơ may đạt được, chỉ mang tính khoa trương hơn là quân sự.

    Liên Hiệp Châu Âu : Bên thiệt thòi nhiều nhất ?

    Nhưng việc theo đuổi chiến sự trên dải Gaza không chỉ giúp Benyamin Netanyahu duy trì quyền lực tại Israel, mà còn nhằm làm suy yếu Joe Biden, vào lúc đảng Dân Chủ chưa bao giờ bị chia rẽ như lúc này. Trên thực tế, thủ tướng Israel luôn mong đợi sự trở lại Nhà Trắng của Donald Trump, vốn đã hậu thuẫn ông vô điều kiện từ năm 2017 đến năm 2020.

    Hẳn người ta sẽ chưa quên bản Kế hoạch Hòa bình cho Cận Đông được tổng thống Donald Trump công bố ở Nhà Trắng ngày 28/01/2020 trước sự hiện diện của thủ tướng Israel Netanyahu mà không có đại diện Palestine.

    Kế hoạch mang tên « Tầm nhìn » của Donald Trump cho phép Israel sáp nhập các khu định cư Do Thái nằm rải rác trên khắp vùng Cisjordanie vào lãnh thổ Israel. Đổi lại, Tel-Aviv cam kết sẽ ngưng mở rộng các khu định cư. Người Palestine sinh sống trong các khu định cư Do Thái có bốn năm để quyết định đi hay ở lại với Israel. Trái lại, người tị nạn Palestine vẫn không được phép trở về Israel.

    Kế hoạch này đã bị chỉ trích là « thiên vị, bất cân xứng » chỉ chiều theo ý muốn của thủ tướng Israel, « một thảm họa thứ hai » theo như đánh giá từ giới truyền thông Pháp vào thời điểm đó ! Do vậy, nếu duy trì được quyền lực từ đây đến tháng 11, thủ tướng Israel Benyamin Netanyahu sẽ bỏ phiếu ủng hộ Donald Trump hơn là một Joe Biden đang nói đến giải pháp « Hai Nhà nước ».

    Từ những quan sát trên, nghị sĩ châu Âu Bernard Guetta cảnh báo, nếu xung đột ở Gaza kéo dài cùng với sự trở lại của Donald Trump, chiến tranh có thể lan rộng ra toàn khu vực. Liên Hiệp Châu Âu một lần nữa có nguy cơ đối mặt với những làn sóng di dân, các cuộc tấn công khủng bố ồ ạt và có nhiều nguy cơ bị lôi kéo vào xung đột ở Gaza.

    Donald Trump trở lại: Thắng lợi cho tổng thống Nga !

    Nhưng thủ tướng Israel không phải là người duy nhất tính đến nước cờ này. Vladimir Putin, người mà lãnh đạo Israel có mối quan hệ mật thiết hơn là với Joe Biden, cũng tin rằng việc ông Trump tái đắc cử sẽ là một thắng lợi cho nước Nga trong cuộc chiến xâm lược Ukraina.

    Cuộc xung đột ở dải Gaza bùng phát hồi tháng 10/2023 đã là « món lộc trời ban » cho tổng thống Nga. Chiến sự bùng nổ đẩy nước Mỹ của Joe Biden rơi vào trạng thái « tả xung hữu đột » và công luận quốc tế bị chuyển hướng sang Cận Đông. Donald Trump trở lại cũng đồng nghĩa với việc xoa dịu được  tư tưởng bài Nga và nhất là có thể cắt nguồn hậu thuẫn tài chính cho Ukraina.

    Donald Trump, trong một cuộc vận động cho bầu cử sơ bộ, trước những người ủng hộ ông, từng tuyên bố : « Tôi sẽ giải quyết cuộc chiến sau một ngày, trong vòng 24 giờ ! ». Theo giải thích của nghị sĩ Châu Âu Bernard Guetta, điều đó có nghĩa là, « ông ấy sẽ nói với ông Putin là "ông hãy giữ phần lãnh thổ mà ông đã chiếm được tại Ukraina, còn tôi sẽ ngưng hỗ trợ cho Ukraina. »

    Đây cũng là cách diễn giải của nhà sử học quân sự Philips O’Brien3, trường đại học St-Andrews : « Điều ông sẽ làm là đề nghị hoặc buộc Ukraina nhượng lãnh thổ cho Putin. Tôi nghĩ ông tin rằng Putin là người mà ông có thể đàm phán. »

    Ngay từ đầu cuộc xung đột, nếu như lưỡng đảng cho tới nay gần như nhất trí ủng hộ tài trợ cho quốc phòng Ukraina, thì Donald Trump luôn chất vấn về sự hậu thuẫn dành cho Kiev. Đây cũng không phải là điều gì mới mẻ. Trong quá khứ, khi còn tại nhiệm, nhà tỷ phú bất động sản này đã bị chỉ trích có mối quan hệ « nồng ấm » với nguyên thủ Nga. Ông còn bị cáo buộc đã đe dọa cắt nguồn viện trợ cho Kiev trừ phi chính phủ tổng thống Zelensky chịu tiết lộ những điều xấu xa về Joe Biden và con trai ông là Hunter Biden.

    Theo đánh giá của Philips O’Brien, điều nguy hiểm ở đây là Donald Trump xem chính sách đối ngoại cũng như chính trị là « một con đường để trục lợi cá nhân ». Đối với ông, « NATO, đồng minh hay Ukraina đều không quan trọng. Tốt nhất hãy thực hiện một thỏa thuận có lợi cho Donald Trump ».

    Cơ hội đắc cử tổng thống lần hai của Donald Trump ngày một lớn. Tại Mỹ, người dân bắt đầu mệt mỏi về những cuộc can thiệp quân sự. Các chiến dịch quân sự bên ngoài, từ Việt Nam cho đến Afghanistan, đều kết thúc bằng cái giá rất đắt cả về nhân mạng và vật chất. Các cuộc thăm dò mới nhất cho thấy gần một nửa số người Mỹ được hỏi cho rằng chính phủ đã chi quá nhiều tiền để hỗ trợ cho cuộc chiến chống Nga. Và tỷ lệ này còn cao hơn đáng kể trong số các cử tri đảng Cộng Hòa.

    Nguy cơ nước Mỹ trở lại với chủ nghĩa biệt lập ?

    Chuyên gia về Mỹ Jérôme Viala-Gaudefroy4, trường đại học Khoa học Chính trị nhận định, Donald Trump trở lại Nhà Trắng còn đồng nghĩa với việc nước Mỹ quay về với chủ nghĩa biệt lập.

    « Vladimir Putin ở Nga, rồi Tập Cận Bình ở Trung Quốc, chúng ta thấy rằng Trump thực sự đang thúc đẩy một làn sóng chủ nghĩa biệt lập tồn tại đặc biệt ở phe Cộng Hòa. Có một kiểu mệt mỏi vì chiến tranh, sau cuộc chiến chống khủng bố, cuộc chiến ở Irak. Thực sự có mong muốn thoái lui này. Người ta nói rằng trước tiên chúng ta phải quan tâm đến biên giới của mình, những gì đang xảy ra trong nước và còn thế giới là chuyện của họ. Ukraina là vấn đề của châu Âu. Thậm chí, một số cố vấn của Trump còn chất vấn về sự tham gia của Hoa Kỳ vào NATO. Dù vậy, đối với Mỹ, liên minh này vẫn là một điều quan trọng vì Quốc Hội gần đây đã thông qua một nghị quyết buộc tổng thống phải có sự đồng ý của Quốc Hội và 3/4 lá phiếu Thượng viện để có thể rút khỏi NATO. »

    Sự trở về của Trump còn hàm chứa nhiều rủi ro xảy ra hỗn loạn trên chính trường Mỹ như những gì từng xảy ra trong nhiệm kỳ đầu. Donald Trump chỉ sẽ làm những gì mình muốn, và « trong trường hợp này, mọi tiền lệ đều bị loại bỏ », ông Philips O’Brien cảnh báo. Nhưng một tình trạng hỗn loạn ở Mỹ, và một nền dân chủ Mỹ bị suy giảm, chính xác là điều mà ông Putin và nhiều kẻ thù khác của Mỹ đang mong đợi.

    Tại châu Á, các đồng minh của Mỹ lo lắng trước nguy cơ Donald Trump đắc cử tổng thống. Những nỗ lực của chính quyền Biden nhằm tăng cường các mối quan hệ đồng minh, từ Tuyên bố Washington về liên minh quân sự Mỹ – Hàn, tuyên bố Camp David ba bên Mỹ – Nhật – Hàn và quan hệ đối tác công nghiệp quốc phòng AUKUS có nguy cơ không còn tồn tại trong quá trình chuyển đổi chính trị ở Washington.

    Dù vậy, chuyên gia địa chính trị Bertrand Badie5, giáo sư danh dự trường đại học Khoa học Chính trị vẫn đưa ra chút tín hiệu lạc quan khi cho rằng người ta có xu hướng đánh giá thấp khả năng chống chọi mạnh mẽ của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ. Trên đài RFI Pháp ngữ ngày đầu năm 2024, ông phân tích :

    « Mỹ không thay đổi chính sách đối ngoại dễ dàng như chúng ta nghĩ. Thậm chí chúng ta có chút xu hướng châm biếm nhiệm kỳ tổng thống Trump, đã thể hiện sự khác biệt với các đời tổng thống Mỹ khác bằng những cử chỉ mang tính biểu tượng ngoạn mục, chẳng hạ như rút khỏi các tổ chức quốc tế, di dời đại sứ quán Mỹ ở Israel, và nhiều việc khác như rút khỏi thỏa thuận về hạt nhân Iran…

    Nhưng chưa bao giờ có bất kỳ thay đổi thực sự nào trong định hướng chính sách đối ngoại của Mỹ ngoại trừ việc, cứ như chúng ta nói,  có một mong muốn, đã được khởi xướng từ thời Obama, là thoái lui khỏi các cuộc xung đột lớn trên thế giới.

    Cho dù đó là Trump hay Biden, thì điều đó cũng giống nhau, ngay cả khi Biden tỏ ra nhạy cảm với cánh tả trong đảng Dân chủ ngày càng kêu gọi, nếu không ủng hộ người Palestine, thì ít nhất là trung lập hơn, và chúng ta đã thấy điều đó đặc biệt trong các cuộc bỏ phiếu gần đây tại Hội Đồng Bảo An.

    Chính sách ngoại giao của Mỹ không thay đổi. Đây là mặt ổn định, mạnh hơn chúng ta nói mà các nhà bình luận không có thói quen nhắc đến. »

    ---------- ********** ----------

    Tham khảo :

    1. Bernard Guetta : "Deux hommes attendent frénétiquement le retour de Trump : Netanyahou et Poutine", France Inter ngày 01/01/2024.

    2. « Le destin de l’Europe en 2024 se jouera à Gaza », Le Monde ngày 31/12/2023.

    3. Is Trump a bigger threat to Ukraine than Putin in 2024? Channel 4 News, ngày 29/12/2023.

    4. La présidentielle 2024 aux États-Unis : Donald Trump le retour ? TV5 Monde ngày 16/12/2023.

    5. Quel impact des élections européennes et américaines sur les conflits à Gaza et en Ukraine? RFI ngày 01/01/2024.

    12 min
  • Ukraina, Cận Đông, châu Á … thách thức uy tín siêu cường Mỹ

    Chỉ còn vài ngày nữa là năm 2023 khép lại. Khác với mọi năm, châu Âu đón giao thừa với hai cuộc chiến tranh lớn trước cửa nhà, một tại Ukraina và một ở dải Gaza. Trong khi đó ở châu Á, bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan, Biển Đông, nguy cơ xung đột vũ trang cũng đang chực chờ bùng phát. Và cũng chưa có lúc nào, uy tín của siêu cường Mỹ bị thách đố gay gắt như trong năm nay.

    Ngày 07/10/2023, thế giới bất ngờ trước một chiến dịch « đánh úp » đẫm máu của phe Hamas nhằm vào nhiều địa phương, giết chết hơn 1.140 thường dân Israel, và bắt theo hơn 250 con tin. Nếu như thế giới lên án hành động giết người với một mức độ tàn bạo chưa từng có của lực lượng vũ trang người Palestine này – bị Hoa Kỳ, Liên Hiệp Châu Âu và Israel xếp vào diện khủng bố – thì các cuộc tấn công trả đũa của quân đội Israel ở dải Gaza, làm hơn 20 ngàn thường dân Palestine thiệt mạng và hàng triệu người dân phải bỏ nhà cửa chạy lánh nạn, cũng bị cộng đồng quốc tế kịch liệt chỉ trích.

    Israel muốn an ninh, không cần hòa bình

    Làm thế nào giải thích cho sự trở lại của « tình trạng man rợ » này ? Nhà địa chính trị học, Carole André-Dessornes, chuyên gia về tương quan lực lượng và bạo lực ở Trung Đông, trên đài RFI ngày 23/12/2023 giải thích, xung đột bùng phát là vì cộng đồng quốc tế từ lâu vẫn phủ nhận chính nghĩa của người Palestine, từ chối nhìn thẳng vào vấn đề.

    « Chúng ta nên hiểu rằng tình hình nguyên trạng là hầu như không trụ được. Người ta đã quên rằng dải Gaza bị phong tỏa từ năm 2007 và có hơn hai triệu người sinh sống trên một diện tích rộng chỉ có 370 cây số vuông, do vậy khó thể mà sống được. Thêm vào đó là việc tăng tốc xây dựng các khu định cư Do Thái ở phía Đông Jerusalem và Cisjordanie. Rồi còn có một giới trẻ hoàn toàn tuyệt vọng bởi vì họ thật sự chẳng có tương lai. »

    Đâu là lối thoát cho xung đột ? Người ta nói nhiều đến giải pháp « Hai Nhà nước ». Một giải pháp mà ông Gérard Araud, cựu đại sứ Pháp tại Israel, Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ, trong một phiên điều trần trước Ủy ban Đối ngoại về Tình hình Israel của Hạ Viện, hồi trung tuần tháng 11/2023 đánh giá là điều không thể. Ông giải thích :

    « Vấn đề cốt lõi của Cisjordanie nằm ở điểm đây là vùng đất thánh. Ở đây quý vị có hai cản trở chính. Thứ nhất là cản trở an ninh. Bởi vì, khi hình thành Nhà nước Palestine tại Cisjordanie, tức là chúng ta sẽ có một Nhà nước Palestine chỉ nằm cách Tel Aviv có 14 km, cách sân bay quốc tế Ben Gourion của Israel 5 km. Vì vậy, chỉ cần một quả rốc – kết là Israel ngừng hoạt động.

    Hơn nữa, người dân Israel họ không muốn hòa bình, họ muốn có an ninh. Nghĩa là, theo một cách nào đó, Israel luôn trong tình trạng chiến tranh từ năm 1948 và có thể nói rằng, Israel đã quen sống trong những điều kiện như thế. Nhưng đối với họ, mục tiêu chính yếu vẫn là An Ninh.

    Điều thứ hai, đó là một nền an ninh phải do chính họ bảo đảm. Do lịch sử đất nước, người Israel không tin tưởng bất kỳ ai cho an ninh của mình và đương nhiên là cả với Hoa Kỳ chẳng hạn. Do vậy, bất kỳ ý tưởng nào về một lực lượng quốc tế, lực lượng các nước Ả Rập, hay một lực lượng Liên Hiệp Quốc đều không có chút cơ may nào được chấp nhận bởi một đất nước mà tôi có thể nói là bị cuồng ám ».

    Ẩn sau cuộc xung đột này còn là một « ván cờ lớn » giữa các cường quốc trong khu vực. Chiến sự bùng phát là một đòn giáng, chặn  đường Israel bình thường hóa quan hệ với nhiều nước Ả Rập, đặc biệt là Ả Rập Xê Út trong khuôn khổ Thỏa thuận Abraham, được thương lượng dưới sự chủ trì của chính quyền Donald Trump năm 2020. Đối với Iran, nước cờ này của Mỹ và Israel là một mối đe dọa, có thể làm đảo lộn thế tương quan lực lượng trong Vùng Vịnh, có lợi cho Ả Rập Xê Út. Súng phóng lựu có gắn đầu đạn áp nhiệt do Hamas sử dụng là một bằng chứng cho sự can dự của Teheran.

    Ukraina : Cuộc chiến tiêu hao của Nga

    Xung đột ở dải Gaza đang che lấp một cuộc chiến khác kéo dài từ gần hai năm : Cuộc chiến chống quân xâm lược Nga của Ukraina, đang diễn ra gay gắt trong những ngày cuối năm. Cuộc phản công của Kiev mà các đồng minh phương Tây trông đợi, bắt đầu từ tháng Sáu đã gặp thất bại, như thừa nhận của Tổng tham mưu trưởng quân đội Ukraina với tuần báo Anh The Economist. Tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky trong cuộc họp báo truyền thống cuối năm phải nhìn nhận « chiến tranh không biết hồi nào kết thúc ».

    Lời thừa nhận chua chát được đưa ra vào lúc tổng thống Joe Biden chưa thông qua được gói viện trợ bổ sung 60 tỷ đô la cho Ukraina do vấp phải những phản đối mạnh mẽ từ đảng đối lập Cộng Hòa. Tệ hơn nữa, theo báo cáo do Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế Kiel của Đức, cam kết trợ giúp của các nước đồng minh của Kiev trong năm 2023 đã rớt xuống « mức thấp nhất » tính từ đầu cuộc chiến xâm lược của Nga vào tháng 2/2022.

    Trong khi đó, quân đội Nga được chi viện thêm 300 ngàn quân dự bị, và trang bị thêm nhiều vũ khí đạn dược từ nhiều nguồn cung như Iran, Bắc Triều Tiên, gia tăng oanh kích Ukraina ngày đêm, mở nhiều cuộc tấn công khác. Hạ Viện Nga cuối tháng 10/2023 còn thông qua một khoản ngân sách quốc phòng cho năm 2024, tương đương với mức 107 tỷ euro, chiếm khoảng 6% GDP của đất nước, tăng 70% so với năm 2023 (3,9% GDP).

    Quyết định này thể hiện quyết tâm theo đuổi chiến dịch quân sự trong dài hạn, một cuộc chiến tiêu hao chống Ukraina. Giáo sư địa chính trị, Carole Grimaud, chuyên gia về Không gian hậu Xô Viết, nhà sáng lập Trung tâm Nghiên cứu về Nga và Đông Âu (Center for Russia and Eastern Europe Research – CREER) tại Geneve, trên làn sóng RFI ngày 09/12/2023 phân tích :

    « Đây là một cuộc chiến tiêu hao. Chúng ta đã thấy điều này ngay từ đầu cuộc chiến. Vào lúc các mục tiêu của Nga không thể đạt được ở miền Nam,chiến sự đã diễn ra ở phía đông đất nước và phía nam với các vùng lãnh thổ bị chinh phục. Cuối cùng, Nga đã đóng quân trên những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng với những tuyến phòng thủ mà rủi thay, họ đã có thời gian dựng lên. Và tình trạng này hiện đặt Ukraine vào thế khó khăn trong cuộc phản công, vốn không mang lại kết quả như chúng ta mong đợi.

    Với 17% lãnh thổ Ukraina bị Nga chiếm đóng, nên đây là một cuộc chiến tiêu hao, một cuộc chiến hiện diện ở nước này. Vào lúc mùa đông đang đến và với thất bại của cuộc phản công, người ta sẽ phải chứng kiến tình trạng này kéo dài trong nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm. »

    Biển Đông, eo biển Đài Loan : Mặt trận thứ ba cho Mỹ ?

    Điều đáng chú ý là trong cả hai cuộc chiến, tuy không cùng tác nhân, không cùng lý lẽ, nhưng đều có sự can dự của Hoa Kỳ. Tại Ukraina, Washington tham gia gián tiếp thông qua các khoản viện trợ vũ khí và tài chính. Còn với Israel, Mỹ can dự trực tiếp qua việc cung cấp đạn dược, triển khai lực lượng khi cho điều hai hàng không mẫu hạm đến Đông Địa Trung Hải và nhất là bằng lá phiếu phủ quyết ở Liên Hiệp Quốc.

    Nhưng Hoa Kỳ có thể « gồng mình » che chở cho các đồng minh đến đâu nếu như có thêm một mặt trận thứ ba ở châu Á ? Các vụ va chạm giữa hải quân Trung Quốc và Philippines tại những vùng lãnh hải có tranh chấp ở Biển Đông trong năm 2023 đã gia tăng đáng kể. Chính quyền Manila xích lại gần hơn với Washington khi quyết định mở thêm bốn căn cứ quân sự cho quân đội Mỹ bố trí vũ khí và luân chuyển quân.

    Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 19/12/2023, giảng viên Laurent Gédéon, trường đại học Sư phạm Lyon giải thích, Bắc Kinh luôn ý thức rằng « Philippines là một nhân tố - và là một tác nhân quan trọng – trong các nước cờ nếu xảy ra xung đột ở Đài Loan. Điều này không chỉ do mối quan hệ đồng minh của Manila với Mỹ, mà còn do vị trí địa lý gần gũi của quần đảo với Đài Loan. »

    Chẳng phải vì thế mà Trung Quốc trắc nghiệm thường trực phản ứng của Mỹ hay sao ? Bài phân tích trên France Inter ngày 12/12 cũng tự hỏi : Đã can dự vào nhiều nơi khác, liệu Hoa Kỳ có thật sự muốn, hoặc có đủ năng lực để can thiệp chỉ vì một hòn đá mang tính biểu tượng ở Biển Đông ?

    Việc rút quân trong hỗn loạn ở Kabul năm 2021 từng bị Matxcơva diễn giải như là một tín hiệu rằng Washington có lẽ sẽ không hành động gì đối với cuộc xâm lược Ukraina xảy ra sáu tháng sau đó. Do vậy, việc bỏ rơi Ukraina ngày nay cũng có nguy cơ đưa ra một tín hiệu tương tự cho Trung Quốc ở châu Á. Đó là chưa kể đến những hành động khiêu khích của Bình Nhưỡng trên bán đảo Triều Tiên.

    Chưa có lúc nào vị thế siêu cường của Mỹ bị thử thách mạnh mẽ như lúc này. Với vai trò là cường quốc hàng đầu, Hoa Kỳ buộc phải liên tục đặt uy tín của mình lên hàng đầu trước mỗi cuộc khủng hoảng, mỗi thách thức từ một cường quốc khác. Nhưng vấn đề thực sự đặt ra là liệu Mỹ có còn muốn giữ thứ hạng này hay không.

    Trong chưa đầy một năm nữa, Hoa Kỳ sẽ tổ chức bầu cử tổng thống. Chiếc bóng của Donald Trump ngày một lớn, và người ta có nhiều rủi ro nhìn thấy sự đối đầu về hai tầm nhìn đối nghịch nhau về thế giới cũng như là vai trò của Mỹ. Bài phân tích lưu ý : Cử tri Mỹ sẽ không bỏ phiếu cho việc ủng hộ hay chống trợ giúp Ukraina, hậu thuẫn Israel hay can thiệp vào Biển Đông, nhưng lá phiếu của họ sẽ có những tác động lớn cho tất cả các cuộc khủng hoảng này !

    11 min
  • Philippines trong vòng xoáy căng thẳng Mỹ-Trung trên vấn đề Đài Loan
    Sau một quãng thời gian « tuần trăng mật » ngắn ngủi, căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines lại dấy lên xung quanh những đảo đá ngầm đang có tranh chấp ở Trường Sa, Biển Đông. Trung Quốc trong năm 2023 không ngừng có những hành động gây hấn, tấn công các tầu Philippines tại những nơi mà Manila cho là thuộc chủ quyền lãnh thổ của mình. Đáp lại, chính phủ tổng thống Marcos Jr. ngày càng tỏ thái độ cứng rắn hơn với Trung Quốc khi tuyên bố « bảo vệ từng milimet lãnh thổ ».
    14 min

About Tạp chí tiêu điểm

From the publisher's feed

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More shows like Tạp chí tiêu điểm

6 Minute English by BBC Radio

6 Minute English

1,811 Listeners

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

222 Listeners

 by RFI Tiếng Việt

15 Listeners

VOV - Tin nhanh 24h by Đài Tiếng nói Việt Nam

VOV - Tin nhanh 24h

3 Listeners

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners